[Độc huyền cầm] 2 – 13 (1)


Chương 13: Cơn dông

 

 

.I.

 

 

 “Quan hồ thiên văn, dĩ sát thời biến[1]

.

.

 .

12749785_1686261341644385_1496111327_n

Source: Dan Gyokuei

Không sử dụng lại ảnh khi chưa có sự đồng ý của tác giả

.

.

.

Mấy tàu lá dong xanh mướt trải ra trên chiếc chiếu cạp điều, chính giữa là gạo nếp hạt nào hạt nấy tròn mẩy, trắng tinh lại được đổ thêm cả một bát đỗ đãi vàng ươm như nắng. Đặt miếng thịt lợn đủ cả mỡ lẫn nạc vào chính giữa, Lam Ninh vừa ấp lá lại, tai đã nghe tiếng chèm chẹp khiến nàng chột dạ, không biết mình có sơ sẩy gì không.

-Anh Vinh làm quan ở Kẻ Chợ bao lâu rồi ấy nhẩy? – Ngưng tay giã trầu trong cái cối đồng, bà cụ tóc bạc trắng ngồi trên sập cất tiếng sang sảng mà không cần đám con cháu xung quanh trả lời – Vưỡn cái chân trực học sĩ phỏng? Bằng ấy năm, phải người khác đã thành ông nọ ông kia rồi. Thời chả biết tôi có sống được đến lúc nở mày nở mặt ấy không…

-Ơ kìa u, năm hết Tết đến sao u lại… – Bà Lương đặt cái ấm giỏ xuống, liếc nhìn Lam Ninh đang lúi húi gói bánh rồi nói tránh đi.

Đôi mắt hẹp liếc ngang làm người phụ nữ đầu hai thứ tóc im bặt, khom lưng bưng ống nhổ đến bên mẹ chồng. Dầm dầm thêm mấy nhát nữa rồi đưa cối trầu cho bà Lương, bà cụ nhìn tấm lưng cô cháu dâu một hồi liền nóng ruột xoay người, co một chân lên.

-Hỏng, hỏng hẳn! Tôi đã không bằng lòng ngay từ đầu rồi! – Thẳng thừng gạt mấy ngón tay đang kín đáo giật giật tà áo mình, bà cụ quay ngoắt sang phía con dâu – Chị không dạy được thì để tôi dạy. Thuyền theo lái, gái theo chồng, đâu ra cái lệ nhà chồng khúm núm trước dâu con? Đàn bà đã không có tướng vượng phu ích tử thì thôi, đằng này…

Cúi thấp đầu hơn chút nữa, Lam Ninh hít vào một hơi thật sâu, cổ tay ngưng lại trong chốc lát rồi ra sức xoắn lạt điều. Màu hồng thắm trên nền lá xanh nổi gân đều tăm tắp nom cũng vui mắt. Xếp cái bánh vuông vắn lên tấm phản kê gần đó, nàng lại trải lá, tuần tự đổ gạo, thêm đỗ, gắp thịt. Ngoài sân, trong bếp, tiếng chày giã giò, giã bánh thình thịch nện xuống, chen cùng lời cười nói của mấy anh chị em trong họ.

Kính cẩn đưa chén nước về phía trước, bà Lương nén tiếng thở dài, phân trần:

-U thư thư cho các cháu, đâu còn có đó. Với lại…

-Mai tôi chết ra đấy thì cho nhà chị tha hồ thong thả! – Dằn mạnh cái chén xuống phản, bà cụ gắt đến lưng chừng rồi cái miệng móm mém nhoẻn cười đưa đẩy – Đợt rằm đi lễ chùa làng, tôi nhắm được con cái Lan nhà ông đồ Phán hay đáo để. Chẳng phải con bé ấy cũng biết anh Vinh sao? Quay đi quay lại đã nhớn phổng lên rồi. Cái dáng ấy cắm cây mạ xuống thì mấy nỗi mà thành cây lúa. Chị có ưng thì tôi đánh tiếng với nhà người ta, lỡ đám này là tiếc lắm!

-Chuyện này… – Nhấp nhổm trên sập, người phụ nữ hết đặt ấm xuống lại quay ra vò vò dải áo. Phần không dám trái ý mẹ chồng, phần cũng vì ông Lương xa gần nhắc nhở, bà đành tặc lưỡi – Dưng mà u cũng biết tính cháu u, anh ấy đã quyết thì cấm ai lay chuyển được.

Cái bát vục vào thinh không làm Lam Ninh ngoảnh nhìn lại, nhận ra cái thúng đã hết nhẵn gạo từ lúc nào. Lau tạm tay vào vạt áo, nàng khom lưng tỏ ý xin phép rồi chậm bước ra ngoài. Ánh mắt soi xét vuốt từ đỉnh đầu đến mũi chân người con gái khiến nàng bất giác thu vai lại. Lam Ninh vừa quay lưng, bà nội đã hồ hởi:

-Thế u coi như chị thuận lòng rồi nhé! Ra giêng phải sắm cái lễ rồi nhờ bà mối có nhời. Việc này tôi làm cũng được thôi, cơ mà…

Ánh nhìn chiếu đến sau gáy làm Lam Ninh không dám bước nữa. Môi hơi mím xuống, vành tai đỏ ửng vì gió lạnh nghe không sót từ nào.

-Nhà này ngành trưởng mấy đời độc đinh, sau nay có hậu hay không… xin nhờ vợ anh Vinh vậy!

Chớp chớp mắt mấy cái, Lam Ninh từ từ thở ra rồi bước xuống thềm. Giao cái thúng cho thằng Sành, nàng ép ngón trỏ lên môi rồi hướng mắt về phía bếp, ý bảo nó đi lấy thêm gạo. Ngón tay cái miết ngang qua những khớp xương nhô lên trên mu bàn tay lạnh ngắt. Hơi thở mờ khói trắng, run rẩy khi gió buốt phả trên gò má. Lam Ninh ngửa đầu, dõi mắt theo làn khói rơm hun không khí trong mùi thơm nồng trên mái rạ.

-Mình nghĩ gì vậy? Bà nội nói gì sao?

Hơi ấm phảng phất khi Thế Vinh đưa tay gài mấy sợ tóc rối vào mang tai nàng. Nhìn cái lặc đầu của nàng, chàng nuốt xuống tiếng thở dài mà không vặn hỏi nữa. Cưng nựng đứa bé trên tay, chàng chỉnh lại cái kiềng bạc trên cổ con rồi bảo:

-Thiều Mai thơ mẹ một cái rồi cho mẹ xem con viết cái gì đi.

Vòng tay ôm quanh cổ chàng hơi lơi ra khi con bé vẫy vẫy tờ giấy đỏ rồi nhoài người hôn lên má Lam Ninh một cái thật kêu. Nhìn những đường nguệch ngoạc trên giấy thắm, nàng đoán chừng con bé đã phá hỏng ít nhất một cái bút lông của Thế Vinh. Tuyệt nhiên Lam Ninh không hiểu chuyện đó có gì khiến chàng hồ hởi đến thế. Nhướn chân mày tỏ ý không tán đồng với biểu cảm méo mó của vợ, Thế Vinh nghiêng đầu, nheo mắt ngắm nghía thành quả của con gái như đang chiêm ngưỡng một bức tranh chữ hiếm có.

-Nét chữ rất quyết đoán. Dùng bút rất có lực. Ý tứ rất sâu xa…

Đuôi mắt lén nhìn nét miệng không kìm được mà mỉm cười của nàng, chàng định nói thêm điều gì nhưng vừa lúc ấy, thằng Sành khệ nệ bê thúng gạo ra đưa cho Lam Ninh. Nó bĩu môi:

-Cậu chả khen thì ai cũng biết cô Mai là con cậu mợ rồi!

.

.

.

Cái xoay mình lúc ấy mang đi nụ cười mới chớm, theo Lam Ninh về tận kinh thành.

.

.

.

Khum tay bê ngọn đèn ra xa cho khỏi chói mắt con, nàng khẽ khàng ngồi xuống sau án thư. Đầu bút chạm xuống hết lần này đến lần khác làm loang ánh vàng mỏng mảnh trên nền mực sánh.

-Mình luyện chữ sao? – Đặt thêm một chân đèn nữa xuống, Thế Vinh nhỏ giọng hỏi. Tờ giấy hẵng chưa khô nét bút đưa tới làm chàng thoáng ngạc nhiên nhưng vẫn đưa tay đón lấy.

Bàn tay đặt hờ trên mép bàn từ từ co lại theo cái chau mày, cùng ánh nhìn mỗi lúc một tối thẫm lạnh nhạt của người đối diện. Lam Ninh cúi đầu còn nhanh hơn ý nghĩ tìm kiếm một lý do thỏa đáng. Quầng sáng mờ phản chiếu trên mặt bàn gỗ cứ đứng yên như thế không biết bao lâu cho đến khi nhẹ run lên khi tờ giấy đặt xuống.

-Đây là chủ ý của mình?

Cái gật đầu gọn ghẽ của Lam Ninh mang đến hơi thở nặng nề cùng thanh âm như thể một tiếng cười giễu mơ hồ tan ngay trong tĩnh lặng.

-Nếu thế cứ thuận theo phu nhân!

.

.

.

***

.

.

.

Đông hàn rơi rớt nhạt dần theo đường xuôi đến Thanh Hoa. Mây tản đi để lộ vùng trời lam thẫm bát ngát xa tít về chân trời. Trăng tàn, sao mờ, điểm vào khoảng không mênh mông là những đốm lửa chạy dài theo con đường lát gạch nung trơn. Gió đêm thổi từng chập làm rèm lụa căng phồng, thả bóng mờ lồng vào bóng hoa bóng lá. Lính gác đổi ca, tiếng bao kiếm đập vào áo giáp không đủ khuấy động sự tĩnh lặng sừng sững của hành điện An Bạc.

Lặng lẽ nhấp ngụm trà nóng, Đinh Liệt sắp xếp lại thông tin kĩ càng rồi thưa:

-Khởi bẩm quan gia, các tuyên phủ sứ[2] báo rằng đã cử người trông coi chặt chẽ các vệ Trấn sóc[3] trực thuộc. Các tướng hiệu, kỳ quân từ các sở kinh lược sứ Bác Nẫm, Vĩnh Bồng đã được điều đến các vệ để chỉ huy việc tập trận, rèn dũa quân lính.

-Vậy thì tốt. – Gập hai bản tấu lại đưa cho Đức Vượng và sai hắn chuyển cho Đinh Liệt, Tư Thành xoay người nhìn tấm bản đồ lớn được căng lên sau án thư – Biên giới phía Bắc luôn làm trẫm không yên. Đường xá xa xôi nên chuyển quân chuyển lương đều khó, thêm việc binh đã nhàn nhiều năm, lại do không có người đốc thúc nên…

Đọc lại thêm lượt nữa nội dung bản tấu, Đinh Liệt chau mày nghĩ đến lúc Nguyễn Xí còn sống, rồi lại nghĩ đến cuộc họp bàn tại điện Giảng Võ năm nào.

-Với việc ngoại bang có sự điều chuyển binh lính bất thường… – Ông ngẩng lên, nhắc lại những điều mật thám trình báo trong bản tấu ông vừa dời mắt.

Cây quạt gập lại gõ nhẹ vào lòng bàn tay, Tư Thành ngoái đầu:

-Việc duyệt tuyển các đại, tiểu tổng kỳ các vệ trong ngũ phủ quân đến đâu rồi?

Đề tài đột ngột chuyển hướng làm Thái sư Đinh Liệt thoáng sững người, hàng râu rung nhẹ khi ông từ từ cất tiếng:

-Khởi bẩm, Đô đốc ngũ phủ cùng Binh bộ thượng thư đang chuẩn bị kĩ càng, ra sức kén người tài để sung vào các vệ điện tiền. Có điều… kỳ đại duyệt binh sắp xong, nay lại chồng thêm việc binh nhung ngũ phủ, thần nghĩ…

Đầu quạt điểm vào mấy chỗ trên tấm bản đồ trước mặt, Tư Thành nghiêng đầu:

-Thái sư lo động thái lộ liễu sẽ thu hút sự chú ý không đáng có? Trẫm duyệt quân vốn để kẻ nào cần biết thì phải biết tỏ tường.

Nội việc điều chuyển, thay đổi bố phòng nơi quan ải đã khó lọt khỏi mắt người cai trị, huống hồ đây là hội quân, duyệt tuyển đến tận châu trấn xa xôi. Việc gì cũng có hai mặt, nữa là năm rồi mới đặt ngũ phủ quân mà nay quan gia đã muốn kiểm tra thực lực, nỗi hoài nghi này e rằng do có kẻ không hết lòng hết sức, phương hại đến ván cờ của Hoàng đế.

Phẩy tay ra hiệu cho Đinh Liệt có thể ngồi, Tư Thành rót trà, trên mặt thoáng dự cảm trầm ngâm khi cất đi nét cười trên môi. Từ khi còn nhỏ, chưa khi nào chàng mang thái độ ấy. Như một thói quen khi nghĩ về nhà vua, đại thần đầu hai thứ tóc như Đinh Liệt luôn hình dung ngài trong dáng điệu nhàn tản ung dung không phải của bậc văn nhân lánh đời, mà là cái thong dong, nhàn tĩnh của kẻ tóc xanh biết nhìn thấu thiên hạ. Thế nhưng, Nguyễn Xí cho rằng khí chất của Hoàng đế cũng là thứ ngông ngạo tuổi trẻ sinh ra từ niềm tin không gì là không thể đoạt được. Niềm tin ấy lại nảy mầm từ một niềm tin khác bắt rễ sâu xa hơn. Và chính người đàn ông ấy từng mỉm cười ý nhị xa xôi rằng, quan gia dù xuất chúng nhưng nào có ai nắm tay được cả đời, rồi ngài ấy sẽ biết đến âu lo của tuổi trưởng thành, nỗi lo âu vượt qua cả từ “thất bại”.

Xoay xoay chén giữa ba ngón tay, nhà vua cười nhạt:

-Trẫm hiểu cái lý của khanh. Có điều, đã làm thì không sợ, đã sợ thì không làm. Nay phải xem thần tử hưởng lộc vua ban làm được gì cho dân cho nước thôi.

Ra hiệu cho Đinh Liệt không phải bẩm thưa, người thanh niên ngoảnh nhìn áng mây mỏng lướt qua vành trăng như đầu mày thiếu nữ:

-Vừa rồi Hộ bộ thượng thư Trình Phong dâng tấu, ông già đó cứ dính đến tiền bạc đất đai là chuyện gì cũng tra ra được. Đất Lam Kinh không như chỗ khác, thế mà bọn thế gia dám giở trò chiếm dụng đất công, đến nỗi Trưởng công chúa[4] không có nổi tấc đất cắm dùi.

Hoàng đế không tức giận khi cái lẽ đất đai, mặt nước ở đâu cũng dưới bóng rồng nay bị khinh thường ngang nhiên trên chính nơi phát tích dòng dõi đế vương. Việc gì cũng có phép nước giải quyết, Đinh Liệt không muốn bàn nhiều nhưng lòng lại gợn lên thảng hoặc điều gì như nỗi canh cánh trong mấy chữ Tư Thành nhắc đến người chị gái.

-Trưởng công chúa không thích thị phi nên mới tránh tâu lên quan gia cùng Hoàng thái hậu chuyện này. Xin quan gia chớ nghĩ điện hạ có lòng khác.

-Lòng khác? – Nét cười thoáng hiện sau chiếc quạt phe phẩy nhè nhẹ, Tư Thành lắc đầu – Do trẫm sợ mẫu hậu không vui thôi. Nói cho cùng, Trưởng công chúa… Cũng muộn rồi, khanh quay về nghỉ ngơi đi. Làm phiền thái sư thế này, trẫm thật thất lễ… Ấy, không cần nói lời khách sáo, trẫm đang dùng tư cách con cháu trong nhà xin bề trên rộng lượng thôi.

Đáp lại thái độ hòa nhã của Tư Thành bằng một cái vái, Đinh Liệt thở ra rồi đánh bạo cất lời:

-Vậy thần to gan dựa lời quan gia mà có mấy câu này. Đức Quang Thục không can dự chuyện ngự tiền, nhưng lệnh bà luôn lo họ Nguyễn Tống Sơn sinh lòng khác. Quan gia nâng nhà đó lên nhưng lòng người vô cùng, lòng tham cũng vô cùng. Kẻ biết đâu là ơn huệ, là chừng mực…

-Thái sư từng dạy trẫm, không bao giờ cầm dao đằng lưỡi.

Vừa định thay ấm trà mới liền bắt gặp cái liếc mắt của Tư Thành, Đức Vượng rụt tay lại mà đổi sang dâng rượu. Từ sau tấm mành trúc, Nguyễn Cư Đạo tiến lại, chắp tay vái rồi ngồi xuống chỗ chính ông vừa đứng lên ban nãy, khi bức mật tấu được chuyển tới. Ánh sáng từ những chân đèn lớn vẽ hình sông núi bằng nước men lam hắt nghiêng, làm sắc hồng trên y phục thêm thẫm màu, nhuộm hai chữ “hỗ tụng” trên thẻ bài vào khoảng tranh tối tranh sáng.

-Lời vừa nãy của Thái sư khanh nghe cả rồi? – Tư Thành cười cười, vươn tay rót rượu cho người đối diện.

Uống cạn theo Hoàng đế, Cư Đạo nhìn nét mặt nhà vua rồi mới đáp:

-Phàm ở đời, không ai dám chắc mười mươi, Thái sư lo lắng cho quan gia nên mới có ý can gián. Đô đốc phủ Nam quân là người tài đức, gia thế nếu cần có thể tôn cao. Dùng người trước sau chỉ do ý của quan gia mà thôi.

Mấy cành đào bích cắm trong lọ gốm điểm những cánh hồng xuống mặt kỉ gỗ. Thả một cánh hoa vào chén rượu, Tư Thành cất lời:

-Trẫm muốn nghe ý kiến của khanh vơi tứ cách người của Ngự sử đài, là thầy học và cũng là bạn vong niên của trẫm.

Đáp lại chàng bằng vẻ mặt đôi phần căng thẳng, Cư Đạo hơi vươn thẳng người, phóng tầm mắt qua hàng cột đỡ mái hiên, dõi về phía xa. Ý đấng kim thượng là thế nhưng bạn hữu không thể hơn được quân thần. Người đàn ông vừa qua tuổi tứ tuần vẫn vẹn nguyên sững sờ khi nhớ lại lần nhà vua thưởng trà sen, rồi nói về cuộc hôn nhân với Nguyễn Sung nghi như thể truyện cười vô hại. Bất giác, Cư Đạo liên tưởng đến điều cố Tướng quốc Nguyễn Xí từng nói với ngài Lê Lăng: “Trong bốn hoàng tử, người giống tiên đế nhất chính là Gia vương”. Giống ở điểm nào? Là nhẫn, là độc hay là điều gì nữa? Chỉ cần một sự bất tín bất trung, một mảy may lười nhác, Hoàng đế có thể trở tay nhẹ không trên nền một lời dối trá để xử chết ba họ vì tội khi quân. Nhưng với điều ngược lại… về lâu về dài…

Nâng chiếc bình chim phượng xếp cánh lên rót rượu đáp lại Hoàng đế, Cư Đạo bình thản nói:

-Đó là lựa chọn của quan gia. Còn đằng kia muốn sợ hãi, đề phòng hay muốn dấn theo ưu ái để vinh thân phì gia lại là chọn lựa của họ. Lòng tham nếu đặt đúng chỗ không phải điều xấu. Nay người ấy đã chọn rồi, lớn là quốc gia được lợi, nhỏ là Đông cung vững vàng.

Tư Thành nhịp nhịp cây quạt về phía Cư Đạo thay cho lời ngợi khen. Nét mặt giãn ra theo nét cười thoải mái khi những sợi dây sắc mảnh vô hình  nới lỏng trong chốc lát, chàng hỏi:

-Khanh thấy Hoàng thái tử của trẫm thế nào?

Đón lấy ấm trà mới hãm mang theo hương sen đằng đẵng nắng hè từ tay Đức Vượng, Phó đô ngự sử vừa thong thả xếp gọn bình rượu sang bên, vừa châm trà:

-Tuy thỉnh thoảng vẫn còn ham chơi nhưng Điện hạ rất sáng dạ, lại được bề trên dạy dỗ chu đáo nên công việc của thần với các thị giảng ở Đông cung không gặp nhiều khó khăn.

Chân mày hơi nhướn lên nhưng Tư Thành không bình luận gì. Bóng người xen vào vạt sáng bên thềm khi chàng đứng dậy. Người thực sự không có tư tâm nhất quyết không bước chân vào quan trường, chàng chưa từng tìm thấy lý do để hoài nghi điều này. Nhưng lòng tham cùng nỗi sợ không bao giờ là hai thứ có thể giữ được ở thế cân bằng.

-Tấm lòng của phụ mẫu ở đâu cũng như trời bể.

Câu nói lặng lẽ thoát ra làm chính Cư Đạo ngẩn người, ngỡ như mình hãy còn là kẻ năm xưa vừa mất chức lại gặp ngay được vị thân vương từng lưu lạc trong dân gian rồi nên một tình bằng hữu. Khi ấy, ngài chỉ hỏi tên ông với cặp mắt đen sáng lên tia nhìn vừa chính trực vừa rạng rỡ, lại thêm chút hiếu kì. Hoàng đế ngày ấy cũng như lúc này, quay lưng lắng nghe rồi giơ cao chén trà thay cho lời mời. Bất giác, Cư Đạo chợt cúi đầu. Chốc sau, bắt được ánh mắt gợi ý của Đức Vượng, ông liền nâng vạt áo ngồi lại ngay ngắn rồi cẩn trọng xếp bàn cờ.

Rời tay khỏi quân tốt, Tư Thành nhìn thế trận rồi nói:

-Vừa rồi Giám sát ngự sử Quản Công Thiêm bị hạ ngục do nhận tiền hối lội, mắt nhắm mắt mở việc Hán Tông Nghiệp bớt xén quân nhu. Công phát giác này của Lương Cảnh Nghị không nhỏ, trẫm đang tính cả mới lẫn cũ xem nên thưởng thế nào cho phải.

Thu tay về sau khi lui xe, Cư Đạo thong thả:

-Nếu vì việc ở Đông cung thì đó là nhiệm vụ, chúng thần đâu dám…

Xua xua tay, chàng gạt ngay đi:

-Không phải, trẫm đang nói việc năm rồi, Trực học sĩ đề xuất cắt giảm một nửa sắc quân tại các sảnh, viện và thợ ở cục Bách tác, cho họ về quê phụ giúp gia đình lúc vụ mùa. Cái tính biết lo lắng đến cuộc sống của dân chúng đáng được ban thưởng. Có lẽ nên gia thêm cho hắn chức cấp sự trung ở Công khoa. Khanh thấy sao?

Cách đặt vấn đề của Tư Thành khiến Phó đô ngự sử Nguyễn Cư Đạo chắp tay khen mấy chữ “anh minh” nhưng trong bụng ngổn ngang thắc mắc. Nâng chén trà lên, hàng lông mày khuất sau tay áo rộng chau lại khi ông ngẫm nghĩ. Vị trí ở Công khoa gắn với giám sát Công bộ, chuyên lo việc xây đắp, sửa chữa thành trì, đường xá dường như có điểm không hợp lắm với tài học của Lương Thế Vinh.

Còn chuyện năm ngoái, đề xuất được quan gia ban khen kia ngoài mặt thuộc về Thiếu khanh Lê Đình Tuấn của Thái Bộc tự. Đằng sau, chẳng ai lên tiếng tố cáo việc nẫng tay trên đó vì không muốn dây dưa với kẻ được Trình Phong hậu thuẫn. Ngay đến Thế Vinh cũng làm như không hay thì kẻ nào có cớ nói ra nói vào? Thế nên Cư Đạo không nghĩ ra tại sao quan gia lại biết tường tận rồi âm thầm đối đãi như thế với một trực học sĩ nho nhỏ ở viện Hàn lâm. Dẫu rằng về lý, đại cục quan trọng nhưng tiểu tiết cũng không thể bỏ qua nếu muốn đắc nhân tâm, muốn dùng người để lợi mình.

Ván cờ đến hồi tàn, ấm trà đã cạn, Tư Thành ra hiệu cho Phó đô ngự sử họ Nguyễn có thể lui. Quân cờ để mộc nổi lên những đường vân gỗ sẫm màu xoay xoay giữa những ngón tay như món đồ chơi. Thấy người chưa ra đến cửa, Tư Thành liền vui miệng:

-Cư Đạo, khanh nghĩ thế nào về quân tướng?

Bước chân giật lùi khựng lại, người đàn ông ngẩng lên bối rối. Ông ngẫm lại thái độ của nhà vua, lại nghĩ đến hoàn cảnh triều chính, lưỡng lự trên ranh giới không biết đây là đùa hay thực. Không phải lần đầu Cư Đạo gặp tình huống như thế ấy, có điều cả ông lẫn người đối diện đâu còn như xưa. Miễn cưỡng mỉm cười, Phó đô ngự sử chắp tay nhận thua:

-Thần không hiểu ý của quan gia.

Trả lại quân cờ về chỗ cũ, ngón tay miết theo những đường khắc sâu mạch lạc dọc ngang trên bàn cờ gỗ, Tư Thành thủng thẳng:

-Cục diện chỉ ngã ngũ khi chiếu tướng, hết cờ. Kẻ thừa mệnh trời cũng như quân tướng… nhiều khi rất vô dụng[5].

Trời đứng gió. Ngọn lửa trên chân đèn vươn lên như chiếc lá sáng rực vàng cam. Vọng theo chiều dài gian phòng trong hành điện An Bạc là tiếng cười sang sảng của Hoàng đế khi nhác thấy nét mặt đổi sắc của Nguyễn Cư Đạo. Ra hiệu cho Đức Vượng tiễn chân thần tử, Tư Thành hài thòng khi thấy tay hoạn quan biết ý, vừa ra khỏi cửa đã sai đám thị nữ tắt bớt đèn đuốc rồi lại lui cả xuống.

Cây nến đơn độc tỏa quầng đùng đục trên một góc bàn gỗ, đan vào bóng tối những khoảng mờ nhòa nhập nhoạng chừng như xóa đi những đường ranh bao quanh quân cờ. Ánh sáng men theo tay áo buông rủ leo lên đầu vai rồi tan vào thinh không. Hoa đèn nổ giòn lép bép khiến Tư Thành ngoảnh lại, nheo mắt nhìn sợi bấc cháy dài cong mình theo ngọn lửa chợt sáng rực gắt gao, vẽ ngoằn ngoèo một đường gói xám vào khoảng không thâm u bên dưới những mái ngói ken đều tăm tắp. Từng giọt sáp lớn tràn ra từ cái hõm mỗi lúc một sâu thêm dưới sức nóng của lửa. Đáy mắt điểm đốm màu rung rung linh động cho đến khi Tư Thành nghiêng người thổi tắt ngọn sáng kia.

Vành trăng mờ khuất, nước gợn trời xa, tất thảy quyện hòa trong màu lam mênh mang hút mắt.

Tam canh phong lộ hải thiên liêu

Nhất phiến hàn quang thượng bích tiêu

Bất chiếu anh hùng tâm khúc sự

Thừa vân tây khứ dạ thiều thiều[6]

Tứ thơ theo mây trời tản mát, theo gió động lá non, lay hồng hoa rã cánh. Mặt kỷ trà chốc chốc lại phủ thêm xác xuân tàn tạ. Xa khỏi Đông Kinh đào tàn phai. Đêm thanh thanh nhưng làm lòng người tự nhiên trống trải bởi thiếu đi chút gì se sắt, vắng đi chút gì vương vấn ngàn tơ trong một li rượu, một chén trà.

Xuân chưa tàn, sao thanh tân đã vội vàng hụt hẫng?

.

.

.

***

.

.

.

-Mẹ bế con, bế con!

Gia Thục nhoài hẳn người ra khỏi vòng tay bế bồng của Thượng Phúc khiến hắn la oai oái van xin nữ chủ nhân đừng nghịch nữa kẻo hắn phải tội. Đón lấy con bé, Ngọc Hồ nghiêng đầu cười, vỗ vỗ nựng nịu bên má bầu bĩnh ửng hồ kia:

-Cô quên rồi sao? Giờ mợ đang có em bé nên không bế cô được. Cô đã hứa với ông là không tranh mẹ với em bé mà.

Môi dưới trề ra phụng phịu, đôi mắt đen tròn liếc nhìn người phụ nữ đang được Thụy An đỡ ngồi xuống cái ghế dài gần đó nửa thèm thuồng nửa không cam lòng. Từ từ tuột xuống khỏi người Ngọc Hồ, Gia Thục lon ton chạy lại, hất tung đôi giày thêu hoa đào trên nền gấm đỏ để đu lên cái ghế. Ban đầu, con bé chỉ ngồi xa xa, mái tóc tơ chấm vai rủ xuống khi nó cúi đầu dận giỗi, nhưng thỉnh thoảng lại đưa mắt liếc trộm Hải Triều một cái. Cắm gần dán xuống trước ngực, con bé ấp úng nhỏ như tiếng muỗi kêu:

-Mẹ… em bé… con muốn…

Ngả theo đà kéo của Hải Triều, cô bé soài người về phía nàng, dụi dụi chóp mũi lạnh cóng vào lớp áo bông phảng phất hương hoa nhàn nhạt. Nhìn bàn tay mình được nắm lấy rồi từ từ đặt lên bụng mẹ, bờ môi Gia Thục bất giác mím lại, vừa căng thẳng vừa e dè như sợ làm vỡ cái vỏ trứng mỏng. Ngẫm ngợi hồi lâu, cô bé ngó nghiêng không thấy người lớn phản đối gì nên len lén cúi hẳn người, áp tai lên bụng Hải Triều.

-Con chẳng thấy gì cả!

-Vì em còn nhỏ, chưa chơi với con được.

Giọng đáp lại êm êm theo nhịp vuốt ve xuôi theo mái tóc tơ mềm rồi men theo gương mặt cô bé. Mấy đầu ngón tay lành lạnh thoang thoảng hương thơm thảo mộc ấy chút nữa vỗ yên được hàng loạt câu hỏi trong đầu cô nhóc lên năm. Đột ngột, Gia Thục trở người nhỏm dậy, thì thào:

-Thế ngày xưa, xưa thật là xưa ấy, con có bé xíu rồi nằm trong bụng mẹ như thế không?

Ánh mắt trời hắt qua đầu vai gầy làm ánh lên trong đôi đồng tử bé gái một sắc nâu nhàn nhạt êm mềm, chờ đợi. Khóe miệng cứng lại nhưng rồi lại nhích cao phá vỡ nỗi thắc thỏm, lẩn tránh trong khoảnh khắc. Hải Triều chưa kịp đáp đã thấy Thụy An tiến lại, đặt mấy cái oản đường bé bằng ngón tay cái bọc trong giấy xanh đỏ vào tay Gia Thục:

-Trẻ con ai cũng từng thế cả. Cô ăn đi hẵng nào, để mợ cô còn thở với chứ. Cô có thích uống trà không để tôi pha?

Còn lúng búng đồ ăn trong miệng mà con bé đã định trả lời, nhưng nghĩ thế nào nó lại mím môi nuốt xuống, còn đưa tay vỗ vỗ ngực cho xuôi rồi mới đáp:

-Thích ạ! Ô… tay mẹ lạnh thế… Cha bảo phải làm thế này này là ấm lên ngay!

Mấy đầu ngón tay phủi phủi bột đường dính trắng bên cái miệng chúm chím kia vột rụt lại khi con bé giật mình. Nhưng Hải Triều không nhanh bằng Gia Thục, đành tựa người ra sau ghế, mặc cho con bé lấy gan bàn tay bé bỏng, ấm sực chà chà bàn tay mình. Hàng mi rung lên như nhành cỏ đón gió xuân, buông vệt bóng mờ lên nước da trắng tái. Nàng cúi thấp đầu khi bắt gặp ánh mắt của Thụy An, từng chút từng chút một cảm thấy thứ bị chạm tới không chỉ là một bàn tay.

-Công tử sao cứ đứng đó mãi? – Kiến Chương sốt ruột gõ gõ tay trên lan can trà đình, thiếu nước chạy xuống tận nơi cạnh cậu chủ nhỏ. Bên khoảng đất trống có đám trẻ con không ngại trời hãy còn rét lạnh, nửa người đánh trần quần nhau trong sới vật tự chúng dựng lên. Tranh đứng khoanh tay cạnh gốc si già, chỉ thấy lưng áo gấm màu tam giang mà không ai thấy vẻ mặt nó.

Sợi dây son đung đưa theo cây quạt ngà lóng ngóng khi xòe khi khép như một món đồ chơi trong bàn tay bé nhỏ Gia Thục. Điểm màu ấy thu hút ánh nhìn của Lê Tranh, nhưng vừa thoáng trông Hải Triều nhìn xuống, cậu bé đã quay đi. Cây quạt đó rất quý, quý bởi ngà voi, bởi tài nghệ cắt gọt, chạm khắc của nghệ nhân phường Tả Nhất nhưng lại không được yêu thích bằng cây quạt giấy. Điều ấy chỉ mình Tranh biết, biết không bởi được ai đó nói cho nghe. Khi lớp giấy xòe rộng xẻ không khí một đường dứt khoát với thanh điệu vui tai, cổ tay xoay tròn làm sắc trắng nghiêng đổ nhưng không rơi rớt mà gấp lại gọn gàng chỉ bằng một cái phẩy tay. Cảnh tượng đùa bỡn đó quả thực… Vỗ vỗ lên má để khỏi nghĩ linh tinh, Tranh phồng má, khoanh tay trước ngực.

.

.

.

.

“Bị đánh có khóc nhè không Hoàng thái tử? Sao, định giận cả cha lẫn mẹ hả?”

Câu hỏi của phụ hoàng bất chợt vang lên khiến đôi má đứa bé nóng bừng. Tranh muốn lắc đầu nhưng nhớ ra xung quanh làm gì có ai, đây cũng không phải sân luyện võ quen thuộc. Phiến lá rơi nghiêng sượt qua đỉnh đầu, đáp xuống vòng tay cậu nhóc. Cúi thấp đầu, Tranh phe phẩy chiếc lá nửa vàng nửa xanh loang lổ, nét miệng từ từ giãn ra khi nhớ lại những lời khi ấy kể cho phụ hoàng nghe. Người nghe rất chăm chú, không vì tình tiết dông dài từ chỗ này vòng sang chỗ nọ mà chán nản, đôi mắt luôn lấp lánh vừa thích thú, vừa như đang cười. Cuối cùng, phụ hoàng cười thật, người còn vẫy tay bảo Tranh ngồi nhích lại gần.

“Phụ hoàng và phu tử dạy con phải rõ vị trí, bổn phận của mình để làm cho đúng. Tôn ti trật tự không được lộn bậy. Rõ ràng bọn chúng sai, tại sao mẹ lại…”

“Phụ hoàng tự nhiên nhớ đến một chuyện. Con muốn nghe không?” – Ra hiệu cho Tranh im lặng, cha nheo nheo mắt nhìn nó rồi thong thả tiếp lời – “Lúc trước ở Đông Kinh cũng có một đứa bé vì đánh nhau thua nên phải chịu phạt. Khi đó, đứa bé nghĩ mình đường đường là quý tộc mà phải chui qua háng đám trẻ nhếch nhác thì mất mặt quá nên đã vặc lại. Lời nói ra như bát nước hắt đi, không những chẳng ai tin mà họ càng được thể chế giễu. Thế là đánh nhau một trận ra trò”.

Vị ngọt bùi vỡ tan, giòn rụm của chiếc kẹo lạc óng ánh màu đường trong vắt cha đưa cho hôm ấy, giờ vẫn như thứ gì dìu dịu chảy tan trong lòng đứa bé, làm mềm đi điều chi cứ gai lên không phục pha lẫn đắng chát tủi thân – thứ cảm xúc Tranh chưa từng có, dù là khi nhìn mẹ chiều chuộng Gia Thục hơn nó rất nhiều.

“Đứa bé thấy việc làm của mình rất anh hùng, không vì hoàn cảnh mà đánh mất tiết tháo của bậc quân tử.” – Đặt bát nước chè xuống, cha nhìn lại Tranh, nét cười trên môi đậm hơn khi đón lấy cái gật đầu tán đồng kia. – “Nhưng mẹ nó không nghĩ vậy. Bà nói, một khi đã nhập cuộc chơi thì ai cũng như ai, không thể vì bất kì lý do gì mà làm trái luật lệ định trước. Bà lại hỏi, nếu đến một ngày, thằng bé không còn là quý tộc nữa thì sao?… Con nghĩ thế nào?”

Tranh nhớ mình đã gãi đầu ấp úng khi cố lục tìm trong óc điều gì khả dĩ, đã lúng túng khác hẳn những khi đối diện phu tử ở Đông cung. Nó không muốn chịu thua bất kì một câu hỏi nào, nhất là những thử thách của phụ hoàng.

“Thằng nhóc nghĩ việc sinh ra mang thân phận quý tộc là thuận ý trời. Cao thấp khác biệt, dưới phải tôn kính trên, theo lễ giáo mà cư xử, chuyện ấy có gì phải tranh cãi? Người mẹ nghe thế, lắc đầu nói: ‘Nếu vậy, người khác cúi đầu là vì con mang cái danh sang quý hơn họ, khiến họ sợ phải tội mà thôi. Lên voi được thì cũng xuống chó được, một ngày kia đánh mất địa vị, con lấy gì để người ta kính nể?’… Phụ hoàng nghĩ, mẹ con cũng giống thế nên mới không bênh con”.

“Mẹ chẳng bênh con bao giờ!” – Thở phì ra một cái, nó ngúng ngẩy đôi chân, chưa hết oan ức mà kể một mạch – “Bao giờ mẹ cũng hỏi ‘ai sai’ đến khi nào con phải nhận mình sai mới thôi…”

Cây quạt gập lại theo cái trở tay nhanh như cắt của phụ hoàng gõ lên cái trán bướng bỉnh của Tranh. Người không phật ý, không mắng mỏ mà chỉ trầm ngâm như nhìn về nơi nào rất xa sau đôi mắt ngạc nhiên của cậu con trai trước khi kéo tay nó đứng dậy.

.

.

.

.

Chợt, những tiếng huỳnh huỵch từ bên kia sới vật truyền tới cắt ngang hồi tưởng của hoàng tử nhỏ. Tranh dợm bước lại gần, nghển cổ để nhìn rõ đứa bé đang lồm cồm bò dậy. Thằng bé ngạc nhiên lắm vì cậu kia từng đánh bại nó hồi năm ngoái, miếng vật đâu ra đấy, không phải hạng gà mờ. Ánh mắt chuyển tới kẻ chiến thắng, đứa này thì Tranh không biết, đám trẻ kia hình như cũng không hay nên chẳng hò reo ăn mừng mà chỉ liếc nhìn nhau, nhăn nhó mặt mày. Cái kiềng viền một đường màu vàng sáng loáng trên vòm ngực săn chắc của đứa bé nọ, rung rung theo cái hất mặt thách thức:

-Còn đứa nào dám đấu không?

Tiếng rù rì như đám côn trùng tản mát theo cùng những cái cúi đầu, nghiến răng, chau mày tức tối nhưng cam chịu. Tranh ngẩn vì thường đám nhóc chơi theo hội, chưa bao giờ thấy cảnh đa số lại bị lép vế thế này. Nó nhích gần lại. Thằng bé kia đưa tay vuốt cái đầu tóc tai ngắn ngủn cắt gần sát sọ, kể cả:

-Thế là chúng mày nhận thua? Thua thì…

Cánh tay theo đà thõng xuống ơ hờ đột nhiên dùng lực, ngón trỏ dứt khoát chỉ vào khoảng trống giữa hai chân đã dạng ra. Thằng nhóc đứng như xuống tấn, khoanh tay trước ngực chờ đợi điềm nhiên. Trông dáng vẻ ấy, tự nhiên Tranh thấy vui vui, niềm vui nếu để Hải Triều biết được nhất định sẽ nghiêm mặt tỏ ý không vừa lòng. Cái thế thắng bao giờ chả dễ, suy nghĩ ấy làm khóe miệng Hoàng thái tử trĩu xuống vì cố ghìm tiếng cười khùng khục trong cổ họng. Đám nhóc đứa nọ huých đứa kia, lầm bầm không rõ là trách cứ hay đùn đẩy, nhưng cuối cùng cũng có đứa đầu tiên chịu đứng ra.

Dải dây buộc quanh quần vừa thoáng chạm đất khi cậu bé kia khom người, một tiếng gọi giật từ đâu làm cả hội ngơ ngác, dáo dác tìm kiếm trong đám đông lố nhố giữa buổi chợ chiều.

-Ê, khoan! Ta bảo khoan! – Tranh loạng choạng nghiêng người tránh gánh hàng rau, guồng chân chạy lại – Muốn bò muốn quỳ gì cũng từ từ hẵng.

-Cậu hoàng lại muốn gì đây? – Nóng nảy hất tay Tranh ra, thằng bé kia gắt – Tránh ra!

-Sao? Thua mà không dám nhận hả? – Đứa kia dài giọng hỏi dồn.

-Ông mày nói một là một, hai là hai. Chui háng thì chui háng, ông xá gì!

Dùng sức nhưng không hẩy được thằng nhóc phá rối, ngược lại còn bị nó mượn đà xô sang bên. Cái miệng mới há ra nửa chừng đã sượng cứng.

-Võ biền! – Tranh lừ mắt, hất đầu về phía kẻ thắng cuộc – Nó đứng về hướng Bắc, mặt quay về hướng Nam. Anh quỳ trước nó, nó khinh cho chứ còn lâu mới nể anh là người thượng võ!

Đám trẻ từ khi có biến đã nhanh chóng sáp lại gần. Vài đứa kéo thằng nhóc đen đúa tên Tèo kia đứng dậy, vài đứa lại gãi đầu gãi tai chẳng hiểu đầu cua tai nheo gì. Chuyện chỉ loanh quanh trò cá cược của lũ trẻ ranh, ai thua thì phải chui qua háng đứa thắng, bỗng nhiên đèo bòng hướng nọ hướng kia làm cả lũ thầy đầu óc quay như chong chóng. Chậm rãi quay lại đối diện đứa bé kia, Tranh nhìn kĩ hoa văn, chất vải trên cái áo mở phanh ra của nó. Chất giọng nghe từ xa còn ngờ ngợ, nhưng giờ khi tất cả thu vào tầm mắt, nó dám chắc tám, chín phần kẻ thắng cuộc kia bét nhất phải là cậu ấm nhà khách buôn người Ngô nào đó ở Đông Kinh.

-Lằng nhằng quá! – Thằng kia thúc, nheo đôi mắt hẹp đánh giá kẻ phá rối rạch giời rơi xuống – Chúng mày định đánh bài chuồn đấy hả?

-Con lạy cậu hoàng! – Tèo chắp tay về phía Tranh, dài giọng – Mời cậu nhấc gót ngọc tránh ra cho con. Chúng con không phải ai cũng như cậu đâu!

Chân trái nhích bước sang ngang chặn đứng đà bước tới, Tranh định mở miệng thì lại người cũ can ngăn.

-Lại gì nữa đây? Chúng mày không ba bữa gây một trận nhỏ, năm bữa gây một trận lớn thì không chịu được à? – Cậu thiếu niên có vẻ là thủ lĩnh bước nhanh tới, đưa túi đựng giấy bút cho một đứa rồi hỏi qua chuyện, sau mới nói đến Tranh – Ý chú em thế nào?

Trừng mắt nhìn lại vẻ thách thức của thằng bé kia, Lê Tranh đè hơi thở gấp gáp xuống, chậm rãi nói từng chữ, từng chữ:

Thánh nhân Nam diện nhi thính thiên hạ. Chỉ cần nó không đứng về hướng Bắc là được!

Lời vừa dứt, Tranh chợt giật mình bối rối. Cậu thiếu niên nhìn lại nó, cái nhìn nhanh nhưng kĩ càng như thể đây mới là lần đầu gặp mặt. Phẩy tay dẹp đi những tiếng ì xèo thắc mắc của lũ choai choai, cậu ta cười cười nhìn Tranh rồi nhìn thằng bé người Ngô:

-Đều học qua Kinh Dịch rồi? Xưa nay, Thiên tử quay mặt về hướng Nam để cai trị thiên hạ. Trời Nam có vua Nam, nay chúng mày quỳ như vậy còn ra thể thống gì?

Sắc mặt sầm xuống nặn lấy một nụ cười méo mó, nghiến răng nghiến lợi. Thằng bé kia lặp lại, đe dọa hơn:

-An Nam Quốc vương còn phải đợi Thiên tử bản triều sắc phong, theo lệ cống nạp xưng thần. Chúng mày có tư cách gì mà hoạt ngôn xảo biện? Chui hay không chui?

-Chui! – Cậu thiếu niên khảng khái vui vẻ đáp lại – Nhưng từ đầu không giao kèo cụ thể, giờ sao phải bức ép nhau? Mỗi bên lui một bước, có phải êm xuôi không?

Nhốn nháo, cấp tập chợ búa nuốt trọn lấy đôi lời con trẻ. Quay người chạy như bay về hướng ngược lại, vẻ mặt giả vờ đắc thắng nhưng không che dấu được hết hậm hực kia làm trái tim nhỏ đập dồn phấn khích trong lồng ngực Hoàng thái tử. Lách người qua những gánh hàng, quơ tay giữ lại chậu cây cảnh suýt đổ vì cành lá móc vào tay áo, Tranh ngước mắt nhìn cầu thang gỗ rồi cứ hai bước một leo lên.

-Mẹ ơi, con đã… – Đôi mắt thằng bé sáng lên, cái miệng nhoẻn cười hấp tấp nói chen trong nhịp thở hổn hển.

-Mẹ nhìn thấy rồi.

-Mẹ, con còn nói…

-Mẹ nghe thấy rồi.

Từng chữ êm êm như mưa xuân li ti rơi trên cánh hoa mỏng, đến lúc ấy cậu bé mới nhận ra Hải Triều đứng bên lan can, nàng chỉ vừa kịp ngoảnh lại theo tiếng gọi gấp gáp. Kiến Chương bưng chén tới, cúi đầu vừa giấu nụ cười, vừa che đi điều gì như hối lỗi:

-Cậu chủ uống chút nước hẵng. Mợ bảo con đi xem cậu thế nào, nên là…

Lắc đầu quầy quậy tỏ ý không phật lòng, cậu bé không để tâm đến chèn nước mà bước tới thật nhanh, bàn tay nhỏ bé ấm sực nắm lấy mấy ngón tay xương xương của Hài Triều. Đôi gò má phúng phính ửng hồng lên không phải vì chạy gấp, càng không vì niềm phấn khích mà chiến thắng be bé mang lại. Hàng mi chớp động xóa đi nét lúng túng, thèn thẹn trong đôi đồng tử trong trẻo, tròn xoe.

-Con… nói xin lỗi mọi người rồi.

-Vậy là con có thêm bạn đúng không?

Vội buông tay Hải Triều ra, Tranh hướng vế phía đám trẻ đang đứng túm tụm bên dưới vái chào một cái nữa. Ý nghĩ không biết đám trẻ kia có thấy mình nhào vào lòng mẹ hay không làm vành tai cậu bé nóng ran. Len lén ghé mắt trông, gương mặt nhìn nghiêng với nét cười dìu dịu như mang theo một tiếng thở ra nhẹ nhõm của Hải Triều khiến Tranh ngây người. Vẻ trìu mến khi thấy đám trẻ con vòng tay lễ phép chào hỏi kia đôi phần giống những khi nàng lặng yên ngắm nhìn những hoàng tử, công chúa khác nô đùa trong vườn thượng uyển. Có điều dường như có thứ gì đó mất đi mà Tranh không rõ, chỉ biết cái mất mát tạm thời này lại làm lộ ra… Cậu chẳng gọi tên được, có vò đầu bứt tai cũng không biết nói làm sao, nếu có phụ hoàng ở đây thì chắc chắn người sẽ biết.

-Con nghĩ gì thế? – Tò mò nhìn lại đứa bé, Hải Triều nhẹ giọng hỏi.

Vừa toan chối, Tranh chợt khựng lại khi nhớ ra điều chướng tai mà trong một thoáng, thằng bé đã vì vui mà quên mất. Ngón tay lần lần nắm chặt mép tay áo, nó cúi đầu nhỏ tiếng nhưng âm nào cũng rành rọt:

-Thằng kia nói phụ… quan gia chỉ là Quốc vương của tiểu quốc An Nam, phải quỳ gối xưng thần. Nó… nó dám…

Lời nói tắc nghẹn khi cậu bé mím môi. Đôi lông mày chau khít làm vầng trán trắng mịn hằn lên hai rãnh sâu. Mái tóc Tranh ẹp xuống theo nhịp vỗ về của Hải Triều, cậu nhóc thoáng ngẩn người vì nụ cười như thể nghĩ lại chuyện gì xa xôi lắm của mẹ.

-Việc lớn như thế, người bên ngoài nói trắng là trắng ngay, đen là đen ngay? Họ vừa gọi con là dân An Nam thì con liền là vậy? Hai chữ Đại Việt từ đâu mà có chứ. – Nàng nhìn xuống, đôi mắt đen bao trọn lấy gương mặt hãy còn nguyên nét trăn trở trẻ con. – Với cả, quỳ chưa chắc đã là thấp, đứng chưa hẳn là đã cao.

-Giống như… – Ngẩng đầu lên, nỗi hậm hực ấm ức trong một chốc bay biến, nhường chỗ cho đôi mắt ngời sáng khi Tranh nhớ ra điều gì hệ trọng lắm – Bảo Nghĩa vương[7] của triều trước mà mẹ kể… “Ta thà làm quỷ nước Nam, còn hơn làm vương đất Bắc”.

Vừa thấy mẹ hé môi chắc định cất lời khen, cậu bé liền lảng đi. Đứng sát cạnh Hải Triều, Tranh ưỡn ngực nhìn Gia Thục:

-Em đừng ăn nữa, chúng mình về thôi!

Nghĩ đến trọng trách cha giao cho cùng ánh mắt vừa ngưỡng mộ vừa vâng lời của Gia Thục, Tranh thấy mặt mình lại đỏ lựng lên. Cậu cứng nhắc gật đầu hài lòng khi thấy cô bé tụt xuống khỏi ghế, còn mình thì nắm chặt tay Hài Triều hơn một chút. Thế mà không phải, là những ngón tay mẹ bao siết lấy bàn tay nhỏ nhắn của Tranh mới đúng.

.

.

.

***

.

.

.

Thời còn đi học, không ít lần Lương Thế Vinh từng nghe bạn đồng môn nói về Đông Kinh. Đông Kinh rộng thế nào, chợ búa đông vui ra sao, rồi đến những con sông luồn trong kinh đô thuyền đậu đầy mặt nước, buồm trắng xa gần… Họ còn mơ tưởng đến cảnh bát phố tấp nập, bước chân ra cửa không gặp những cô má phấn ý nhị thanh tao, thì cũng là người quyền quý vào ra võng lọng ngựa xe đến nỗi cỏ không mọc nổi. Cái gì hay nhất, lạ nhất đều có ở Đông Kinh; mà dở nhất, tai quái nhất cũng nảy ra ở chốn này.

Khi Đình Bảo vô tình nhắc lại chuyện đó, bỗng nhiên Thế Vinh thấy đã quá lâu. Chốn quê mùa họa hoằn lắm chỉ đến khi có chiếu vua ban hay quan lớn lĩnh mệnh tuần du thị sát mới được dịp ồn ào. Bằng không vạn sự chỉ là những lời đồn thổi, dù có thật thì vẫn xa khỏi đồng áng, lợn gà. Nhưng kinh thành thì khác, là nơi một cánh chuồn vỗ nhẹ cũng có thể làm ra lay động biến thiên. Đông Kinh lở bồi theo con nước Nhĩ Hà, chỉ cần qua một đêm đã chứng kiến Cung thành đổi chủ chẳng phải một lần, càng chẳng phải một đời. Có những khi, chàng tò mò không biết những kẻ kẹt giữa thời vận ấy sẽ thế nào, ngay đây, dưới chân Thiên tử. Và giờ, đến phần chàng là người đang đi giữa những dòng chảy đó.

Nắm chắc tờ dụ cất trong tay áo, Thế Vinh rảo bước trên đường. Ai Lao chiếm Cư Động, lấn cướp ngoài biên không phải cái kim mà giấu trong bọc. Tin hôm trước bao về, hai hôm sau đã ban chiếu sai Hành tổng binh Khuất Đả cùng Nghiên Nhân Thọ mới được phong tán lý quân vụ đi đánh dẹp. Động binh là việc lớn, chuyện thuận nghịch của hoàng thất năm xưa giờ đem so lại hóa thành việc cửa đóng then cài. Là xuất ra một nghìn binh lính tinh nhuệ lại thêm cả quân đồn trú ở Gia Hưng… Từ bên vệ đường, quả bóng từ đâu lăn ngang làm Thế Vinh dừng bước, nhường cho đám trẻ í ới chạy đuổi qua. Bất giác, chàng quay đầu.

Gánh hàng oằn nặng vừa đặt xuống, các bà các cô đã xúm lại hỏi han giá cá tôm lên xuống, người xem con này, người bảo cân thứ khác. Đám người ở kì kèo mặc cả mặc lẽ từ cái thủ lợn đến quả cau lá trầu, nằng nặc bảo lên một đồng cũng không được, bà lớn mắng chết vì ngờ đi chợ điêu ngoa. Liệu có điều gì bớt vui trong câu chuyện của người qua kẻ lại, khi họ tụm lại uống bát nước chè trong quán cô hàng có cái răng khểnh đến duyên, hay khi vô tình gặp nhau ngược chiều trên phố, mở túi mời một khẩu trầu. Không thể nghe ra dù chỉ một chút xôn xao, ngần ấy năm không dài không ngắn ngay lúc này lại khiến chàng thấy mình thành khách lạ. Bên kia, những dãy nhà thâm thấp san sát lợp ngói một màu nghiêng mình xuống lòng sông thuyền bè vào ra làm vỡ tan mảnh hình còn chưa tụ lại nơi đáy nước.

Qua mấy lượt đường ngang trái phải, vừa bước chân vào chưa kịp đánh tiếng, viên thư lại va phải đứa phục dịch làm khay trà chao nghiêng, mấy cái chén rơi xuống đất vỡ nát làm ướt vạt áo trước của Thế Vinh. Vừa thấy Lê Niệm đứng dậy, chàng đã nâng cao tờ dụ trong tay, khom lưng:

-Chỉ là chút nước trà, các hạ không cần để ý. Hạ quan tức tốc đến phủ là vì tờ dụ của quan gia.

Không nghi trượng, lọng vàng, không cả quan tuyên đọc, Lê Niệm đoán chừng ý chỉ của quan gia từ Thanh Hoa vừa được chuyển về đã được trực học sĩ chấp bút theo lệnh, Môn hạ sảnh đóng triện mà thành cuộn giấy trong tay kia. Việc quân dân cấp kì, ngài liền quỳ xuống hành lễ rồi dùng hai tay đón lấy, đọc nhanh từng dòng chữ ngay ngắn. Từng chút, từng chút một, gương mặt phong sướng của Lê Niệm giãn ra nhẹ nhõm.

-Vậy là bệnh dịch ở Quốc Oai và Tam Đới đã có thể chính thức giải quyết rồi! – Thế Vinh lùi lại một bước, đỡ người đàn ông đối diện đứng dậy.

-Quả vậy, tốt quá rồi! – Cuộn lại tờ dụ, Lê Niệm nhanh chóng sai thuộc cấp người lĩnh mệnh đi lấy năm mươi quan tiền trong kho nhà nước, kẻ sang truyền lệnh cho Tế sinh đường mua thuốc bổ sung, cắt đặt thầy lang chạy chữa. – Quan gia không chỉ giải quyết việc lần này mà người còn phòng xa, hạ lệnh từ nay về sau khi ôn dịch bùng lên, lúc cấp bách phủ nha có thể dùng tiền thuế để mua thuốc cứu dân trước, không phải đợi chờ chỉ dụ của triều đình… Chết, mải công việc nên ta quên mất, làm phiền Lương học sĩ đến tận đây.

-Lời này hạ quan không dám nhận. So với Lưu thủ Đông Kinh[8] như ngài, học sĩ như tôi chỉ làm được mấy việc này thôi.

Nhìn xung quanh, Thế Vinh không cảm thấy đây là chốn phủ nha đang ngồn ngộn công việc hệ trọng, là nơi Thái bảo Lê Niệm mới rồi đã dứt khoát cấp quân Vũ khố làm viện binh cho Khuất Đả trong cuộc chiến với Ai Lao. Quan gia không ở tại kinh thành, biên giới nhiễu loạn, nơi trọng yếu nhất gắn với mất còn chính là thượng kinh.

-Học sĩ đã cất công đến tận đây, nếu không có việc gấp tại Viện hàn lâm thì xin nán lại thưởng chén trà hẵng. – Lê Niệm nghiêng tay tỏ ý mời, đoạn ôn tồn nói với người dưới đang lúi hún dọn dẹp chỗ tanh bành ngay dưới chân Thế Vinh – Mới chỉ có thể này mà đã đổ vỡ, giặc chưa tan, bệnh dịch chưa lui chắc các người đốt hết một góc phủ nha này trước rồi.

-Đó là vinh hạnh của hạ quan. – Thế Vinh cười đáp tạ vẻ hóm hỉnh của Lê Niệm – Thú thực, tôi có chuyện muốn xin ý kiến của các hạ nên mới mượn việc đến tận đây.

-Khéo xếp cũng không bằng được một chữ duyên, Lương học sĩ, mời!

Than hoa cháy đượm trong hỏa lò, tỏa hơi ấm dễ chịu xua đi cái khô buốt của sáng tháng hai heo hắt nắng trời. Khô hạn, giặc giã, bệnh dịch, tất cả cùng rủ nhau đến một lúc, làm mắt không ít người sáng lên như hổ đói rình mồi xem Lê Niệm liệu có ngã ngựa hay không. Tờ dụ mới khô mực dấu kia hẳn như cứu cánh, là may hơn khôn chứ có kể là gì. Đấy là những lời xì xào Thế Vinh vô tình nghe được.

-Học sĩ không tin một võ quan lại biết thưởng trà? – Nhẹ mở cái hộp, lật giở lớp giấy bản để hương trà mạn sao khô lan ra thoang thoảng, Lê Niệm thủng thẳng cất lời, nửa giống như đang tự nói với mình.

-Hạ quan đâu dám! – Thế Vinh rời mắt khỏi bộ đồ trà, sửa lời nhưng không vội vã. Chàng tự nhiên ngồi lui vào sâu hơn trên cái ghế của mình. Trà vừa bỏ, nước trong siêu đồng vừa độ sủi mắt cua nên được nhắc xuống. Làn nước tỏa khói mờ tràn ra, nhuộm sẫm thành ấm đất trơn mịn. Đã từng được nghe dăm chuyện về thú thưởng trà tàu chơi ấm tử sa, biết vật bé con con trong bàn tay ấy giá trị đến nhường nào, phải cất công mang về từ nước Minh ra sao… nhưng hiếm lắm Thế Vinh mới được nhìn tận mắt. Màu ấm kia không phải vật nuôi lâu nhưng cũng chẳng phải đồ mới sắm.

Cái chén con sâm sấp thứ nước vàng trong trẻo đưa tới. Lê Niệm tặc lưỡi:

-Kinh thành chỉ toàn dạy hư người ta thôi… Chẳng hay Lương học sĩ có điều gì muốn biết?

Lời còn chưa nói đã có kẻ chạy vào báo tin. Bên ngoài phủ có dăm kẻ tự xưng là nhà buôn, phú hộ ở phía Nam kinh thành muốn gặp Thái bảo vì có việc gấp cần bàn. Lê Niệm không tiếp, chỉ chuyển lời bảo đám người đó có công ắt có thưởng, cứ về nhà đợi. Nhấp môi vào chén nước, ông trầm ngâm giây lát rồi nhìn vị học sĩ trẻ tuổi trước mặt, bên khóe miệng hơi trĩu xuống:

-Tin tức ở Đông kinh lúc nào cũng rất nhanh. Quốc khố mới xuất ra năm mươi quan mà bọn họ đã đến đòi cả vốn lẫn lãi rồi… Sao, đám người đó đã giải tán chưa?

Tên lính hầu vừa bước chân qua bậu cửa đã gãi đầu ái ngại, nhìn nét mặt khách, nhìn nét mặt chủ rồi mới lúng túng:

-Thưa ông, chúng con phải vờ động kiếm họ mới chịu ra về. Có điều… có điều…

-Đám người đó bảo ta lúc cần thì mượn danh đồng hương, được việc rồi thì lật mặt tráo trở?

Lý do hóa ra là vậy. Đặt cái chén chỉ còn trơ lại chút cặn trà đen lấm tấm xuống, Thế Vinh hướng ánh mắt vào bát hoa thủy tiên chỉ còn lại một bông cũng gần tàn. Người ta nhỏ to không biết ngài Thái bảo Kỳ quận công xoay sở tiền của ở đâu để cầm cự trong lúc đợi chỉ dụ của quan gia, khi mà hôm nào cũng phát hiện thêm người nhiễm bệnh. Quốc Oai, Tam Đới sát nách Đông Kinh, thế mà chưa loạn, chưa đâu loạn như có kẻ thầm mong thế.

Lại nghĩ đến những nhà giàu có đồng hương với ông Thái bảo, nay đang sống ở phía Nam kinh thành… Từ nhiều năm trước, dân Thanh Hoa có của ăn của để rủ nhau lên kinh sư mở mang buôn bán, lựa đất phía Nam loanh quanh mấy làng như Kim Liên, Kim Hoa làm nơi sinh sống. Đất chỗ đó nghe đâu mỡ màu, chưa kể chỉ đi một chốc đã gặp toàn nơi bóng rồng bóng thánh từ trấn phía Nam kinh sư, tòa Khâm Thiên Giám rồi đến đàn Xã Tắc. Phong thủy nhường ấy nên lắm kẻ muốn nhảy vào. Việc dân sinh trước nay phải trình lên phủ doãn phủ Trung Đô trước, chiếu theo phép nước mà làm, nay được việc được thời, họ tìm đến tận đây ngã giá với ngài Thái bảo không lạ lùng gì, chỉ không biết ông sẽ giải quyết cái thế này ra sao.

Cúi đầu cảm tạ khi Lê Niệm châm thêm trà, Thế Vinh vào thẳng chuyện chính:

-Hồi trung tuần, chỉ huy sứ Vũ Lâm quân là Lê Tông Vĩnh bị tố cáo khai man tập ấm để được bổ làm quan. Tôi đã tra bên Lại bộ nhưng không thấy vì thư tịch liên quan hoặc là thất lạc, hoặc không được ghi chép rõ ràng.

Ngưng lại một chốc, đôi mắt người đàn ông trẻ làm như vô tình nhìn về phía trước, đón lấy nét mặt chăm chú lịch sự của ngài Thái bảo. Thoáng nghĩ đến Lê Niệm cũng tiến thân từ con đường tập ấm mà bước lên được vị trí này, Thế Vinh chợt thấy thú vị hơn hẳn mà tiếp lời:

-Hạ quan được biết cha của chỉ huy sứ Tông Vĩnh là Tổng quản Lê Nguyên từng là thuộc hạ của Thái bảo khi ở An Bang. Chẳng hay ngài có thể cho tôi biết thêm điều gì có ích? Việc khai man này là thật hay là cố tình vu cáo đều cần một đáp án rõ ràng.

Đưa chén trà dưới mũi, Lê Niệm ngẫm nghĩ một hồi trong khi chầm chậm thưởng thức mùi hương chan chát. Không phải ông không biết đáp thế nào. Càng không phải vị tướng lão luyện ấy cảm thấy lạ lùng khi một trực học sĩ viện Hàn lâm lại quan tâm đến việc đấu tố tập ấm nơi triều đường. Quan gia không bổ dụng, không lưu tâm đến những kẻ viết chữ đẹp, hành văn trôi chảy, hay thi thoảng đưa vài kiến nghị quanh việc phong hóa như một lễ bao phong[9]. Nếu Lê Tông Vĩnh đừng đang yên đang lành lại muốn giành lấy vị trí quyền cấp sự trung trong lục khoa thì bên văn quan đã không lật lại chuyện gia đình hắn để cản trở. Bề ngoài, đây chỉ là một lời cáo buộc nho nhỏ vô hại, nhưng sau đó là ai tham gia, ai quan sát đều đã sáng như ban ngày.

Mỉm cười trước ánh mắt hướng thẳng tới chờ đợi nhưng không thúc giục sỗ sàng, càng không chứa niềm háo hức đắc thắng của vị học sĩ họ Lương, Lê Niệm gật gù chấp thuận:

-Việc này ta sẽ sớm cho học sĩ một câu trả lời thỏa đáng. Phép nước nhất nhất y theo.

Tuy chưa tìm được kết quả cuối cùng nhưng thái độ của ngài quận công gần như một sự đảm bảo vụ Lê Tông Vĩnh sẽ không từ nhỏ hóa hư vô. Bước chân Thế Vinh hơi chậm lại khi rời khỏi phủ nha, đầu óc vẫn loanh quanh bám lấy mối bận tâm tại lần này quan gia điều binh lực lớn, là do thế giặc mạnh hay còn ý gì khác. Tuy thế, lời ấy chỉ có thể giữ trong lòng, đâu thể đem hỏi Lê Niệm hay bất kì ai. Trên đầu, nắng lọt qua kẽ mây dày đặc tô chút bụi vàng lơ lửng giữa từng không. Hàng mái ngói đều tăm tắp hai bên phố ửng lên màu cam son ấm áp. Sực tỉnh ra, tiếng nhốn nháo dửng dưng phố thị xô tới khiến Thế Vinh bất giác mỉm cười, bất giác nhớ lại vẻ trầm ngầm thư thái ban nãy của Lê Niệm.

“Đất thượng kinh… không phải vì đông mà đỡ thấy chơi vơi trống trải trong lòng.”

.

.

.

[1] “Quan hồ thiên văn, dĩ sát thời biến”: Trích trong Kinh dịch, nghĩa là (theo Đại Việt thông sử): Xem thiên văn (hiện tượng trên bầu trời, tức là xem khí âm khí dương giao hòa ở khoảng cách giữa bầu trời và trái đất) để nhận xét sự biến chuyển của từng mùa [xuân, hạ, thu, đông].

[2] Tuyên phủ sứ: Chức quan đứng đầu các thừa tuyên

[3] Vệ Trấn sóc: trấn giữ biên giới phía Bắc

[4] Trưởng công chúa: chỉ em gái hoặc chị gái đương kim thánh thượng

[5] Phóng tác theo quan điểm của chị gái tôi, Hạ An

[6] Lê Thánh Tông, “Tam canh nguyệt”, Xuân vân thi tập. Dịch nghĩa (theo LTHCLC):

Canh ba sương gió trời biển xa

Một mảnh trăng lạnh trên trời biếc

Chẳng soi đến khúc nôi trong lòng anh hùng

Chỉ theo mây về tây, đêm dài dằng dặc

[7] Bảo Nghĩa vương: tức Trần Bình Trọng (1259-1285)

[8] Chức quan lưu thủ Đông Kinh: người thay vua quản lý, giữ kinh thành khi ngài đi đánh trận, hoặc tuần du…

[9] Lễ bao phong: Nhắc đến việc năm Quang Thuận thứ 8 (1467) thay đổi thủ tục lễ bao phong các thần vào dịp tế xuân, từ đây không dùng cỗ chay mà dùng lụa để tế theo phong tục Đại Việt (theo ĐVSKTT).

7 thoughts on “[Độc huyền cầm] 2 – 13 (1)

      1. avajoo

        Hazz … com- mần mang nặng cảm thán của độc giả đó mờ. Vì đọc fic mà toàn né nam chánh ra nên ss ko dám nói nhìu đâu… Ăn guốc bể đầu ah..

      1. nguyên

        mình đọc xong cảm giác thật là ba chấm. Tưởng Tranh sẽ là đứa con duy nhất của 2 người này thôi, và họ cũng chỉ có một lần duy nhất là đêm ở bên hồ sen thôi. Không hiểu sao ví kiểu quan hệ như thế mà vẫn có đứa thứ hai. Hải Triều ở thế yếu nên phải phụ thuộc chấp nhận thì còn hiểu được. Còn một người ghét Hải Triều như Tư Thành mà vẫn còn….

        1. isis-chan Post author

          Ghét thì cũng có ghét, nhưng mà ghét như thế nào thì cũng khó nói lắm. Với cả bạn cứ nghĩ vui vẻ, hoa lá đi, người ta là vua mà, chị kia cũng đẹp mà. Ban đầu, Tư Thành cho Hải Triều là gái giang hồ, không sạch sẽ, dễ dãi. Nhưng sự thật thì cô ấy là trinh nữ. Có ghét người ta thì chỉ ghét cái mồm và xuất thân ở chốn giáo phương thôi. Nếu không muốn nghĩ đó là quan hệ nhà vua – phi tần thì có thể nghĩ là khách làng chơi với một cô đào. Như vậy thì mọi việc rõ ràng hơn rồi, một thú chơi hoa thôi❤ Với cả, những lần ngủ lại Vĩnh Ninh của nhà vua rất nhiều :v :v :v Ai bán cho tôi cái bóng đèn với =))

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s