[Độc huyền cầm] 2 – 13 (2)


Chương 13: Cơn dông

 .

 .

.II.

 .

 .

.

 “Thủy lưu vô hạn nguyệt minh đa[1]

.

.

.

nature-1_zpsnvlypudx

Source: Ren Kri

Không sử dụng lại ảnh khi chưa có sự đồng ý của tác giả

.

.

.

Mặt sông nổi cồn sóng nước hết lớp này đến lớp khác, vẽ men theo triền dốc thoai thoải một vệt nâu đỏ kéo dài. Vạt cỏ xanh úa đôi chỗ rậm rạp um tùm, đôi chỗ mới được phát quang vội vàng để lấy nơi dựng tạm một trạm dừng chân. Cơn gió khô khan thổi thốc mùi phù sa ngai ngái, luồn qua khe hở giữa những tấm vải vây xung quanh mấy bộ bàn ghế đã kín người ngồi. Nan quạt vừa ngả theo đường vòng cung gập gọn lại trong tay Hoàng đế, cờ hiệu trên tay quan Trấn điện phó tướng Lê Hán Đình liền phất lên. Trống nổi dồn thúc giục vang khắp mặt sông mênh mông.

-Việc thuyền chở lương thảo của nhà Minh dạt vào An Bang… – Nguyễn Lỗi nghiêng người về phía Tư Thành, thận trọng từng từ – … nếu là lúc khác có khi chỉ là ngẫu nhiên. Nhưng không sớm không muốn lại nhắm đúng lúc này, nếu cứ giữ họ lại như vậy e rằng Đại Minh sẽ có cớ gây hấn ở biên giới phía Bắc.

Đầu quạt đương gõ nhịp liền dừng lại. Liếc mắt nhìn dáng điệu ngoài cuộc của Đinh Liệt, bên khóe miệng nhấn sâu hơn nét cười khi Tư Thành cất lời:

-Khanh hiểu vấn đề rồi đấy. Là đúng lúc này.

Mấy lời can gián, phân tích thiệt hơn chuẩn bị cả tối hôm qua bỗng dưng chẹn ngang miệng Nguyễn Lỗi không sao thốt ra được. Ông nóng ruột đánh mắt tìm sự đồng tình từ Đinh Liệt nhưng chỉ thấy sự chăm chú của vị tướng đứng đầu võ quan hướng đến đoàn thuyền chiến đậu đầu mặt sông, nhâp nhô theo sóng nước dập dềnh.

-Các quan mỗi người mỗi lý nhưng quyết định thế nào là ở phía quan gia.

Nguyễn Cư Đạo thong thả lên tiếng, vừa trông thấy vẻ mặt bực bội của Nguyễn Lỗi liền nhẹ cúi đầu không biết vì muốn tự nhận mình nhiều lời hay còn ý gì. Đám văn nhân ưa trò lấp lửng nên ra buông một câu, vào nói một câu đã đành, đằng này đến Đinh Liệt mới hôm qua còn đứng về phía Nguyễn Lỗi mà giờ cũng làm như không nghe không thấy. Bàn tay nắm lại, ông dợm đứng lên thì thấy tay áo bị người bên cạnh kín đáo giật lại. Trông cặp mắt bình thản nhưng dựng nên cảm giác sừng sững như núi đá của Thái sư Đinh Liệt, người đàn ông ấn người xuống ghế, toan hé miệng thuyết phục nhưng cuối cùng lại im bặt. Ngài Thái sư không quay sang, chỉ hơi nhúc nhích hàng ria:

-Ông nghĩ đi, là thăm dò.

“Thăm dò”, hai từ ấy lặp đi lặp lại theo tiếng trống lúc mau lúc thưa dẫn nhịp tiến thoái của thủy quân. Đó chẳng phải là nỗi lo của Nguyễn Lỗi sao? Quan gia tổ chức duyệt binh, còn nhân lần này về Lam Kinh bái yết mà dừng lại ở các hành cung gần sông Vi, sông Thiên Phái, sông Hoàng… để duyệt trận đồ. Mới rồi Đại Việt còn xuất hơn nghìn quân thảo phạt Ai Lao. Đã rình rang như thế không sợ người ta không biết, nay lại ngang nhiên bắt giữ thuyền lương của Đại Minh, chẳng phải có ý…

-Ông hiểu rồi? – Nhìn vẻ mặt sượng cứng của người ngồi cạnh, Đinh Liệt thở ra một hơi – Quan gia đã quyết nên chúng ta chớ nhiều lời. Đáng quan tâm là việc trước mắt kìa.

Cờ xí co cụm lại khi đoàn thuyền chiến tiến lùi mới được một lúc đã ách lại trên mặt sông như kiến chạy mưa rào, không nhìn ra đâu có ý thủ, chỗ nào có ý công. Vừa chớp mắt, quang cảnh dàn trận tăm tắp hào hùng khi nãy giờ vỡ toác, lạc lõng bên tiếng trống vẫn thì thùng nhịp nhàng. Tiếng xì xào nổi lên như sấm mưa phía trời xa khi một mũi thuyền chiến đương lùi lại thì húc mạnh vào mạn phải của chiếc sát cạnh. Có người nóng ruột nhấp nhổm không yên, có người ái ngại suy nghĩ thiệt hơn nhưng cũng có kẻ nghiêng mặt che miệng cười hả hê khi thấy mồ hôi mẹ nối mồ hôi con lăn trên gương mặt tái nhợt cuống cuồng của phó tướng Trấn điện Lê Hán Đình. Cờ lệnh vung lên không làm cục diện rối tinh trên mặt sông được tháo gỡ. Nuốt nước bọt xuống cổ họng khô đắng, ông ta len lén ngoảnh lại nhìn. Hoàng đế tựa nghiêng người bên chồng gối xếp, tự tay châm trà. Dường như sự chăm chú của bá quan khiến Tư Thành giật mình nhìn lên, chàng đảo mắt, mỉm cười:

-Lần đầu thể hiện nơi ngự tiền nên không tránh khỏi căng thẳng chuệch choạc. Khanh cứ bình tĩnh. Đứng đây không xong thì xuống hẳn bến thuyền bảo ban binh sĩ. Chức phó tướng Trấn điện của khanh do trận đồ này mà có. Trẫm không quan tâm quá trình, chỉ muốn nhìn kết quả.

Sau ba bốn bận trận đồ vẫn không thành. Đoàn thuyền chiến chỉ cần tiếng trống nổi lên liền biến thành những con thú lớn bất trị, đùn đẩy nhau như muốn tháo chạy. Mấy vị ngồi trong doanh trướng vừa nghe tiếng động truyền đến từ cái sập thếp vàng đã rúm người lại. Nước trà sánh đầy ra mặt kỷ gỗ khi Tư Thành đập mạnh cái chén xuống.

-Còn giương mắt nhìn hai tên hề kia diễn trò?

Gió lộng cũng không làm khô nổi mồ hôi túa ra ướt đẫm lưng áo, nhuộm thẫm sắc quan phục những kẻ liên quan. Quỳ hàng đầu là tác giả của bộ trận pháp vừa bị cấm quân gô cổ tới, ai nấy tóc tai rối bù, cờ hiệu, dùi trống hãy còn nắm trong bàn tay run rẩy lập cập. Nóc trướng vàng phồng lên rồi xẹp xuống, cờ tán phần phật tung bay lấp đầy khoảng tĩnh lặng căng ra theo chiều dài của bến bờ sông nước. Tư Thành khoanh tay trước ngực, mi mắt khép lại để hai vệt bóng mờ không hề lay động:

-Phó đô ngự sự còn nhớ lời những kẻ này từng tâu không?

-Tâu quan gia – Không liếc nhìn bất kì kẻ nào đang quỳ bên dưới, Cư Đạo chắp tay thưa – Lúc Chỉ huy sứ Đào Bảo tiến cử có nói, tuy Hán Đình phạm tội tham ô khi đương chức chuyển vận sứ[2] nhưng lại là kẻ giỏi binh pháp. Thế nên, hắn muốn cùng Nguyễn Đức lấy công chuộc tội, liền ngày đêm ngẫm nghĩ, cơm không ăn nước không uống, tra cứu trăm pho sách quý, ngàn ghi chép cổ để soạn ra trận đồ dâng lên quan gia ngự lãm.

Cư Đạo đều đều thuật lại từng chữ nhưng có kẻ sau lưng lại giật nảy như phải đòn roi. Cây quạt trên tay Tư Thành dựng lên làm ngài Phó đô ngự sử ngừng lời, bước lùi sang bên nhường lối.

-Hồi bẩm quan gia… – Hán Đình dập đầu ba cái, phô tấm lưng run rẩy trước long nhan – Xin quan gia niệm tình thần và Nguyễn Đức vì nóng lòng muốn giúp sức cho nước nhà… mà vô tình gây lỗi…

-Khởi bẩm quan gia, việc lập trận đồ thủy quân vốn không dễ dàng, sơ sót khó tránh khỏi. – Chỉ huy sứ Đào Bảo vén vạt áo lết đầu gối tới – Thần trộm nghĩ hai vị đây không có công thì cũng có sức cải tạo trận đồ lỗi thời. Cúi xin quan gia niệm tình trung quân ái quốc đặng về sau khuyến khích người tài ra giúp dân giúp nước!

-Giỏi! – Tư Thành vỗ nhẹ lên mặt sập rồi đứng dậy – Trẫm ở ngay đây mà không nhìn ra ý tứ thâm sâu nhường ấy. Nếu tin này báo về Đông Kinh, chắc trẫm phải ban thưởng thật hậu mới đúng… Ngươi nói vì trận đồ trước đây cũ kĩ nên giờ thứ gì mới mẻ dâng lên cũng thành trân châu bảo ngọc? Khen cho ba tấc lưỡi đổi trắng thay đen!

Sau lưng Nguyễn Cư Đạo, Hộ bộ thượng thư Trình Phong nhẩn nha:

-Xưa nay người lao tâm khổ tứ vì bách gia trăm họ không ít, nhưng chưa từng nghe vị nào kể lể cực nhọc, cân đong đo đếm xem đã đọc qua bao nhiêu sách thánh hiền. Càng chưa biết có kẻ tham ô sợ tội mà xin từ quan trước, bỗng chốc đã thành hiền tài quốc gia. Quan gia mến chuộng kẻ có học, đó là phúc của thiên hạ. Nhưng lợi dụng điều ấy kiếm đường cầu may chẳng phải khinh thường long nhan, uổng phí tiền thuế của dân chúng?

Bắt được ánh mắt của Trình Phong, Nguyễn Đình Mỹ vân vê chòm râu, thở dài:

-Thần nghĩ lời của Chỉ huy sứ Đào Bảo có lý. Cái gì mới mẻ cũng phải qua thử nghiệm, chỉnh lý mới thành thục được. Có điều… thần nhớ từ lúc dâng trận đồ đến nay đã hai năm, quan gia lại hạ lệnh cho quân sĩ tập theo từ lâu. Nếu thực có sự khiếm khuyết thì sao không sửa đổi, sao không trình báo? Những thiên tinh, nhạn hàng, liên châu, yển nguyệt[3] kia chỉ là đống mỹ từ vô dụng. Lúc tiến cử, ngài Đào Bảo nhanh lắm mà, ca ngợi như thể cổ kim chưa từng có nên cần lập tức thi hành, giờ sao lại câm như hến thế? Nhẹ thì vì tắc trách, hám danh; nặng thì khinh nhờn thiên uy, cả gan nghĩ quan gia không bao giờ duyệt kiểm nên muốn lộng giả thành chân.

-Nói đến tư tâm hay vì muốn khuyến khích người tài thì xa quá. – Nguyễn Như Đổ tiếp lời, nụ cười ẩn sau hàng ria rậm – Không biết có vị nào đủ sức ngăn tin tức truyền đi, lấy lại thể diện của Đại Việt trước sứ thần Thẩm Phác Lặc Sa của chúa Chiêm không?

Một câu nói sai đã không thể cứu vãn, đằng này… Đinh Liệt mím miệng, quét mắt nhìn những kẻ đang quỳ bên dưới. Bản thân ông cũng tỏ kết cục ngay từ đầu, lại thêm lời đám quan văn lần này hoàn toàn có lý, đánh trúng vào thế trận Hoàng đế đang dàn quân. Vứt bỏ một hai kẻ tiểu nhân cũng chẳng hề tổn hại, quan trọng vẫn là đại cuộc. Vừa lúc ấy, một bóng người nhanh nhẹn theo sau Đức Vượng lách vào bên trong doanh trướng, gấp gáp quỳ xuống:

-Khởi bẩm quan gia, Hành tổng binh Khuất Đả cấp báo giặc Ai Lao vừa nghe thanh thế Đại Việt liền chưa đánh đã trốn chạy, lập tức xin dâng trả đất đai chiếm giữ!

Cánh thư đưa tới được Tư Thành cùng các đại quan chuyền tay đọc kĩ. Giữa những tiếng chúc mừng giòn giã, xưng tụng quan gia anh minh thần vũ, cả Cư Đạo lẫn Đinh Liệt đều lặng lẽ nhìn bên khóe môi nhích lên chứa nỗi châm biếm thất vọng mơ hồ đằng sau sự hài lòng của Hoàng đế. Vẻ cứng nhắc ấy tan ngay khi Tư Thành ban thưởng cho tên lính chạy trạm. Phẩy tay về phía Thái sư, chàng uể oải:

-Hai tên kia phạt trượng rồi đuổi về quê. Còn những kẻ bày trò tiến cử bậy bạ, cứ theo phép mà biếm chức.

.

.

.

***

.

.

.

Tin thắng trận thần tốc của Khuất Đả vừa báo về, ngay tối đó Thừa tuyên sứ Phạm Du cùng quan tri phủ Nguyễn Tự đã kịp thu xếp một dạ yến nho nhỏ ngay tại nhiệm sở. Chắp tay sau lưng đi qua những dãy bàn bày đầy bát đĩa đựng thức ăn mới nấu, Đức Vượng thỉnh thoảng nghiêng người ngửi thử, chốc chốc lại ra hiệu cho đám người làm tại trị sở Thiên Trường dâng lên cho mình thử trước. Tay hoạn quan phải thừa nhận trong thời gian gấp rút lại gặp đúng lúc hạn hán mất mùa, hai vị quan kia có thể tổ chức tiệc mừng công tươm tất thế này là rất đáng khen. Hít hà mùi mỡ bẽo ngậy lăn theo lớp bì lợn nướng giòn phồng lên chuyển sắc cam nâu bóng lưỡng, Đức Vượng gật gù ra vẻ hài lòng. Chữ thể diện không nhẹ, nhất là khi có mặt sứ thần Chiêm Thành ngay đây.

Tự mình bưng lấy một bình rượu, gã hoạn quan quay trở lại gian chính đúng lúc Thái sư Đinh Liệt bước về phía quan gia. Không cần Tư Thành ra hiệu, hắn lặng lặng bước tới rót đầy hai chiếc chén không trên bàn.

-Khanh vẫn canh cánh chuyện thuyền lương của Đại Minh? – Nghiêng người cụng chén rượu của mình vào vật trong tay Đinh Liệt, Tư Thành mở lời trước không chút vòng vo.

-Thần nghĩ lo lắng của Nguyễn Lỗi không phải không có cơ sở. Xưa nay muôn tìm cớ gây hấn vốn chẳng khó gì, tuy là muốn biết thái độ của Đại Minh nhưng…

Miệng chén kề dưới môi Tư Thành nhưng chưa nghiêng đổ. Mi mắt hơi hạ xuống phủ lên đôi đồng tử đen thẫm một tầng bóng mờ.

-Hữu tướng quốc từng nói một câu mà trẫm rất thích. Đó là dù làm việc gì cũng tuyệt đối không được đẩy bản thân vào chỗ không còn đường lui… Nói mới nhớ, Ngô Quân và đám người của Lê Hoằng Dục sắp về Đông Kinh. Hôm qua, hắn gửi bồ câu báo thuyền buôn Tô Vấn Đáp Lạt[4] đã vào hải phận nước ta.

-Họ lại muốn dâng vật phẩm?

Đinh Liệt hỏi lại, trong bụng nghĩ thầm “vật phẩm” kia không thể chỉ là từng hòm lèn chặt vải dệt tay với hoa văn lạ mắt hay những món nữ trang vàng ròng cẩn đá quý tinh xảo hiếm gặp. Không ngoài dự đoán của ông, nét cười trên gương mặt Tư Thành chỉ sâu hơn khi chàng ngoảnh nhìn xuống dưới, chăm chú hòa vào cuộc bình thơ bình văn nào đấy. Ngô Quân vẫn đang ở Chiêm Thành, tuy việc người đó làm có bàn bạc với Đinh Liệt nhưng đến cuối cùng lại chọn tai mắt của Lê Hoằng Dục hỗ trợ. Suýt chút nữa trong buổi biến thiên, người ta quên mất vị Lễ bộ thượng thư cũng trải mấy đời vua ấy. Suýt chút nữa người ta quên mất Hoằng Dục không chỉ có cái lưỡi biết đối đáp sứ thần, càng không phải chỉ có cái bóng khai quốc công thần của ông cụ thân sinh.

-Quan gia đã mệt mỏi suốt mấy tuần nay. – Đức Vượng đi theo Đinh Liệt về phía bàn tiệc, nhỏ giọng nói trong lúc đưa mắt nhìn từng người đang ngồi bên bốn dãy bàn kê dọc lối đi. – Không ít người muốn làm ngài ấy vui.

-Nói cũng phải! – Đinh Liệt vuốt chòm râu, tự ép mình thở ra một hơi – Ngươi xem có phải sắp có thêm chủ nhân mới ở hậu cung rồi không?

Chẳng đâu có sự vô tình. Trước long nhan càng khó có sự ngẫu nhiên. Tin thắng trận của Khuất Đả làm nhiều người được lợi, như cô con gái Thừa tuyên sứ Phạm Du kia chẳng hạn. Đó là một thiếu nữ đẹp, nhưng trước cả nhan sắc kia là giọng nói ngân nga như có nhạc, trôi chảy đàm đạo chuyện mấy nhà thơ nữ phương Bắc đến âm luật, thư họa với quan gia.

-Nhân nói đến đó… – Tư Thành ngắt lời, thoáng chau mày suy nghĩ – Nàng có biết chuyện người đàn bà họ Vũ bên bờ Hoàng Giang không?

-Dạ? – Cô gái ấp úng khi đột nhiên mọi sự chuyển hướng sang một lời đồn đại nào đấy. Vẻ bối rối thẹn thùng làm gò má thoáng nhợt sắc rồi lại thoáng ửng hồng khi nàng vội quỳ xuống cung kính.

-Trẫm chỉ vui miệng hỏi, sao nàng phải hành đại lễ?

Tư Thành bật cười, nheo nheo mắt trông xuống. Vẻ ôn hòa ấy của chàng tựa dòng nước ấm áp bao lấy những giác quan non mềm như búp lá vươn lên đón nắng trời. Thiếu nữ hơi nâng người lên, chậm rãi nói:

-Thần nữ hiểu biết nông cạn nên làm hỏng nhã hứng của quan gia. Trong lòng tự thẹn nên không dám nhìn thấy long nhan.

Thoáng ngạc nhiên tan theo hương rượu nhàn nhạt khi Tư Thành đón lấy chén rượu khác từ tay Đức Vượng. Một bên lông mày nhíu xuống, chàng thở dài ái ngại:

-Nàng đã có lòng, trẫm không cản được. Cứ quỳ đến khi nào nàng thấy đủ đi vậy… Thật đáng tiếc!

Ba chữ “thật đáng tiếc” gieo vào khoảng không cái tĩnh mịch sượng sùng đến mức người ta chỉ biết trơ mắt nhìn theo bóng áo gấm của Hoàng đế xa dần rồi mất hút sau khúc ngoặt. Đức Vượng quýnh quáng chạy mới theo kịp bước chân của Tư Thành. Hắn thắc thỏm. Có những khi hắn không đoán ra chủ nhân đang vui hay buồn, đang tức giận hay đang muốn trêu đùa. Mà cũng chẳng phải, tâm trạng của Hoàng đế vốn chưa bao giờ dễ miêu tả bằng đôi từ ngữ đầu môi. Đáng tiếc? Là thứ gì đáng tiếc? Hắn không rõ, chỉ biết cô gái kia ắt phải sợ hãi và ê chê lắm. Đức Vượng chỉ có thể thầm thở phào khi thấy Tư Thành ra hiệu cho hắn lui ra sau khi tay hoạn quan đặt giá nến mới lên án thư, cạnh những tấu chương, thư tín vừa chuyển đến. Bàn tay mới đặt lên mép cửa, sau lưng vang lên giọng nói đều đều:

-Sáng sớm mai, ngươi bảo nàng ta có thể đứng dậy rồi đi gọi Phạm Du đến gặp trẫm.

Ấm trà mới hãm không biết nguội ngắt từ lúc nào. Gác cây bút lông nhuộm mực son, Tư Thành nâng cao tay rót trà, ngẫm ngợi vị chát lạnh xít lại nơi cổ họng khi nhìn khoảng sáng mờ đổ xuống sàn gạch trước mắt. Đêm ấy hình như lạnh hơn thế này nhiều, khi chàng ngẩng lên, nàng ta vẫn đang quỳ ngay đó không chút suy suyển.

“Thỉnh tội gì?”

“Làm mẹ mà mặc con mình bị đánh đã không thể tha thứ. Đây thần thiếp lại để con trai của quan gia bị tiện dân hà hiếp… thế là hai lần bất kính.”

Ngả người trên lưng ghế, Tư Thành nhắm mắt, ngón tay xoa những khớp xương nhô lên trên bàn tay trái hơi nắm lại. Ánh nến ngày đó chỉ lan đến đầu gối Hải Triều, hắt vạt sáng mờ thảng hoặc lay chạm đến tầng nước lưng chừng trong đôi đồng tử xa vắng. Không bao giờ dối trá, chỉ là không nói hết. Không bao giờ lừa gạt, chỉ có nhất nhất phục tùng. Đó lần đầu tiên cô ta thật lòng nhiều đến thế, thật lòng hơn tất cả những lời trước nay, thay vì sự hiện hữu lễ độ có qua có lại được móc ngoặc lỏng lẻo với khung cảnh xung quanh. Bởi đã rất lâu từ lần đãi yến ở điện Vạn Thọ, Tư Thành mới thấy lại dáng vẻ ấy của Hải Triều. Một ánh mắt như biển đêm tan sóng vào muôn trùng khơi, một ánh nhìn chứa toan tính e dè của người đang sống.

Ngón trỏ vẽ một vòng tròn theo mép chén.

Tất thảy chỉ là phép thử.

Ngọn lửa lay động làm cái bóng in trên bức tường rung rinh. Hải Triều không có trái tim, hay nói đúng hơn một thứ khiếm khuyết đến chừng nên tính là có hay không? Mà dù thế nào, vật méo mó ấy nên dành cho người khác, còn thứ Tư Thành cần chàng đã đoạt được rồi. Toan tính có nhiều đường, không phải lúc nào cũng là vị kỷ. Nghiêng đầu, cái bóng trên tường liền nhìn lại chàng trong im lặng. Chàng cười, liệu nó có cười không?

.

.

.

***

.

.

.

Trên khay gỗ bưng tới ngoài trân châu, san hô, đôi vòng cẩn ngọc cùng cây trâm hoa nở xòe năm cánh lớn, còn có cả loại vải tiến cống nhìn qua chỉ thấy sắc tím như hoa bìm bịp nhưng nghiêng dưới nắng lại thấy dệt ẩn những sợi tơ vàng lóng lánh. My Hoàn liếc nhìn thêm một lượt nữa từng món đồ cống phẩm rồi quay sang người phụ nữ mới ngồi ấm chỗ:

-Làm phiền Sung nghi đến tận đây.

-Tu viên đang chăm con nhỏ nên quan gia nói thần thiếp tiện đường thì mang đồ tới. Lệnh bà không cần khách sáo. – Hải Triều nghiêng người nhìn xuống cậu bé đang say ngủ trong nôi, vuốt nhẹ lên nắm tay của nó.

Trông đôi lông mày dãn xuôi theo nét cười dìu dịu như tơ nắng, Mỹ Hoàn định nói gì lại thôi, tặc lưỡi xa gần:

-Sung nghi cũng đang có thai mà phải làm mấy việc cỏn con thật khiến thần thiếp áy náy… Để người phải đợi rồi, ban nãy Bạch Lan thần thiếp thất lễ, xin Sung nghi thứ cho.

Ngẩng lên khi chén nước trắng được cô cung nữ đưa tới thay cho chén trà khi nãy, Hải Triều mỉm cười cầm lấy, không quên lắc đầu trước thói quen rào trước đón sau kín kẽ của My Hoàn.

-Sung nghi tha cho mi rồi đó, còn không mau tạ ơn! Hắn ở trong cung đã lâu mà răng không học được thứ chi đàng hoàng như Ngọc Hồ bên nớ. Để Sung nghi cười chê rồi. – Môi cong lên gợi dăm lời chuyện phiếm, chợt Phạm thị liền sẵng giọng  –  Mi tính đi ? Ra xem quần áo phơi đã nỏ[5] chưa thì gom vào!

Không ngoài dự đoán, chén nước vừa cạn, Nguyễn thị cũng đứng dậy xin phép ra về. Mái tóc dài đổ xuống qua vai khi My Hoàn khom người vỗ về hoàng tử bé đang ọ ẹ vì tiếng người lớn chuyện trò. Liếc nhìn gấu váy hơi trùng xuống theo cái khom lưng của người đối diện, đuôi mắt đưa một đường thật ngọt men theo bàn tay khép lại đặt trước bụng, rồi đến nét mặt ơ hờ của kẻ mới trút bỏ được “trách nhiệm” xã giao ở đâu gieo xuống.

-Giờ mới để ý, đến cả cung Chiêu An này Sung nghi cũng chưa từng chủ động lưu lại quá một chén trà bao giờ… Cũng phải, quan gia hồi kinh, Nguyễn Tài nhân hạ sinh hoàng nam, nay hai người đàn bà ở cùng một chỗ nếu không phải mỉa mai, thóa mạ lẫn nhau thì ắt đang tính kế hãm hại kẻ khác, mưu lợi cho mình.

Thái độ của người phụ nữ kia My Hoàn không xa lạ gì, vẫn hệt như lần đầu gặp gỡ, sau thoáng ngỡ ngàng đã chuyển sang ánh mắt của kẻ đứng ở nơi xa ngoảnh lại, thâu lấy toàn cục. Chỉ không biết chữ toàn cục của nữ nhân có thể rộng dài đến đâu. Khép lại vạt áo cho con, đầu móng tay trỏ ấn xuống ngón tay cái khi đôi môi vị Tu viên mấp máy thành tiếng, cố bắt lấy vạt áo phất lên khi Nguyễn thị xoay lưng bước về phía cửa:

-Sung nghi còn nhiều việc, cung Chiêu An không dám giữ chân. Lệnh bà muốn đứng ở nhìn xuống, thần thiếp không có gan nhiều lời. Rứa mà… lệnh bà chớ quên gốc rễ, người mình bên ni chứ răng phải bên .

Đôi mày liễu nhíu lại trước khoảng nắng tháng ba mỏng mảnh như tấm vải the xao xác trước gió xuân, lọt vào bên trong tẩm cung qua khung cửa mở rộng. My Hoàn lắc đầu, nàng vẫn tự cho mình là kẻ thông minh nhưng chẳng có kẻ thông minh nào lại nhiều lời như vậy. Miết theo vòng vàng trên tay con trai, thiếu phụ không nhìn lên cũng biết ai bước vào.

-Cái đồ mất gốc! – Bạch Lan hậm hực dằn mạnh nong lá thuốc xuống bàn – Lệnh bà xem vẻ mặt hắn lúc đó làm như không hiểu tiếng Thanh Hoa ấy. Học được dăm thói kinh kì mà kênh kiệu, quên tiệt quê hương bản quán.

-Trong hậu cung này, kẻ nào dám không theo lề thói Đông Kinh? Chớ quên Cung thành là của quan gia, mà quan gia thì… – Một bên lông mày My Hoàn nhướn lên làm cô cung nữ im bặt. – Không phải mi nghe ngóng được Nguyễn Sung nghi rời trang Gia Miêu ngoại đã lâu sao?

Có chuyện thế này đồn đại nơi thâm cung mà người thì cho Nguyễn Đức Trung nhìn xa trông rộng, kẻ lại bảo ông ta chó ngáp phải ruồi. Số là cô con gái thứ hai kia từ nhỏ đã đau ốm khó nuôi nên phải bán khoán vào chùa. Cha mẹ thương con nên vừa nghe ông thầy tướng phán thêm rằng vận số ái nữ thứ hai phải tha hương mới được vẹn toàn, vợ chồng Nguyễn Đức Trung vội gửi con cho người họ hàng ở Đông Kinh nuôi giúp.

Đầu ngón tay My Hoàn lướt qua chữ “phúc” khắc mặt trong cái vòng, nét nào nét ấy được quan gia khen tuyệt khéo, người còn bảo Phạm Tu viên đối đãi thế nào lại khiến Nguyễn Sung nghi dốc lòng vì một món quà đầy tháng đến thế. Vật quý vốn không ở bạc vàng, bảo thạch, đó là điều nàng học được ở chốn cung cấm này dù thực lòng, My Hoàn không hiểu thứ con trai đeo trên tay có điểm nào tinh xảo hơn những món đồ của nghệ nhân cục Bách Tác như lời quan gia nói.

Bạch Lan có lý của riêng mình, nhiều người cũng nghĩ như hắn. Thanh Hoa là đất đế vương dấy nghiệp, một lời cất lên cũng thành cao thấp nữa là sinh hoạt thường ngày. Mấy nhà thế gia gốc gác Thanh Hoa, có nhà nào vì ở Đông Kinh mà bỏ bê lề lối quê hương bản quán. Thế nên, My Hoàn không tin vị Sung nghi kia có thể xa lạ từ lời ăn đến nết ở nhường ấy. Cái xa cách lãng quên có vẻ hợp lý hợp tình kia không biết từ bao giờ gieo vào lòng nàng sự hồ mỗi lúc một lớn. Người ta cần bao lâu để quên? Không phải… Nói đúng ra nếu không phải người gốc thượng kinh thì phải mất bao nhiêu năm tháng để thành một phong thái như thế?

Đầu đao vút cong của cung Chiêu An khuất sau ngã rẽ nhưng không cắt đứt nổi suy nghĩ của Ngọc Hồ. Nàng chỉ giật mình khi bàn tay bị Nguyễn Sung nghi vỗ nhẹ.

-Không phải bây giờ Phạm Tu viên mới ngờ ngợ chuyện đó. – Hải Triều gài lọn tóc qua mang tai, mỉm cười với cô cung nữ đi sát cạnh mình – Em đừng mang vẻ mặt như vậy, hãy còn quan gia mà.

Sững người nhận ra bản thân mình bỗng nhiên thành người được trấn an, Ngọc Hồ ngước mắt nhìn lại thiếu phụ, môi đã hé nhưng cuối cùng lại chẳng thốt được nên lời. Nàng chợt lo Vĩnh Ninh rồi Đông Cung nghiêng ngả vì thói tọc mạch, ghen ăn tức ở của hậu phi. Thế mà có lúc nàng còn tự mãn trước mặt Ngô Quân rằng mình chẳng bao giờ vướng phải nỗi băn khoăn, rối rắm quanh cô gái tên Nguyễn Hải Triều như anh ấy. Giang sơn nữ nhân càng lúc càng xa khỏi hình dung ban đầu của nàng. Xa bởi người bên cạnh chưa bao giờ vật lộn, tranh đoạt với những người phụ nữ khác trong cái thế giới mà như năm xưa Phạm My Hoàn từng bóng gió: Ai cũng phải lựa lấy một phe. Xa còn bởi trong một khắc, cô gái đã vô tình quên quyền uy tối thượng của Hoàng đế đương nhiên trùm phủ lên mọi toan tính đàn bà.

-Mẫu thân! – Tiếng gọi háo hức vừa vang lên, trong một chốc thân hình bé nhỏ của Hoàng thái tử đã chạy ào tới, ôm chầm lấy Hải Triều. – Mẹ xem phụ hoàng thưởng cho con thứ gì này!

Sợi dây đeo có miếng ngọc to bằng ngón tay người lớn nhưng tạc chìm hình rồng cuộn đung đưa trên cổ Lê Tranh khi thằng bé chắp tay sau lưng, diễu qua diễu lại mấy bước trước mặt nàng. Bật cười thành tiếng vì điệu bộ ông cụ non của nó, Hải Triều kéo tay đứa bé về phía mình, hỏi:

-Sao con được thưởng?… Không nói… Mẹ lại phải đoán à?

Nàng còn chưa kịp đáp lại vẻ đắc thắng của Tranh, đằng sau bụi cây đột ngột vang lên tiếng xô đẩy rồi tranh cãi. Nói vậy cũng không đúng, cãi cọ phải có ít nhất hai phe, đằng này chỉ nghe thấy một giọng bán nam bán nữ đay nghiến:

-Giỏi nhỉ? Loại như ngươi cũng dám tranh giành với chủ nhân nhà ta? Rõ ràng thấy chủ nhân thích thứ này nhưng vẫn ngang nhiên chiếm lấy, ngươi định ngông ngênh với ai? Khóc? Khóc to lên cho ta xem!

-Ta không cho ngươi đánh chị ấy! – Một giọng non nớt run run chen ngang – Ta… vì ta thích nên chị ấy mới lấy về. Với cả, Hoàng tổ mẫu bảo ai muốn thứ gì cũng có thể chọn, tại sao ngươi lại… ngươi lại…

Hải Triều gạt mấy nhành cây nhìn cho rõ, xem ra sự xuất hiện của đứa trẻ kia làm tay hoạn quan bối rối trong chốc lát. Hắn liếc cậu nhóc, chính xác là liếc chiếc áo phẳng phiu cắt may rất khéo bằng gấm màu lá mạ như thể tính toán nặng nhẹ thiệt hơn. Ưỡn ngực đứng thẳng, đến lượt cái miệng mỏng nhếch lên như thể hắn chẳng nghe thấy gì.

-Chỉ là con của một ả hầu, ngươi đừng tưởng dựa vào ân điển của đức Quang Thục mà có thể coi như mù câm điếc trước lề luật nội cung. Chớ quên thấy chủ nhân xuất thân Thanh Hoa thì phải cung kính lùi ba bước, phải…

Trao đổi vài lời với Ngọc Hồ, hóa ra Hải Triều không sai khi nghĩ khu vườn nhỏ này nằm cách cung điện của Nguyễn Tài nhân không xa. Nàng ấy là người Từ Liêm, cha vừa thăng đến Hộ bộ thị lang, bản thân lại vừa hạ sinh hoàng nam hãy còn đỏ hỏn, tất cả quá đủ thành lý do cho màn chỉ gà mắng chó này. Nghĩ đến cảnh người này chột dạ, kẻ kia tị hiềm, Hải Triều định lùi bước tránh sang phía khác thì Lê Tranh lại sấn về phía tay hoạn quan. Thằng bé đứng án trước mặt cậu nhóc kia, lớn tiếng quát:

-Hỗn láo!

-Thần không dám! – Gã sụp quỳ, không quên đưa ánh mắt nửa ghét bỏ nửa cảnh cáo về phía cô cung nữ và đứa trẻ kia trước khi phân trần – Thần chỉ đang dạy dỗ kẻ dưới về quy định trong cung thôi, thưa Điện hạ.

-Hoàng huynh! – Cậu nhóc nhệch miệng bật khóc tấm tức không rõ vì tủi thân hay vì mừng rỡ.

Trên nền cỏ xơ xác xanh vàng là mấy cái bánh rán con con nằm vung vãi, lớp mật nâu đỏ giòn xốp vỡ tan vì bị ai xô hất. Nhớ hôm nay Hoàng thái hậu cho gọi các hoàng tôn đến nói chuyện, Hải Triều bất giác thở dài khi tấm lòng của bà cuối cùng lại đưa đến việc này.

-Quy định gì mà đến ta còn không biết vậy?

Câu hỏi hơi cao giọng của Nguyễn Sung nghi khiến tay hoạn quan lập bập mấy tiếng rời rạc trong miệng. Hắn ngạc nhiên khi vị Sung nghi kia không hiểu vì lẽ gì lại quay sang vặn hỏi quy định ngầm trong Cung thành, cái quy định mà nhờ nó, vì nó, cô ta có thể đoạt được vị thế cao ngạo khiến bao người vừa thèm muốn vừa ghét bỏ.

-Người nhìn kĩ xem, đây là con ai? – Chỉ vào đứa bé đang được Tranh dỗ dành, nàng cau mày, cười nửa miệng.

-Dạ… là… là hoàng nam của quan gia với…

-Thế mà ta tưởng ngươi mù. – Cây quạt xòe rộng phe phẩy theo nét hoảng hốt mỗi lúc một dày thêm khi tay hoạn quan kéo tay áo chấm mồ hôi túa ra trên trán. Nàng nhẩn nha – Phận tôi đòi mà dám trèo lên đầu lên cổ chủ nhân, ngươi nuốt bao nhiêu mật gấu, chủ nhân của ngươi ăn bao nhiêu gan hùm rồi? Muốn phân bua thì nói với Tổng quản nội cung, Thượng Phúc lôi hắn đi!

Đôi mắt sưng đỏ vì khóc, chóp mũi chùi qua chùi lại trong tấm khăn tay ửng hồng lên. Cái miệng hé ra như định nói gì nhưng chỉ nghe thấy từng tiếng nức nở ngắt quãng, càng muốn nói càng không cất được thành lời làm cho nước mắt lại ngấp nghé bờ mi. Một đứa trẻ giữa Cung thành đã là quý giá, đây lại đường hoàng sinh ra một hoàng nam, nhưng thói đời trớ trêu khi nàng hầu vẫn chỉ là nàng hầu, là nhân vật trong lời bàn tán giữa đám cung nữ, hoạn quan hay thậm chí đến cả cung tần. Có người nói, kẻ không an phận kia muốn dùng nhan sắc để đổi đời lại gặp đúng vị Hoàng đế rất biết phong lưu. Phần khác tuy không dám thốt ra miệng nhưng trộm nghĩ nhà vua bạc bẽo chi li, trong khi vẫn thở phảo an ủi vì mình còn dòng họ sau lưng.

-Không khóc nữa! – Vỗ nhẹ lên đầu đứa bé chỉ thấp hơn mình chút xíu, Tranh phồng má ngẫm ngợi rồi mới ôn tồn – Anh nhắc lại, em là chủ nhân còn bọn họ đều là kẻ dưới. Có anh, có Hoàng thái hậu, có phụ hoàng ở đây, không ai cho chúng quyền bắt nạt em hết! Nam nhi đầu đội trời chân đạp đất, em mà khóc thì lấy ai bảo vệ mẹ mình?

Sai Ngọc Hồ đến ngự trù lấy mấy chiếc bánh mới bù vào chỗ đã rơi xuống đất, Hải Triều gật nhẹ đáp lại cái dập đầu cảm tạ của cô cung nữ đi theo đứa bé kia. Cô ta ngạc nhiên không chỉ bởi sự việc ào qua như cơn gió đổi chiều mà còn vì sự tử tế trên trời rơi xuống của Sung nghi Vĩnh Ninh. Có điều, không chỉ mình cung nữ ấy nghĩ vậy. Hải Triều xoay người đáp lại tiếng chào của bà cung nữ đi theo Nguyễn Tài nhân, người tránh mặt quan sát từ đầu nhưng cuối cùng vẫn vì phép tắc mà hành lễ với nàng khi màn dạy bảo đã đến hồi kết.

-Kính mời Sung nghi vào trong. Tài nhân đi lại không tiện nên đành thất lễ, xin lệnh bà bỏ quá cho. – Hai bàn tay chắp lại theo cái khom mình, người phụ nữ liếc nhìn qua đám người trong vườn rồi mới dẫn lối, mau miệng – Nô tì thay Tài nhân cảm tạ Sung nghi đích thân đưa đồ ban thưởng của quan gia đến tận đây thế này.

Cây quạt đương phe phẩy nhè nhẹ liền ngưng lại, khóe miệng nàng nhếch lên ngọt ngào:

-Lòng thành của Nguyễn Tài nhân lớn thật!

Cánh cửa son son với những đường chỉ thếp vàng hé mở, điểm vào không gian lặng ngắt một dải âm thanh trầm thấp kẽo kẹt.

-Đây là con của Tài nhân? – Chưa ngồi ấm chỗ, Lê Tranh háo hức chạy lại, kiễng mũi chân cố nhìn cho rõ đứa bé trong tay người phụ nữ. Cậu ngước mắt, nhoẻn cười đề nghị – Phu nhân cho ta xem một cái nhé? Em bé của Tài nhân cũng giống như Gia Thục hồi xưa ấy, nhỏ nhỏ trắng trắng như cái bánh dày.

Cách so sánh của Tranh khiến đám kẻ hầu người hạ tủm tỉm cười. Trên giường, Nguyễn thị áp chặt đứa bé vào lòng, bất giác hơi quay người như thể muốn né tránh mắt mắt háo hức trong trẻo của con trẻ. Nàng cất giọng khàn khàn, ẩn sau tiếng cười khỏa lấp là mấy chữ nhát gừng:

-Điện hạ… em bé còn nhỏ… Trẻ con khóc quấy, chẳng may làm ra việc gì thất thố phạm thượng, ta sao chịu trách nhiệm được.

Đôi lông máy nhíu xuống, môi dưới hơi trề ra khi Tranh ngoái đầu nhìn mẹ. Nó không hiểu, bình thường mọi người đều cho nó chơi với các em mà, như Phạm Tu viên, như Phùng Sung viên ấy. Ánh sáng hắt qua nhưng ô trổ hình phiến lá trên cánh cửa, tạo thành những dải nắng nhạt nghiêng nghiêng cắt qua đôi mắt đen thẫm của Hải Triều. Cái chớp mắt làm lay động tầng nước trong đôi đồng tử tĩnh lặng. Liếc theo vú em bế hoàng nam sang phòng khác, nàng tiện miệng dặn dò con trai háo hức theo sau mấy lời rồi mới nhẹ nhàng tiến tới, ngồi xuống mép giường của Nguyễn Tài nhân. Vạt áo lướt qua đôi bàn tay nắm chặt kia mềm mại là thế nhưng Nguyễn thị lại giật mình, bất chợt muốn giằng lại. Mấy ngón tay Hải Triều ép xuống, vỗ nhịp đều đều trên bàn tay ẩm lạnh mồ hôi ấy. Nàng nghiêng đầu ngắm nghía, tặc lưỡi thì thầm:

-Cô không thích ta, ta cũng chẳng thích cô. Muốn ngay thẳng, đường hoàng cũng được nhưng ở đời không phải cứ không sai thì là đúng. Việc giữa người lớn chớ lôi con trẻ vào.

Phản chiếu trong con ngươi loang loáng ánh sáng giễu nhại của người đàn bà kia là hình ảnh của chính nàng, Nguyễn Tài nhân.

-Xin đừng để tay của Sung nghi dính bẩn.

Thu tay về, người phụ nữ trẻ nghiêng mặt để lộ khóe miệng cong lên. Nàng cũng thật to gan, nhìn thấy chính mình ngạo ngược như thế nhưng không hề dừng lại. Nguyễn thị ở cung Vĩnh Ninh mang theo Đông cung cùng cái bụng đó đến đây vì lẽ gì chẳng nhẽ nàng lại không biết. Lời qua tiếng lại nhường kia là để ai nghe? Cao thấp vốn không nằm trong mấy chữ quê hương bản quán mà ở phẩm hạnh, ở phong phạm con người. Muốn học theo Nguyễn Châu Liêm thanh cao học thức sao, chẳng phải nàng ta vẫn chưa nguôi xích mích năm cũ?

Cầm cây quạt trong lòng lên, Hải Triều phẩy tay ra hiệu cho hoạn quan bưng những khay đồ quý được ngự ban lại gần. Đứng dậy, chân vừa bước hai bước, nàng khựng lại như chợt nhớ ra điều gì. Mấy sợi tóc xõa qua đầu vai khi mái đầu nghiêng đi, góc quạt điểm lên bờ môi hơi hé:

-Huynh đệ thủ túc hay huynh đệ tương tàn… Tài nhân biết chữ Thánh hiền nên lẽ này chắc ta không cần nhiều lới. Với cả, cái án của Lệ Đức hầu còn đó…

Cánh cửa khép lại thu hẹp rồi nuốt gọn vạt sáng tràn qua. Bàn tay đặt trên đầu gối run lên khi siết chặt thành nắm đấm. Rồi chính Nguyễn thị lại nới tay, để bờ vai xuôi theo hơi ớn lạnh men lan dọc sống lưng. Nguyễn Thị Ngọc Huyên dám đe dọa nàng, đe dọa hoàng nam của quan gia. Vì có Đông cung, vì có đằng ngoại sao? Lời đáp “phải” trung thực vang lên trong cõi lòng, kéo hai bên khóe miệng vị Tài nhân thành nụ cười ẩn trong bóng tối của tấm màn buông hờ. Gia thế, vận mệnh chưa bao giờ là thứ được lựa chọn.

-Sau lần này, Nguyễn Tài nhân có khi sẽ biết cách cư xử hơn. Người ấy quá thật thà, chuyện gì cũng để lộ hết trên mặt không phải điều hay. – Kín đáo lắc đầu, Thụy An bước lại gần, đỡ lấy bên cánh tay Hải Triều. Bà nhíu mày, nhỏ giọng hỏi – Sung nghi, người thấy không khỏe?

Nhắm mắt lại trong chốc lát, nàng hít vào mấy hơi thật sâu rồi đưa tay gạt nhành cây đâm ngang. Bóng xuân đung đưa trên gò má nhạt sắc phần hồng, đong đầy đôi mắt như dòng nước chảy xuôi. Phía trước, Lê Tranh cùng cậu bé kia không biết đang nô đùa gì với Ngọc Hồ và Kiến Chương mà chốc chốc lại cười phá lên. Hải Triều bâng quơ:

-Sự thù địch của Lệ Đức hầu với điện Kính Thiên từ đâu mà ra? Việc không tránh được thì thôi, ai lại đi bày ra cho thêm chuyện.

-Sung nghi ra dáng mẫu thân lắm rồi! – Thụy An mỉm cười với nàng, đuôi mắt in dấu chân chim phảng phất điều gì như nhẹ nhõm – Lệnh bà làm nô tì nhớ lại nhiều năm về trước, khi quan gia còn nhỏ đức Quang Thục cũng… Chung quy cũng vì con cái dứt ruột đẻ ra thôi.

Hai đứa trẻ cụng trán rồi ngã lăn ra nền cỏ, đứa nọ túm đứa kia mãi mới đứng dậy được. Tiếng cười khanh khách giòn tan nổi lên trên nền gió trời xao xác. Ai biết được ngày sau, cậu nhóc nào trong Cung thành sẽ ngồi lên ngai vàng, trở thành quốc chủ phương Nam? Cao quý vốn chẳng đi cùng với vận mệnh nay thế này mai thế khác. Lơ đãng khép vạt áo, đầu ngón tay vuốt nhẹ cái bụng đã nây nẩy tròn, nàng thở ra:

-Là chừa cho bản thân một đường lui… để cầu một đường sống.

.

.

.

***

.

.

.

Người Kẻ Chợ truyền tai nhau muốn làm ăn buôn bán thì cất nhà quanh cửa Đông Hoa rồi chợ Bạch Mã; muốn tằm tang mời sang Giảng Võ; trồng hoa ươm cây cứ đất Quảng Bá, Nghi Tàm, thế là thành mỗi phương mỗi sắc. Có leo lên quán trà quanh cửa Hà Khẩu cũng chỉ thấy một phần trên bến dưới thuyền phía Đông kinh sư, còn muốn ngắm đại cảnh thì ngoài lầu gác Cung thành phải kể đến quán Bắc sứ. Dân gian cứ đồn thổi thế chứ nào ai biết đúng sai.

Ngoảnh mặt hướng này thấy san sát nhà cửa sau tán cây đến mùa nhú lá, quay lại đằng sau là vài lượt cổng thành được ngăn giữa bởi những khoảng sân nối tiếp có dãy hành lang tả hữu dài như vô tận. Lầu gác vươn lên vẽ những đường cong vút tinh xảo lên nền trời xam xám tháng ba khi nắng chiều len mây ánh sắc lưu ly biếc biếc trên mái ngói điệp trùng.

-Muộn rồi mà ngoài phố vẫn còn đông vui. – Nghiêng mặt về hướng phố thị, Thẩm Phác Lặc Sa trông xuống con đường uốn khúc quanh co ngay dưới chân dãy tường bao, gợi chuyện với ông Lễ bộ thượng thư Đại Việt.

Chén trà mới bưng lên đã đặt xuống khi Lê Hoằng Dục hiếu kì nhìn theo phía ấy. Đôi mày dãn theo thanh âm hòa nhã âm thầm trong giọng nói.

-Đó là tứ thành binh mã chở gạo lên các xứ Tuyên Quang, Quy Hóa, Đà Giang để an ủi binh sĩ về hội quân chẳng may túng đói. Ta không biết dân chúng hiếu kì vì chuyện ấy hay bởi theo sau còn có đám người Đại Minh.

-Người Minh? – Vị sứ thần Chiêm Thành chau đôi mày đen rậm, hỏi lại như thể vừa nghe nhầm. Người Minh nào? Từ khi yết kiến Hoàng đế Đại Việt ở hành điện Phi Lai rồi theo về đến tận Đông Kinh, ông ta mới chỉ nghe thuyền lương của Thiên triều mang theo hơn hai trăm hộc gạo dạt vào An Bang chứ chưa dò hỏi thêm được điều gì.

Chắp tay hướng về điện Kính Thiên, Hoằng Dục nghiêm trang:

-Quan gia nhân từ nên phát gạo rồi sai những kẻ trên thuyền đến ty đồn điền lao động.

Gật đầu đáp lại, Thẩm Phác Lặc Sa hơi hé miệng lộ vẻ thán phục nhưng bàn tay đặt dưới gầm bàn từ từ nắm lại. Thân là sứ thần mang đồ tiến cống, lễ nghi trung châu ông ta tự nhận mình thuộc hạng tỏ tường nhưng chưa từng biết qua có kiểu đối đãi không lấy hòa hiếu làm đầu như thế. So với Chiêm Thành, Đại Việt liền vách với Thiên triều, nay ông vua trẻ kia làm vậy chẳng nhẽ muốn nuôi lòng khác? Chầm chậm thưởng thứ nước lá chan chát mà người phía Bắc gọi là trà mạn, Thẩm Phác Lặc Sa nhìn về đầu bàn bên kia, tuy xa nhưng vẫn thấy rõ đôi mắt như hòn ngọc đen chìm sau vực nước lặng của ông Thượng thư.

-Quân đội thánh triều quả nhiên thiện chiến, trong vòng mười mấy ngày đã có thể dẹp yên cuộc tấn công của Ai Lao, thật khiến nước tôi ngưỡng mộ.

Đưa mắt theo cái khoát tay hào sảng làm mấy cái vòng vàng rung lên trên cổ tay săn chắc, Hoằng Dục đáp lại bằng một nụ cười lưng chừng. Chiến thắng của Khuất Đả không tổn hao một binh một tướng mà còn chiêu dụ được Cầm Đồng – kẻ giữ mắt xích cuộc tấn công này của Ai Lao vào biên giới Đại Việt. Tuy thế hoàn toàn có thể nhìn theo cách khác: không thực đối đầu sao dám khen thiện chiến? Chiến tích kia trong mắt người ngoài hóa ra chỉ là ăn may. Chiêm Thành vẫn tự cho mình ngang hàng với Đại Việt, nhún xuống một bước chỉ do thời thế chưa thuận, một khi gió Đông nổi lên thì ai biết thế nào? Cung cách bang giao này ngoài mặt thì giữ lễ nhưng bản chất chẳng khác gì thái độ bất phân trên dưới đã có từ thời Thái Tông Văn hoàng đế.

Tiếng con lợn sữa ré lên khi lưỡi dao bầu chọc xuống một đường dứt khoát xé rách hoàng hôn tàn nắng. Yến tiệc khoản đãi đêm nay chưa cần sắp mâm cất bát đã có thể bắt đầu. Tì hai khuỷu tay lên tay vịn, Lễ bộ thượng thư hơi nhướn thẳng lưng, nhẩn nha:

-Tiên tổ lập quốc được ơn của trời mà cai trị lãnh thổ rộng lớn mỡ màu, nhưng chính nó lại khiến ngoại tặc dòm nom. Giữ yên cương vực là chuyện đương nhiên, nên như Cầm Đồng đang bị giam trong ngục ngự tiền kia sớm muộn sẽ bị đưa về bản quán xử tử.

Họ Lê khai quốc, hùng cứ một vùng nhờ tài cầm quân của Thái Tổ Cao hoàng húy là Lợi. Tiếc rằng sau cái chết của người ấy, hậu duệ chỉ là những ông vua trẻ con, người thì chết sớm, kẻ thì mẫu hậu buông rèm nhiếp chính làm gà mái giữ con, anh em trở mặt, văn võ hầm hè. Chiến thắng Thiên triều, danh trấn hội thề Đông Quan chỉ còn là vàng son quá vãng. Trong trí nhớ của Thẩm Phác Lặc Sa về lần yết kiến ngắn ngủi tại Phi Lai, vị Hoàng đế lên ngôi bằng cái chết của anh em ruột thịt chẳng lưu lại dù chỉ một nét mờ nhòa để liên tưởng đến phong thái uy vũ của Bình Định vương ngày trước. Hắn giống văn nhân hào hoa đa tình hơn là một Hoàng đế cai trị. So ra, vị nguyên lão đại thần họ Đinh còn dũng mãnh can trường, sừng sững như núi đá cáng đàng triều chính hơn. Càng thế, Thẩm Phác Lặc Sa càng tin lời can gián không nên giết Cầm Đồng để khuyến dụ kẻ sau của Đinh Liệt thực chất là quyết định cuối cùng của Đại Việt với lần gây hấn này của Ai Lao. Thế mà…

Nối tiếp khoảng lặng tự nhiên giữa từng lời nói, Hoằng Dụ hơi đổ người về phía trước, tiếp lời sau cái tặc lưỡi rất nhẹ:

-Cầm Đồng ra hàng mà còn khó thoát được án chết, kẻ ngang nhiên tiền hậu bất nhất, chiếm cứ đất đai để tự vỗ béo mình, không biết khi đến lượt còn thảm hại đến thế nào? Với lũ tiểu nhân gian trá rắp tâm làm loạn, tuyệt không thể khoan thứ nhân từ bởi có một lần tất sẽ có hai lần.

Đợt sóng cuộn lên trong ruột vị sứ thần người Chiêm nhưng rồi mau bị chóng ép xuống theo cái hít vào thật sâu. Thẩm Phác Lặc Sa đã ngờ việc này chẳng chóng thì chầy sẽ được nhắc đến. Vùng Chiêm Động, Cổ Lũy được tay họ Hồ tên Hán Thương cướp về rồi chia gọi bằng mấy chữ Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa không biết từ lúc nào bị coi như quốc thổ của Đại Việt, bỗng chốc người Chiêm trở thành đám ăn nhờ ở đậu ngang ngược ngay trên chính đất đai tổ tiên mình. Khi Đại Việt còn bận thù trong giặc ngoài, vùng đất kia chưa phải mối lưu tâm hàng đầu so với biên giới phía Bắc. Dăm năm nay được mùa, tình hình yên ổn nên chúng lại nuôi mộng muốn nhòm xuống phương Nam.

-Hôm nay sau là đãi yến sứ thần, trước còn có hai việc hệ trọng. – Hoằng Dục cất tiếng – Quan gia muốn biết ý quý quốc về việc cống thiếc hàng năm.

Hàm răng ngậm lại cắn đứt mấy lời đối đáp đã được chuẩn bị trơn tru chỉ đợi để được nói ra. Thẩm Phác Lặc Xa nhớ đến lời dụ của Hoàng đế trẻ tuổi, mạch máu từ cổ men lên thái dương căng lên chút ít. Đôi vòng tai vàng đung đưa nặng nề, hắt mấy vệt sáng mờ lên nước da sẫm màu khi người đàn ông hơi cúi đầu cung kính:

Nước Chiêm tôi với thánh triều như con cái cậy nhờ cha mẹ, dạy bảo thế nào thì xin theo thế. Nhưng thiên tử có lệnh truyền, ngoài vật tiến cống theo lệ đã định lại phải cống thiếc nữa. Đó là lệ mới, sứ thần tôi không dám tự tiện trả lời. Cúi xin sai sứ sang hỏi chúa nước tôi để vẻ vang cho nước dưới.

Một bên khóe miệng nhếch cao khi Thượng thư Lễ bộ nhớ lại chuyện năm Thiệu Bình, vừa hỏi đến đất Chiêm Động, Cổ Lũy, sứ thần đã than ngắn thở dài Chúa Chiêm già lẫn, không tin ai cả, phải cử sứ thần Đại Việt sang nói lý mới thông. Cái sự thần phục nửa vời này chính là nguyên do tại sao tới đây Cầm Đồng bị giết. Chuyện mới chuyện cũ thực ra đều như nhau cả. Đôi mày chau xuống băn khoăn, miệng nhoẻn cười như nghe một lời êm tai, Hoằng Dục ôn tồn cất lời:

-Sứ thần nói vậy là đã hiểu lẽ trên dưới, trước sau. Theo đó, con cái nghe lời dạy bảo của phụ mẫu mà không cung kính tuân theo, lại còn xách nhiễu vặn hỏi thì cái sự hiếu kính kia chỉ là đầu môi chót lưỡi, mười phần không đáng tin cả mười.

Tiếng bát đĩa, tiếng người hầu kẻ hạ trong quán Bắc sứ nghe sao xa vời. Tà dương chết lặng nơi chân trời trong một dải sáng vàng cam lay lắt. Thẩm Phác Lặc Sa nắm hai bàn tay thành nắm đấm dưới mặt bàn, lưng vươn thẳng, mắt níu lấy một đầu tia nhìn của người đàn ông phía đầu bàn đối diện. Theo cái vẫy tay của ông Thượng thư, hoạn quan cung giám lần lượt tiến tới, lấp đầy cái bàn dài bằng những khay gỗ đựng đủ loại vật phẩm phân chia theo thứ bậc cao thấp.

-Chúa Chiêm có lòng biết thờ nước lớn, vâng theo giáo huấn của bản triều, lại thêm sứ thần không quản đường xá xa xôi cách trở giữ phận thông truyền. Nay Thiên tử Đại Việt đặc biệt ban thưởng trăm thước gấm quý, trăm thước lụa màu cùng các vật phẩm khác.

Nâng tượng trưng một khay gỗ đặt vào hai bàn tay nâng cao của Thẩm Phác Lặc Sa, Hoằng Dục cười mỉm, nhắn nhủ:

-Áo thêu kim tuyến là vật rất quý, tỏ lòng ưu trọng tin tưởng của quan gia với các tù trưởng biên viễn cùng phiên bang biết quy thuận Đông Kinh. Sứ thần hãy nhận lấy. Việc hệ trọng đã xong, phần sau là tiệc rượu, nhất định không say không về!

.

.

.

***

.

.

.

Vừa ngơi tay khép cửa, Châu Liêm liền đón lấy cái bát bốc làn khói mờ ngai ngái đắng mùi thảo dược rồi liếc mắt ra hiệu Chiều Xuân có thể lui. Khẽ khàng đặt bát xuống mặt bàn gỗ, nàng kéo vạt áo, ngồi hờ xuống mép giường.

-Bẩm quan gia, thuốc đã sắc xong rồi.

Lồng ngực Tư Thành vẫn nâng lên hạ xuống theo nhịp thở chậm rãi, đều đặn. Nhích lại gần thêm chút nữa, nàng hé bờ môi nhưng rồi lại lặng yên. Sẹo mờ trên vầng trán chàng chìm khuất giữa đôi nếp nhăn thoáng hiện giữa hai đầu lông mày trong giấc ngủ vội vàng. Len lỏi qua từng ô cửa đóng kín, gió đêm rít lên vi vút giữa hàng cây xơ xác lá cành bởi thiếu mưa xuân. Năm nay, giá lương thực trong kinh lại đội lên nữa.

-Quan gia, xin người dậy uống thuốc hẵng. – Chạm nhẹ lên bàn tay Tư Thành, Châu Liêm lặp lại từng chữ. – Quan gia…

Mi mắt nhích lên chậm chạp trước ánh sáng của mấy ngọn đèn sáng tỏ ùa vào, người đàn ông day day thái dương, khàn khàn cất lời:

-Giọng của Sung dung rất hay. Có điều, khanh lúc nào cũng tính toán từng chữ với trẫm.

Xoay cổ tay bị nằm gọn trong lòng bàn tay ấm nóng của chàng, Châu Liêm lui lại rồi bưng bát thuốc lên. Không đôi co với nàng như mọi bận, Tư Thành đón lấy, uống cạn rồi rút bản tấu đã được đặt sẵn bên giường. Thắp thêm một ngọn nến cho chàng, nàng nhón chân thoái lui, về lại cái ghế băng đặt cạnh cửa sổ. Bên quyển kì phổ và bàn cờ dang dở những quân tròn đen trắng trơn truội khỏi ngón tay là đôi ba xấp giấy được xếp ngay ngắn, loại nào ra loại nấy. Giấy mỏng tang như màn sương đục lúc nào cũng có thể tan biến dưới ánh lửa rung rinh. Trên đó là con chữ của những người Châu Liêm không hay biết nằm lẫn với thủ bút của Ức Trai. Dù dị biệt nhưng đó đều là trước tác của người đàn ông ấy, phần nhiều do kẻ mến tài mà lén lút giữ lại như sợ sự nghiệp của quan Hành khiển cũng tàn lụi theo vụ án oan nghiệt dính líu tới người thiếp thứ ba.

Từ khi còn nhỏ, điều nàng cùng nhiều người khác được nghe quanh sự ra đi bất ngờ của Thái Tông tại Lệ Chi Viên không phải sự thương tiếc cho số mệnh hay tài hoa không kịp thi thố với đời của Ức Trai tiên sinh. Giản Cung hầu nghe tin ấy truyền đến Lôi Dương chỉ nhắm mắt vuốt chòm râu bảo: “Trãi không biết lẽ tri túc nên mới thiệt thân. Có vợ mà không biết dạy, để đến nỗi gặp họa đến ba họ thì trách ai?”. Người ta còn rỉ tai nhau rằng, khi cái rọ dìm bà Lộ xuống nước cho chết đuối chìm xuống, đột nhiên có con rắn ở đâu ngoi lên. Oan khiên thế nào trong bóng mờ đồn đại quỷ thần Châu Liêm nào dám nói, nhưng một lễ nghi học sĩ ra vào nội cung dạy bảo phi tần, nói dăm câu có thể khiến Thái Tông nghe theo mà biếm chức kẻ này kẻ khác ắt không phải hạng đàn bà tầm thường. Được lòng đấng kim thượng mà lại thành cái gai trong mắt đồng liêu, ngang trái có khi bắt đầu từ đó.

Tờ giấy đáp xuống nhẹ tênh, gần thế mà cũng xa thế. Nàng tần ngần miết đường chỉ may áo, trân trân nhìn nhưng con chữ ngay ngắn bày ra trước mắt. Việc đã qua, người đã chết, truy phong, bổ dụng đều đã hoàn thành, nay quan gia lại hạ lệnh thu thập di thảo của Nguyễn Ức Trai chắc không chỉ vì một lẽ mến tài mà còn bởi muốn an lòng giới nho lâm.

-Cống phẩm của Tô Vấn Đáp Lạt cũng không thu hút khanh như vậy.

Ngước lên khỏi bản tấu, Tư Thành gác bút, thảnh thơi ngắm nhìn chút ngạc nhiên thoảng qua gương mặt Châu Liêm rồi thu lại mất dạng khi nàng cúi đầu kính cẩn.

-Từng câu từng chữ đều rất quý giá, quan gia ưu ái cho phận nữ nhi được chiêm ngưỡng nên thần thiếp không dám qua loa.

Đuôi mắt cong theo nét cười chỉ phai nhạt khi Tư Thành cúi xuống một bản tấu khác trong tay. Mặt giấy kín đặc chữ viết xin xít in bóng mũi kéo chích xuống dây bấc rồi hơi nghiêng đi, chuyên lửa giữ cho ngọn sáng không rực lên nhức nhối. Tấm áo vừa phủ xuống vai mang theo mùi hương mơ hồ đã được hong qua nắng ấm, Tư Thành liền vươn tay giữ Châu Liêm lại.

-Hồi bẩm quan gia, có tin cấp báo!

Bỏ qua nguyên tắc thưa gửi thường ngày, Đức Vượng rành rọt lên tiếng sau cánh cửa đóng kín. Bàn tay Tư Thành hơi dùng lực khi vô thức siết lấy Châu Liêm trước khi để nàng lui xuống sau mình. Nét lả lơi trêu ghẹo đong đầy hương xuân tình từ trong khoảnh khắc ngắn ngủi tản mát như làn khói mỏng trước cơn gió lớn. Có cái gì đó toát ra từ Tư Thành, không chỉ là hơi thở trầm nặng, không chỉ là cánh tay hay bờ vai gồng lên nhưng làm Châu Liêm thấy sợ, nỗi sợ không thể gọi tên khi gai ốc gợn dưới tay áo. Trong mê trận của Hoàng đế, đã có lúc nàng lơi tay ngả theo dáng vẻ của chàng, tạm lãng quên gánh nặng đè xuống đôi vai kia là hạn hán mất mùa, là dịch bệnh, là việc binh nhung không như ý muốn… Người ta có thể viện những lời dối trá, có thể dùng sừng sững uy nghiêm để trấn định phong ba, giữ cho vạn sự yên ổn hay chí ít có vẻ yên ổn để không khơi thêm biến động. Nhưng người đàn ông kia thì không.

Bụi đường nhuộm lên y phục màu chàm của tên lính chạy trạm những vạt bạc phếch, tả tơi. Lược bỏ cung cách lễ nghi, hắn nhanh nhẹn quỳ xuống, đôi mắt kín đáo dò xét người phụ nữ đứng sau lưng Hoàng đế mà không mở miệng.

-Cứ nói! – Tư Thành đan hai tay lại, vươn thẳng người.

-Muôn tâu quan gia, phủ Bắc Bình[6] cấp báo, tù trưởng Sầm Tổ Đức bên Đại Minh dẫn hơn một nghìn quân tràn quan biên giới.

Sầm Tổ Đức, cái tên này làm Tư Thành nhớ đến tay tù trưởng cầm đầu đám người Thổ rất thiện chiến thường xuyên gây hấn với những tộc người nhỏ lẻ muốn tranh cướp, ly khai trên vùng biên giới giữa Đại Việt với Đại Minh. Hắn không khác gì những thổ tù nơi biên viễn của Đại Việt, luôn nằm trong một giao ước ngấm ngầm lâu đời với thượng kinh. Nói rõ về phía ta, từ thời Lý đến nay vẫn cho vùng phía Bắc giữ lề lối miền ngược, để các thủ lĩnh chiếm giữ địa vị nơi thâm sơn cùng cốc không khác gì khi trước, nhưng mặt khác vẫn phải thần phục triều đình bởi hôn nhân hoặc bởi bạc vàng, phú quý. Nếu chiến tranh xung đột xảy ra, phên giậu đầu tiên bị nhắm đến chính là Cao Bằng, Tuyên Quang.

-Không chỉ vậy… – Tên lính tiếp lời – Sầm Tổ Đức còn đốt phá làng bản, cướp bóc trâu bò, nông sản, thổ sản của ta. Đại nhân Lê Lục sai thần phi ngựa hỏa tốc lai kinh cấp báo, xin quan gia hạ lệnh xuất binh ứng cứu.

Liếc nhìn mấy bản tấu mới xem xong, đồ hình núi sông trên tấm bản đồ treo tại ngự thư phòng hiện lên rõ từng nét mực đen trước mắt Tư Thành. Không, không chỉ Cao Bằng, Tuyên Quang. Hai nơi ấy nằm ở trung tâm phía Bắc, giáp sát với Quảng Tây, tuy là trọng yếu dễ dàng bị nhắm đến nhưng sao hấp dẫn được bằng Hải Ninh phía Đông Bắc với bố phòng thủy quân, đất An Bang rồi thương cảng Vân Đồn…

Đón lấy tấm áo được Châu Liêm đưa đến, chàng rũ mạnh rồi khoác lên người. Căn phòng vang động giọng nói sang sảng:

-Đức Vương, triệu Thái sư Đinh Liệt, Thái bảo Lê Niệm nhập cung. Truyền khẩu dụ của trẫm, sai Giám sát ngự sự Bắc đạo lập tức đến phủ Bắc Bình gô cổ chánh phó Trấn thủ Lê Lục, Nguyễn Lượng về kinh!

.

.

.

[1] Trích trong Đê thượng hành kỳ 2, Lưu Vũ Tích (772-842). Nghĩa là: nước vẫn xuôi chảy về nơi vô cùng, trăng sáng vằng vặc (theo Thivien.net)

[2] Chuyển vận sứ: về sau Lê Thánh Tông đổi chức này thành tri huyện.

[3] Thiên tinh, nhạn hàng…: Tên những phép bày thủy trận được dâng lên năm Quang Thuận thứ 6 (1465)

[4] Tô Vấn Đáp Lạt: tức Sumantra, Indonexia ngày nay.

[5] Nỏ: khô. Tất cả những từ in nghiêng trong câu thoại đều là phương ngữ Thanh Hoa.

[6] Phủ Bắc Bình: trực thuộc thừa tuyên Thái Nguyên, sau đổi ra là Cao Bằng [Theo Hồng Đức Thiên Nam dư hạ tập, dẫn theo chú thích trong Cương mục]

7 thoughts on “[Độc huyền cầm] 2 – 13 (2)

  1. Hằng

    Chị ơi đoạn thái giám mắng e bé hoàng tử con của cung nữ là :”-Chỉ là con của một ả hầu, ngươi đừng nghĩ dựa vào ân điển của đức Quang Thục mà có thể coi như mù câm điếc trước lề luật nội cung. Chớ quên thấy chủ nhân xuất thân Thanh Hoa thì phải cung kính lùi ba bước, phải…”
    Hoạn quan đó là ng hầu của vị phi tần nào vậy ạ? Không phải Nguyễn Tiệp dư đúng k ạ? Vì Nguyễn tiệp dư là người Từ Liêm mà. Nhưng đến đoạn sau Hải Triều lại cảnh cáo Nguyễn tiệp dư “chớ nên lôi con trẻ vào” thì e lại nghĩ thái giám đó là ng hầu của Nguyễn Tiệp dư ?????
    Ah còn việc “2 ng đàn bà ở chung 1 chỗ” là My Hoàn nói đến Nguyễn tài nhân và Hải Triều hả chị? E tưởng cung Vĩnh Ninh chỉ có mình Hải Triều ở thôi.

    1. isis-chan Post author

      Hoạn quan đấy theo hầu 1 vị chủ nhân Thanh Hoa khác, mượn chuyện gây sự trước cung của Nguyễn Tiệp dư thôi. Đoạn “chớ nên lôi con trẻ vào” nó nằm trong bối cảnh của Hải Triều với Nguyễn thị, là chuyện khác. Đoạn “2 người đàn bà ở chung 1 chỗ…” là chỉ Hải Triều và My Hoàn. Em thử đọc lại đoạn này một lần nữa xem. Ý ss muốn nói đều ở trong chữ hết rồi, nếu giải thích ra thì không nên :3

  2. Lyanna Targaryen

    ss ơi em hỏi chút (ss đừng cười em huhuhu), xuất thân Thanh Hoa là ở đâu ạ? có phải là..Thanh Hóa ko ạ? tại có đoạn My Hoàn chuyển sang nói với Hải Triều bằng tiếng miền trung
    Em phải quay lại đọc chap thêm lần nữa mới được, nhiều đoạn còn mơ hồ quá :((

    1. isis-chan Post author

      Thanh Hoa là tên cũ của Thanh Hóa đó em. Nếu ss nhớ không nhầm thì thời Nguyễn vì phạm húy tên bà phi nào đó là Hoa nên mới đổi hoa thành bông, rồi Thanh Hoa ra Thanh Hóa blah blah. Còn về phương ngữ thì một số từ ss có tham khảo bạn bè là người Thanh Hóa, 1 số từ khác thì tham khảo web của hội đồng hương Thanh Hóa nên có một số từ ss lúc đầu tưởng chỉ có dân Nghệ An, Hà Tĩnh, Huế dùng, hóa ra người Thanh Hóa cũng dùng :3

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s