[Độc huyền cầm – ngoại truyện] Thập lục


[ THẬP LỤC[1] ]

 

 

 

“Trầu này trầu nghĩa, trầu tình

Trầu loan trầu phượng, trầu mình trầu ta

Trầu này têm tối hôm qua

Cất trong dải yếm đem ra mời chàng

Trầu này không phải trầu hàng

Không bùa, không thuốc sao chàng không ăn

Hay chàng chê khó, chê khăn

Xin chàng đứng lại mà ăn trầu này[2]

 

 

 

[ngoai truyen 3]

 

Credit: hai.hollywood

 

 

 

-Tao biết ngay mà, các cụ nói cấm có sai! Ăn cơm thịt bò thì lo ngay ngáy, ăn cơm với cáy thì ngáy o o[3]… Của tiền nào cho lại hả giời? Mà nào phải không có chỗ để về đâu?… Thời ông sáng mắt ra chưa? Tôi đã bảo để nó vào cung làm gì?… Không cần cái tiếng của đội nữ nhạc cung vua thì nó vẫn là Tiểu Kiều của Khán Xuân cơ mà!

 

Bàn tay hờ hững cầm que đóm mãi không châm đột ngột buông xuống để vớ cái roi mây lúc nào cũng lăm lăm dọa vụt mấy đứa trẻ ranh. Ông Tuân gõ mạnh vào cạnh sập rồi đứng phắt dậy:

 

-Vâng, cái nhà này chỉ mình bà biết xót nó!

 

Thân người đẫy đà của người phụ nữ mới nãy còn vươn thẳng như chuẩn bị cự cãi lại chồng giờ thẫn thờ đổ sụp xuống. Chẳng ai ở Khán Xuân này, dù là thầy Nguyễn đi nữa, có thể ngăn được vận mệnh ấy. Nói chết là chết ngay, gọn gàng như thế, tủn mủn như thế… Chầm chậm lắc đầu, bà nhích người lại gần rồi vươn tay lấy ba nén hương. Bàn tay khum khum quanh ngọn lửa nhỏ, gom ánh sáng leo lét hắt lên vầng trán hằn những nét ngang, đong đầy đôi mắt mờ đục đi thoáng chốc.

 

-Con Oanh đã đành, rồi đến cả mày cũng thế đấy phỏng?

 

Câu nói không ra mắng nhiếc, chẳng ra gắt gỏng làm bàn chân sắp bước qua bậu cửa chần chừ. Bà trùm Tuân lặng tiếng từ lâu nhưng dư âm mỏi mệt, chán chường vẫn quấn lấy bóng đen giăng giăng qua những hàng cột gỗ. Ánh sáng nhợt nhạt lọt vào từ cái lỗ trên mái nhà bởi khuyết đi một viên ngói lợp, xiên vào không gian một đường thẳng mong manh. Không đủ tỏ mặt người nhưng nó lại làm ánh lên từng hạt bụi li ti lờ lững như bị giam chân trong căn phòng nhàn nhạt khói hương ấy. Liếc nhìn qua vai, Phượng chỉ dám lướt qua gương mặt bà trùm rồi đăm đăm nhìn ba nén hương điểm vào khoảng tối ba chấm đỏ cam sáng mờ.

 

-Mợ buồn cười thật, đâu ra cái lẽ ấy. Đã có gan chết trước mà còn đòi hưởng hương hoa của con? Đừng hòng!

 

Nàng phẩy tay khiến một bên vạt áo tung lên theo nhịp bước. Người đi qua mà bóng còn đổ lại, tràn trên bức tường nhờ sáng. Bóng dài mãi, dài mãi cho đến khi rơi cả vào vùng khuất tối. Tựa vai vào cây cột lạnh ngắt, cô đào ghé mắt nhìn khoảnh nắng ngời lên qua song cửa cách điệu hình lá hoa. Cái chết nào cũng cần một lý do dù cho lý do ấy có buồn cười, giả dối đến đâu. Bước chân vào thâm cung với phận con hát, ở nơi nam nhân chỉ có một mà nữ nhân lại quá nhiều, không cần nói thẳng cũng lờ mờ đoán được tại sao người còn kẻ mất. Nghe thấy một điều không nên nghe, nhìn thấy một việc không nên nhìn, nói ra một lời không nên nói… Lẽ sống mới ít chứ lẽ chết chẳng thiếu bao giờ.

 

Ngoài sân, đám trẻ con cong mình, khom lưng bên miệng chum sành, ê a hát những câu đồng dao quen thuộc rồi lắng tai nghe thanh âm dội lại. Thỉnh thoảng ông trùm lại gắt gỏng, lại mắng nhiếc. Cúi đầu nhìn đường vạch sáng tối rõ ràng nơi bậu cửa, Phượng cười, nét cười với một khóe miệng cong lên ẩn hiện sau tóc mái xõa dài một bên.

 

-Người chết rồi cũng đành, nhưng… con gái nhà này… không bao giờ làm ra những điều đáng thẹn!

 

Lời ấy chẳng phải của nàng. Là lời bà trùm thốt ra khi ngước đôi mắt ráo khô không phải để nhìn viên quan hoạn đến báo tin mà hướng về phía đại nhân Tuấn Ngọc. Sự xuất hiện của ngài ấy ở Khán Xuân vào thời khắc này là để xác thực hay để thương tiếc với tư cách một người quen cũ. Đáp lại ánh mắt vừa chất vấn, vừa như tìm kiếm chút đồng tình an ủi nơi người đàn bà luống tuổi, Lễ bộ thị lang chỉ lặng im.

 

Đôi môi đỏ sắc trầu mím xuống nghiến nát tiếng thì thầm. Phượng tiến tới, vươn tay xoa đầu con Lê, con Mận đang lúi húi kéo nhau đứng nép vào tránh lối. Chúng cúi gằm mặt, đung đưa cây chổi lúa hờ hững trên mặt sàn để vờ đang quét tước.

 

-Sau này chị chết đi, Khán Xuân sẽ thành của mấy đứa, biết chưa?

 

-Cô không nói linh tinh thì không chịu được à? – Ấn mấy tấm áo đã phơi khô vào tay Phượng, Kim Oanh cau mày rồi nhanh chóng lảng sang chuyện khác – Tối nay có canh hát, mau chuẩn bị đi chứ!

 

Tiếng bước chân xa dần. Cánh cửa trên gác mở ra nhưng không khép vào hết làm bao thanh âm của những lụa những the, từng cái hộp con đựng phấn sáp, nữ trang lách cách bày biện rọi vọng theo phương thẳng đứng của giếng trời. Hai đứa bé con nhìn nhau ngơ ngẩn, mắt đối mắt thâu lấy gương mặt sáng bừng lên của nỗi tò mò ngưỡng mộ. Chúng không hiểu, chỉ cảm thấy đây đó trong sự xáo trộn ngấm ngầm sâu thẳm của Khán Xuân vẫn trôi đi một nhịp chèo xuôi nước êm êm bình lặng. Mấy quan viên từng khen cô Oanh, cô Phượng hai chữ rất hay mà lúc này chịu chết, cả con Lê lẫn con Mận đều chẳng nhớ ra để dùng mà gọi cho đúng.

 

-Chị này…

 

Ngón tay nhẹ duỗi làm suối tóc buông xuống như tấm rèm lụa óng chuốt, che đậy trêu ngươi tấm lưng trắng nõn cùng dải yếm điều thắt chặt nhưng sao vẫn cứ hững hờ. Phượng hít vào một hơi, tự nhiên thấy cổ yếm tròn thít lấy dưới họng mình bức bối. Nàng căng thẳng sao? Nàng đợi điều gì? Hay nàng đương hối hận vì bắt đầu câu chuyện vốn chẳng biết nên mở lời từ đâu khi mà không tựu lại được thành câu chữ?

 

-Sao em?

 

Giọng nói thong dong hòa cùng tiếng trang sức bạc lanh canh vui tai làm Phượng sững người. Ánh sáng lọt qua khe hẹp ngăn giữa hai nếp bình phong, vạch lên gương mặt nàng một đường mạch lạc. Kim Oanh nhẹ quay đầu, ngón tay đưa lên chạm vào khóe mắt như vội lau đi thứ gì vốn không nên hiện hữu. Hàng mi rung lên theo cái chớp mắt làm lắng những tản mát, chơi vơi vào sâu trong con ngươi lặng dần sóng gợn. Gò má tròn nhích theo nụ cười tươi mới.

 

-Tối nay người đãi tiệc… chị biết rồi, phải không?

 

-Có nghe ông nói qua! – Cô Oanh nhích người sang bên nhường cái gương đồng cho Phượng. Thoáng chốc, chừng như nét bút vẽ chân mày của nàng hơi chần chừ, nhưng cuối cùng vẫn tô được đường cong lá liễu thật mềm.

 

-Không giống như khi nói về ngài Tuấn Ngọc! – Khóe miệng cong lên làm in sâu lúm đồng tiền trên gó má phảng phất sắc hồng. Phượng vẫn thường như thế, nói mà chẳng để tâm xem có khiến đối phương bối rối hay không.

 

Cây trâm vàng bị rút trơn tuột khỏi tay. Điểm lên mái tóc đen nhánh là đôi trâm hoa bằng sừng óng ánh màu vỏ trai dưới nắng. Nhướn cao một bên lông mày thay lời vừa ý, Phượng chưa kịp cất tiếng đã bị cướp lời.

 

-Vậy sao?… Cũng phải, đã từng mê muội, rồ dại đến thế cơ mà…

 

Cười hùa vào đáp lại, cô Phượng quấn lọn tóc đuôi gà quanh ngón tay rồi nhoài người trên mặt bàn gỗ, đong đưa ánh mắt:

 

-Bọn trẻ không biết chuyện đã đành, đến cả các chị em khác lâu quá rồi đâm quên, quên rồi nên không hiểu sao ngày đấy hai chị em mình có thể tranh nhau một người đàn ông vốn chẳng thuộc về ai.

 

Gó má nâng lên chợt mỏi mệt. Nàng ngước mắt nhìn cành cây vươn vào qua ô cửa sổ, đung đưa nhún nhảy những đốm nắng trên phiến lá thẫm xanh. Xốc nổi qua đi không thành lời phủ nhận những rung động tuổi hoa niên. Chỉ là với Kim Oanh, cái đọng lại rồi đôi lúc rung lên như sợi dây tơ dưới ngón tay người là kí ức, là dư âm của những điều không còn vòng vo trong hai chữ ái tình nữa. Phượng thì không. Chỉ có trống rỗng, cái trống rỗng không bởi chối bỏ mà bởi có khi chưa từng thực tâm ghi khắc điều gì.

 

-Em không thích chị… – Chỉnh lại vạt áo giao lĩnh, ngoắc ngón tay kéo đuôi dây yếm buộc quanh cổ vắt xuống vai, Phượng nhấp một ngụm nước rồi thản nhiên nói – …và cũng chưa bao giờ ưa Huyên!

 

-Nếu không phải thế tôi mới lấy làm lạ! – Kim Oanh ôn tồn đáp, ướm cây trâm hoa lên tóc rồi nghiêng đầu nhìn bóng mình trong gương.

 

 

 

***

 

 

 

Tay áo lụa hồng trượt trên nước da như trứng gà bóc. Phượng nhoài người về phía ngọn đèn, ngón tay lần lần mở từng nan quạt. Nan tre vót mịn nõn nà bằng nhau chằn chặn hãy còn vương vấn hương thơm mộc mạc, thanh thanh. Ngọn đèn in bóng quầng lửa đỏ cam trên lớp giấy trắng, thảng hoặc le lói chấm sáng xuyên qua những vết châm trên mặt quạt. Lấy đầu kim đâm xuống từng lượt nối tiếp nhau mà xếp thành muôn hình vạn trạng theo ý của nghệ nhân hay để chiều lòng khách quan? Cổ tay xoay tròn một vòng mềm mại rồi ném cây quạt lên cao. Bàn tay kia vẩy nhẹ đã mở rộng một cây quạt khác, chao qua hai lượt như con bướm tím xòe đôi cánh rộng đón lấy vật đương rơi như một mảnh trăng thu.

 

-Được rồi! – Lười biếng đón lấy cây lược từ tay con Lê, Phượng vu vơ chỉ vào cái tráp nằm lẫn lộn trong đống áo váy – Mang số thẻ tre kia xuống đưa cho ông để ông vào sổ. Rồi em cũng đi ngủ đi, muộn rồi.

 

Lướt qua mép gương đồng là đôi tròng mắt tròn xoe nửa ngưỡng mộ, nửa hãy còn thèm thuồng của đứa bé gái. Phấn sáp, lụa là, kim thoa, kiềng bạc, tiếng đàn và cả những lời tán tụng, đến cả một con bé sống ở giáo phường cũng chỉ nhìn thấy thế, không hơn. Rút ra cái hộp hãy còn buộc sợi dây hồng đào, Phượng cười rồi ấn vào tay con Lê:

 

-Cây quạt đầu tiên nên liệu mà giữ cho cẩn thận, nghe chưa?

 

Năm xưa, mợ Bạch Vân cũng cho nàng một cây quạt như thế, cho cả cái tên độc một chữ “Phượng”. Ai cũng bảo mợ ngông cuồng, đem con chữ cao quý nhường ấy gán cho một con hát miệng còn hôi sữa. Mợ nghe xong chỉ cười.

 

Năm hơi xưa xưa, đến lượt nàng cũng cho đi một cây quạt với mặt giấy trắng trước sau không hề vẽ lấy một đường, không có nổi vết châm tạo hình trang trí. Có điều đến lưng chừng, Phượng lại rút tay về. Nàng bảo:

 

“Để chị chọn vật khác. Em thì cần thêm một cây quạt làm gì?”

 

Môi đỏ cong lên phụng phịu. Con bé ít lời ấy hóa ra cũng biết ngoa ngoắt: “Tưởng cô Phượng hào phóng thế nào, hóa ra lại tiếc em một cây quạt giấy!”. Đôi đồng tử lay láy gợn sóng nước lăn tăn theo chiều thu gió thổi. Từng khoảnh khắc đơn thuần, phảng phất dăm nét ngây thơ vụng dại kia Phượng đếm được. Vì đếm được nên không thích. Vì đếm được nên bản thân nàng cũng ngại nhìn vào gương mặt mang đôi mắt ấy.

 

 

 

***

 

 

 

-Cô… chúng con còn phải làm thế này đến bao giờ?

 

-Cô, cô dạy chúng con hát mới cả gõ phách đi.

 

-Cô Phượng…

 

Những lời ỉ ôi van vỉ nào cũng hoài công. Đám nhóc con phụng phịu phồng má, xị mặt chà đi chùi lại hết mặt bàn lại đến cơi trầu, rửa hết cốc chén, siêu đồng lại quay sang tỉ mẩn lau dọn đàn sáo. Con Lê, con Mận ở Khán Xuân không phải đôi ngày nhưng chẳng biết vì đang vướng thuốc nhuộm răng hay thực lòng hiểu chuyện mà chỉ có hai đứa nó là không than nửa lời.

 

-Cô Phượng, làm thế này có phải để hát hay không? – Một đứa không nhịn được cả gan cất giọng hỏi.

 

-Con bé ngốc này! – Nàng ngoảnh lại, sẵng giọng – Đương nhiên là không rồi!

 

Thoải mái ngả lưng xuống cái sập gỗ mát rượi, Phượng phe phẩy quạt mo trong lúc nhấm nháp ánh mắt hậm hực đầy cam chịu của đám trẻ. Nàng luôn thích những khoảnh khắc này, càng thích hơn khi đợi đến lượt, chính nàng có thể nói với chúng điều trước đây thầy Nguyễn từng dạy: “Đến cả việc nhỏ nhặt mà cũng không làm được chỉn chu thì sao có thể chơi đàn, cầm phách? Phụ bạc cả sợi dây tơ thì có tư cách để làm đào nương sao?”. Bà trùm vẫn bảo Phượng là loại người hẹp hòi xấu bụng nên mới thích giở trò ma cũ bắt nạt ma mới. Bà không sai. Luận tài ăn vạ, làm loạn thì đám trẻ bây giờ còn lâu mới bằng được nàng dạo trước. Chúng nó chưa đứa nào phải chịu phạt xuống bếp nấu cơm, giặt đồ, gánh nước như một con ở bao giờ. Nàng thì đã trải qua hết rồi.

 

Ỷ mình là con nhà nòi nên hơn người khác?

 

Ỷ là cháu ông trùm nên tự cho mình quyền khác chúng bạn?

 

“Mày có mắt mà không nhìn quá được miệng giếng. Người giỏi hơn mày giời đất này không thiếu đâu con.”

 

Chẳng những không thiếu mà ở Khán Xuân còn có tận hai người. Lý do Phượng không thích Kim Oanh ai cũng nhìn ra. Mấu chốt không nằm ở tài năng, ngón nghề mà ở bản tính. Bà trùm vớ được cô Oanh như bắt được vàng, lấy làm gương soi cho đứa cháu gái ngỗ ngược. Đoan chính, kiệm lời lại thêm phần khéo léo, nàng biết cả nhưng chỉ thấy nhạt nhẽo, cái nhạt nhẽo xa vời được đám đàn ông rất ưa, nâng niu vỗ về. Còn với Huyên, chẳng ai tìm được một li một lai lí do tại sao cô Phượng lại không ưa đứa bé ấy. Đến bản thân nàng lắm lúc cũng chẳng tỏ, chỉ cảm thấy bức bối, ngột ngạt khi ở cùng một chỗ với nó.

 

“Mày nói tao chẳng hiểu gì hết. Đám trẻ con nhõng nhẽo thì mày than phiền toái. Giờ đến một con bé bảo gì cũng nghe lại khiến mày nổi điên là lẽ làm sao?” – Bà trùm Tuân lườm cô cháu, với tay tìm cái roi mây đặt gần đó toan vụt cho một trận – “Người phải xem lại mình là mày ấy Phượng ạ!”

 

 

 

***

 

 

 

Mi mắt ngái ngủ hấp háy bởi ánh sáng nhức nhối xuyên qua, gom đầy một màu vàng cam chói chang. Phượng chưa kịp chớp mắt định thần đã thấy khung cảnh dịu đi thoáng chốc khi tấm vải được ai đó tung lên, lượn bay trong nắng trời. Đám nhóc con túm năm tụm ba đứa phơi quần áo, đứa rút vải vóc đã khô. Tiếng cười giòn tan nối sang tiếng trẻ con giành nhau tấm áo mới của các cô đào rồi háo hức lén lút ướm thử. Vươn dài người trên cái chõng tre kê dưới dàn thiên lý, một tay chống lên đỡ lấy đầu, một tay phe phẩy cái quạt mo, Phượng tủm tỉm cười. Nắng rọi làm hoa văn dệt chìm óng ánh như được tráng nước, lúc tụ lúc tan khi một con bé đứng gần đó hết lật lại phủ tấm vải trên đầu. Vuông vải điều rủ mềm tha thướt trùm xuống che lấp gương mặt tròn trịa nhoẻn cười phô hàm răng sún, gieo vào lòng mấy đứa bé kia điều gì bí ẩn mà đẹp đẽ.

 

-Thôi ngay! – Phượng đột nhiên sẵng giọng làm đám trẻ giật bắn mình.

 

Bàn tay vươn ra theo cùng lời nói, giật tấm vải rực rỡ trên đầu con bé xuống khiến nó hoảng hồn mà ngã bệt xuống đất. Quắc mắt nhìn khắp lượt những gương mặt hoang mang, sợ sệt, Phượng nhíu mày, lồng ngực gấp gáp hít thở cuối cùng cũng chậm lại. Nuốt nước bọt xuống để điều chỉnh lại giọng nói, nàng cúi đầu, chẳng lớn tiếng nhưng đủ để không đứa nào dám không nghe rõ:

 

-Thứ nhất, thế là nghịch dại! Còn sống sờ sờ ra đấy, phủ khăn lên mặt làm gì? Thứ nhì, chúng mày trông lên bàn thờ ông bà ông vải xem? Nhiễu đỏ để chúng mày tùy tiện đội lên đầu thế à[4]?

 

Những đôi mắt đen tròn có gì vừa sợ sệt, vừa bối rối, lại thêm cả điều chi ấm ức. Trẻ con vẫn cứ mãi là trẻ con, cứ nghĩ trò nghịch ngợm của mình làm gì đến nỗi bị người lớn nặng lời dọa nạt. Phẩy tay bảo chúng nó lui cả, Phượng khom lưng nhặt mấy tấm vải rơi, rũ sạch rồi gập gọn lại. Lắc đầu như đuổi con côn trùng vô hình, sắc đỏ thắm nhuộm lên mắt nàng rừng rực đến thế lại không xua nổi hình ảnh nhợt nhạt xưa cũ chợt hiện về. Là ánh mắt tối thẫm của con bé ấy. Là ánh nhìn vô vị xuyên qua trên một đường thẳng giản đơn mà bén sắc. Là thứ dư vị lặng lẽ y như câu nói không trầm, không bổng: “Chỉ có người chết mới phủ khăn lên mặt thôi!”.

 

-Cũng lâu quá rồi…

 

Lời nói bâng quơ của Phượng làm Kim Oanh nhãng ra không hiểu. Cánh hoa cúc trắng nhỏ xinh nở bung trong làn nước trà, chao qua như đón gió mỗi khi nàng khẽ xoay chén gốm. Mơ hồ cảm thấy cô đào đáo để kia lại vì việc chi mà bận lòng suy nghĩ, nhưng một khi Phượng không chủ động mở lời, chẳng khi nào Kim Oanh hỏi trước. Đó là một loại luật bất thành văn ở Khán Xuân. Trên đời có khi kẻ nào cũng vậy, cũng cần, cũng có nhưng mảnh trời riêng xa vời chỉ dung chứa một mình là đủ.

 

-Hôm nay chị lại đi lễ bên Cổ Mai Đàm rồi vòng về chùa Cầu Đông đúng không? – Phượng liếc nhìn tấm áo nâu sồng Kim Oanh vắt trên sào, hỏi mà không cầu lời đáp. Nàng biết thầy u của Đại Kiều hãy còn, họ hàng lại ở mạn xứ Đoài cả nhưng với ngả bên này, chị ấy chừng như còn siêng năng lễ bái hơn nhiều. Hình như đã từ rất lâu, Phượng tin thế, nàng chưa từng thấy Kim Oanh thiếu sót mỗi dịp sóc vọng, lễ tiết bao giờ.

 

Tiếng thở dài khẽ đến nỗi cô đào không tin là thật. Nét môi cười nhạt. Đôi mắt hướng về nơi nào xa cách nghìn trùng.

 

-Biết làm sao được? Có con mà gả chồng xa… Một là mất giỗ, hai là mất con… Mà thôi, nói chuyện khác đi.

 

Đầu ngón tay khuấy bát hoa đặt trên mặt bàn, cuốn mây trời trong đáy nước tan cùng ánh trăng nhạt. Xa rồi, xưa rồi, khi đám học sinh trường Giám cùng văn sĩ khắp nơi buông lấy đôi câu trong nhịp trống quân:

 

“Trước khi hát, anh có lời rao: Không chồng thì vào, có chồng thì ra. Có chồng thì tránh cho xa. Không chồng thì hãy lân la tới gần.”

 

Các cô thiếu nữ ngây thơ chưa biết đáp sao cho xứng mấy lời chòng ghẹo ấy, vội đánh mắt cầu cứu đào nương của Khán Xuân. Có nàng còn bạo dạn ấn dùi trống vào tay Kim Oanh rồi đẩy nàng ra trước.

 

“Trống quân thời em lập nên đây. Áo giải làm chiếu, khăn quây làm mùng. Đùa vui thời dưới ánh trăng trong. Có con thời cũng hát, có chồng mà cũng chơi”.

 

-Chuyện ấy mà chị cũng không quên? – Gương mặt hơi cúi vờ thưởng trà tiện che đậy nỗi ngạc nhiên thoáng hiện. Phượng không lạ cách Kim Oanh lảng tránh mỗi khi có ai vô tình chạm đến giới hạn riêng tư, chỉ lạ khi câu chuyện đột nhiên lái theo hướng này.

 

-Nào dám! – Kim Oanh cười đáp, lờ đi ý tứ không muốn nhắc lại việc cũ của Phượng – Nghĩ đi nghĩ lại, miệng lưỡi chị sao bằng được cô.

 

-Không bằng? Vậy lúc đó cô Phượng đáp thế nào ạ?

 

Giọng nói hào hứng, tò mò chen vào cuộc nói chuyện khiến cả hai người phụ nữ ngẩng lên. Kéo cô bé vừa xuất hiện ngồi xuống, đôi mắt lá dăm của Phượng nheo lại:

 

-Thích thì tự tìm đám hội mà vui. Thế có phải hơn nghe gái già kể chuyện không? Ái chà, để tôi nhìn nào… Xem ra cũng hợp mặc áo đào nương đấy!

 

Mấy chữ cuối cùng làm gò má non tơ kia phớt hồng. Thiếu nữ cúi đầu vân vê vạt áo, cắn nhẹ lên môi dưới khiến nó thêm ửng đỏ. Một cây trâm bạc dắt vào mái tóc, một cây quạt giấy được đặt vào tay. Hàng mi rung nhẹ như lá cỏ xuân khi đôi mắt bẽn lẽn, ngượng ngùng ngước nhìn bóng mình trong tấm gương đồng. Nét môi mấp máy định nói gì liền bị ngón tay Phượng ngăn lại. Màu sáp son theo cử động của nàng nhuộm thắm môi mềm.

 

-Nhớ cho kĩ, giữ cho chặt, sau lễ mở xiêm áo hôm nay, em sẽ trở thành cô Tống Trân của giáo phường Khán Xuân. Sống như thế, chết cũng sẽ như thế. Dù phải duyên ai cũng không nương lẽ thường thuyền theo lái, gái theo chồng, đến tên mình cũng không giữ nổi, hiểu không?

 

Đôi lông mày liễu nhướn lên thay cho một lời khen, một sự hài lòng hiếm hoi Phượng dành cho ai. Nàng lặng nhìn Kim Oanh vỗ nhẹ lên bàn tay run bắn của cô gái nhỏ sượng sùng trong bộ quần áo mới. Đến run rẩy cũng thật thơ ngây. Hơi rượu bảng lảng, la đà quẩn quanh tâm trí như màn sương thu mỏng. Khép cửa lại, Kim Oanh ngoảnh nhìn, đôi đồng tử hiện lên vẻ không hài lòng đầy nhẫn nhịn.

 

-Chỉ một chén thôi. Không uống, không uống nữa! – Phượng lắc đầu rồi đưa tay gỡ tóc, chải tơi từng sợi tóc mềm cuộn trong vuông lụa hồng.

 

-Cô rồi cũng đến đoạn có lớn có khôn rồi đấy!

 

Nét miệng đỏ màu trầu thuốc cong lên nực cười. Ông Tuân vẫn bảo Phượng không nên làm đào nương vì nàng đa tình quá, ướt át quá. Cái gì cũng để hết lên mặt thì chẳng khôn ngoan. Người như vậy sẽ chết trước cả khi thành danh. Nhưng, sợi chỉ điều căng ngang khi tỏ khi mờ giữa vô tình với hữu tình, nàng nhìn không rõ, cho nên… Ngày cũ, một bàn tay bao lấy, đậy che miệng chén rượu đầy đưa tới. Chỉ cần dùng sức một chút, nàng có thể hất ra. Thế mà đến cuối cùng, ngón tay lại buông khi mắt nhìn thấy mắt.

 

-Chị này… – Nàng lấy nút lá chuối đậy chặt miệng bình rượu, cười đến mức làm vai rung lên – Khi em nói những lời vừa nãy trước mặt Huyên, đó là lần đầu tiên em thấy nó cười, cười thật. Em đã nghĩ… phải chăng con bé ở đây chỉ vì một cái tên?

 

-Thế còn cô? Cô ở đây vì lẽ gì?

 

Đáp lại nàng là đôi mắt bàng bạc mênh mang như buổi mai sương lam giăng đầy ngọn cỏ.

 

 

 

***

 

 

 

Người ta bảo vì nàng được mợ Bạch Vân cho tên nên hưởng lây cả vận đào hoa đa tình của người ấy nữa. Chứ không sao cô Phượng của giáo phường Khán Xuân có thể khiến lắm kẻ si mê như điếu đổ đến thế?

 

Hương rượu nồng quyến luyến không lộ ra dù chỉ một phần đắng chát. Những đôi đũa son lách cách trên từng cái đĩa hoa đựng nào giò chả, thịt gà; xiên vào những miếng móng giò hầm măng mềm ngậy trong bát chiết yêu bày trên mâm đồng… Những đôi môi bóng mỡ nhoẻn cười khi bặm lấy thành bát rượu. Trời đứng gió mà lại lao xao.

 

Đầu phách chạm xuống vô thanh hay thực ra chìm nghỉm? Ả đào cúi đầu, đôi mắt liếc ngang bối rối. Sát cô, anh kép thu lại miếng gảy trong bàn tay nắm, đặt khẽ cây đàn đáy sang bên. Trong góc khuất không tỏ ánh đèn, lọt thỏm sự tĩnh lặng ngượng ngập như bứt ra khỏi yếm ẩm chung quanh. Phẩy tay ra hiệu cho ca nương lui lại, Phượng trấn an cô bạn bằng một khóe miệng hơi nhếch lên. Móng gảy bằng sừng óng ả vuốt lên tơ đàn theo đường vòng cung, se kéo dải âm thanh như nước, thuần thục tuôn tràn. Đầu móng nhọn kia chạm xuống như chuồn chuồn điểm nước, cơ hồ như không dùng lực mà vẫn tấu lên những âm trong trẻo, thánh thót.

 

-Ngỡ ca trù Đông Kinh thế nào, hóa ra chỉ là một đám câu từ lổn nhổn, í éo không đầu không đũa. Còn thua xa lời hát ở Thanh Hoa. Nghe bọn văn nhân ca ngợi, ông đây còn tưởng uyên thâm bác học làm sao. Cuối cùng nhận ra chỉ là một lũ rỗi hơi vẽ trò rồi nghĩ mình sang quý.

 

Bát rượu đặt mạnh xuống bàn làm chén rượu thừa thãi đổ nghiêng rồi rơi xuống đất.

 

-Đại nhân dạy chí phải! – Mấy người khác hùa vào rồi quay sang đám con hát kép đàn – Thế này nghe mới xuôi tai! Mới đáng để các ông bỏ tiền, nghe chưa?

 

Tiếng cười ồ hưởng ứng gieo xuống cùng những đồng tiền ngổn ngang bên mép chiếu điều.

 

-Con kia, nếu mày hát ngọt một đoạn rí ren thì ông thưởng thêm. Giọng mày cũng hay, thế nên bỏ quách lối hát nhảm nhí kia đi rồi luyện cái khác cho thành thục kẻo uổng cái tài giời cho!

 

Mười ngón tay duỗi thẳng ép lên mười sợi dây đàn. Thanh âm đứt đoạn rồi ngưng bặt.

 

-Lạy ông! – Phượng hơi nghiêng đầu khi ngước lên, đôi con ngươi tròn đen long lanh ý cười lững lờ mặt nước – Nếu ông không muốn nghe ca trù thì cho gọi nhà chúng con đến làm gì?

 

Mấy người ngồi sau lưng cô đào hoảng hồn vội dập đầu tạ lỗi, còn tiện kéo tay áo Phượng cầu xin nàng bớt lời đi cho.

 

-Ôi chao ôi! Các vị nghe xem… Ngỡ tưởng Khán Xuân xuất sắc lắm, ai dè còn không biết chiều lòng khách quan bằng những chốn khác. Ai lại để một ả đào dám lớn lối với quan viên thế này!

 

Một giọng nữ hương phấn chen vào nỗi sững sờ sượng cứng của đám đàn ông. Nàng ta liếc dài về phía Phượng, ngọt nhạt:

 

-Chị bảo cho cô hay, đã là cái thân mua vui cho thiên hạ thì phải biết nhìn người mà đối đãi, mà liệu phép cư xử cho đẹp lòng. Chớ cậy được vài văn nhân yêu thích mà ở đâu cũng lôi thái độ không biết giời cao đất dày ấy ra.

 

Mặc cho những lời van xin rit rít sau những hàm răng nghiến chặt, cô đào ôm cây đàn vào lòng, cúi thấp người:

 

-Đã không thể giải khuây cho quan viên là nhà con lỗi phép, đành xin ra về vậy!

 

Được dăm bước chân, như nhớ ra điều gì, Phượng liền ngoảnh lại. Hai ngón tay vuốt theo lọn tóc đuôi gà, nàng cười đong đưa:

 

-Chị đã có lòng thì em đây có dạ. Tiếc rằng, lời chị dạy em mà nghe theo… chẳng hóa lại bảo các vị ở đây đàn gẩy tai trâu sao? Đã cho vời đến con hát giáo phường thì đều là người thạo lẽ chơi cả, nào phải loại háo danh muốn mua lấy cái tiếng đặng bằng thi nhân kinh kì đâu. Con hát bé mọn bảo gì làm nấy, có phải không ạ?

 

Lá khô xao xác đường quanh. Vành trăng khuyết mờ lấp ló sau lũy tre không địch nổi ánh đèn hồng đỏ lấp lóa cả mặt sông Tô nêm chặt thuyền bè. Ngồi trên gác thưởng rượu, cúi nhìn cảnh người buôn bán nói cười cũng là một thú vui nhộn nhịp. Còn chừng mươi bước chân nữa Phượng cũng nhập vào quang cảnh phồn hoa ấy thì sau lưng chợt nghe tiếng gọi giật:

 

-Xin dừng bước!

 

Chắc hẳn người ấy đuổi theo rất gấp nên phải mất chốc lát mới lấy lại được hơi thở bình thường. Bóng tre xào xạc hắt nghiêng của gương mặt người đàn ông ấy. Nhíu mày, Phượng chưa kịp mở lời thì người kia đã nói trước:

 

-Tiền công hôm nay xin cô nhận lấy hẵng.

 

Thằng nhỏ theo hầu giờ mới đuổi kịp, vừa nghe chủ nhân nói thế liền tiến tới đưa cho nàng mấy thẻ tre. Liếc nhìn quần áo của người đối diện, Phượng không đoán ra đây là quan lại hay chỉ là bậc phú thương, đành tặc lưỡi lựa lối nước đôi:

 

-Ấy, thầy làm vậy nhà con không dám nhận. Đang giữa canh hát bỏ về là chúng con có lỗi, mặt mũi nào dám xòe tay nhận tiền.

 

-Nhà tôi có thể không hiểu lẽ chơi lẫn lề thói kinh thành… – Người đàn ông bước tới một bước, điềm đạm coi như không nghe thấy sự châm chọc của nàng, càng như không nhớ những lời hỗn hào ban nãy – … Nhưng biết đã gọi người đến thì tất phải giả công.

 

 

 

***

 

 

 

-Mày ra đây, mày ra ngay đây cho bà! Con điếm, mày tính đũa mốc chòi mâm son đấy phỏng?

 

Tay áo sắn đến vai làm lộ ra cánh tay phốp pháp nửa kéo nửa lôi mái tóc dài của cô đào. Vừa ra đến ngoài cửa, người đàn bà hẩy tay, lẳng người cô gái nọ ngã sấp xuống sân. Buổi chợ sớm chốc lát lặng như tờ. Không ai bảo ai, tự họ đứng quây lại thành vòng tròn đủ già trẻ trai gái xì xào bàn tán. Có người còn khom lưng muốn nhìn rõ gương mặt sau mái tóc xõa xượi kia là cô gái nhà nào bị người ta đến tận cửa đánh ghen.

 

Hất mái tóc ra sau, Phượng tì hai cánh tay xuống định nhổm dậy thì bị người khác dùng chân ghì xuống sát đất. Không biết do nhan sắc trẻ trung hay vì thái độ trâng tráo không mảy may sợ hãi, gào khóc của nàng khiến người đàn bà điên máu, gạt hết gia nhân ra rồi tự mình sáp tới. Cái vòng vàng lắc lư trên cổ tay khi bà dùng lực kéo giật tóc nàng về phía sau:

 

-Mày cho chồng bà ăn bùa ăn bả gì hả cái con giời đánh thánh vật này? Mày có giả chồng cho bà không hả? Bà phải cắt tóc mày, cạo đầu mày! Cái đồ đĩ thõa… Cái đồ mặt trơ trán bóng… Cái đồ mặt dày mày dạn…

 

Chính chuyên thì cũng ra ma. Lẳng lơ thì cũng đưa ra ngoài đồng. Phu nhân chửi xong chưa? – Phượng hững hờ, ê a đáp lời như vừa ngủ dậy – Sau đận ấy, còn tưởng đại nhân cho người đến bắt con vì can tội không biết trên dưới. Ai ngờ kẻ bám lấy váy con lại là… Với cả, ông lớn có phải kim thoa đâu mà con giấu được. Bà đòi con biết giả thế nào?

 

Những cảnh xô xát đánh ghen của đám đàn bà không biết từ lúc nào không còn là chuyện hiếm hoi ở Khán Xuân. Nhắc đến cô Phượng mà không đả động đến những vụ ồn ào ấy thì thật thiếu sót. Có điều, đó là lần duy nhất trong đời nàng bị đánh thật, đánh đau.

 

Miếng cao thuốc áo vào bắp chân tím bầm rướm máu, giật cái đau lên tận đỉnh đầu. Trán lấm tấm mồ hôi. Phượng không dám kêu mà chỉ cắn chặt răng vào cái gối. Nàng không muốn bị mợ đánh đòn thêm.

 

-Mày ấy… – Bà Tuân cất lời làm cô gái nhắm tịt mắt lại, nếu không phải vì bà ngồi ngay đấy, chắc chắn nàng sẽ bịt chặt cả hai tai.

 

Chẳng thêm một tiếng nào. Rất lâu sau mới nghe thấy từ nơi cuối sập có tiếng nhổ nốt trầu. Cuối cùng, bà mới nói:

 

-Mày được nhất là ở cái mồm mà hại chết mình cũng ở cái mồm. Bỉ bai, nhục mạ người ta có làm mày no bụng, có khiến mày đứng cao được hơn không? Thân mày mày phải biết xót… Nữa là… sau này cậu mợ chết đi, Khán Xuân không để cho mày thì để cho ai. Nhà ngần ấy con người, ngần ấy miệng ăn… Tao chỉ nói đến thế, tự mày nghĩ lấy.

 

 

 

***

 

 

 

Lưỡi dao đặt hờ lên vỏ cau trơn nhẵn chưa hề nhấn xuống. Đậy nắp cơi trầu, Huyên nhìn Phượng một chốc nhưng chẳng cất lời, tự mình tiện cau, thoắt cái đã têm xong một miếng trầu cánh phượng. Ngoài nhà, ông trùm đang tiếp khách, tiếp một người chưa từng lui đến Khán Xuân bao giờ.

 

-Ấy, thầy làm vậy khiến chúng tôi thấy thẹn. Nói ngược nói xuôi vẫn là con cái Phượng không hiểu lễ nghi. Sự tức giận của bà lớn âu cũng hợp tình hợp lý.

 

Qua khe hở giữa cánh bình phong gỗ lim khảm tùng, trúc, cúc, mai, hai cô đào thoáng thấy tay ông trùm đẩy hai gói giấy đỏ vuông vắn vế phía người đối diện, ý chừng không dám nhận. Đáp lại là giọng nói trầm ấm nhưng lẩn khuất xa cách, cái xa cách của lễ nghi cứng nhắc, của người chừng không quen qua lại chốn rừng son núi phấn:

 

-Ông trùm nói vậy là rộng lượng quá rồi. Chị dâu tôi vì thương chồng thương con nên nhất thời không tra xét kĩ đã đến Khán Xuân gây ồn ào, lại còn làm bị thương ca nương của giáo phường. Chút lễ này là để xin lỗi, mong ông đừng trả lại!

 

Trên đời dễ mấy ai khiến miệng của ông Tuân nhất thời không tìm ra cách đối đáp? Người kia có lẽ nằm trong trong số lượng ít ỏi ấy. Nghiêng đầu nghĩ ngợi, Phượng đặt miếng cau đã bổ vào tay Huyên rồi giúp con bé cắt vỏ chay hồng. Lời nói kia không phải điều gì thật xuất sắc nhưng sao…

 

-Giọng nói của người ấy để lại dư âm! – Như đoán được tâm sự trong lòng nàng, thiếu nữ đối diện lặng lẽ cất lời như bàn chuyện quần áo đã phơi, trong bếp cót đã đầy gạo mới. – Không biết đó là người theo nghiệp đèn sách hay giữ mệnh binh đao đây?

 

Qua lại thêm đôi câu, chuyện tàn trà nhạt, khách cũng đến lúc ra về. Chỉ còn một bước chân để vượt qua ngưỡng cửa, người chợt quay đầu. Giữa cánh cửa hé mở, một bên mày liễu, một con mắt đen lạnh dõi nhìn xa vắng, một nửa nét môi hồng… Lặng nhìn đáp lại, người đàn ông hơi cúi đầu thay lời từ biệt. Tà áo phất lên biến mất cùng bóng người trong khoảng không nhập nhoạng giữa hai nếp nhà.

 

Vì chỉ có một nửa dung nhan nên nhìn không ra, trông không giống cô gái đêm trăng ấy liếc đuôi mắt sắc đáp lại đám văn nhân trẻ người non dạ? Nối lời ả đào được gọi là Đại Kiều, nàng ấy liếc mắt đáp rằng:

 

Con thì em mướn vú nuôi. Chồng thì em để hát chơi xó nhà[5]

 

Nhiều kẻ muốn biết cô Phượng nhìn ai, cô muốn trêu ai trong đám nho sinh to gan lớn mật kia mà đáp lời ấy. Chỉ là dường như, nàng ta chẳng để kẻ nào vào mắt bao giờ. Dung nhan có thể lãng quên nhưng ngôn từ từ đôi môi ấy chỉ cần nghe một lần thì không nhầm được bao giờ.

 

 

 

***

 

 

 

Cỗ phách nằm trong lòng bàn tay mềm mại thoang thoảng hương thơm được nâng cao ngang trán khi ca nương cúi đầu. Hàng mi chớp động như cánh chuồn bay khi nàng chầm chậm ngước lên. Môi hồng khẽ mỉm bâng quơ.

 

-Ta cảm thấy đã rất lâu…

 

-Quả thực… – Giọng nói theo cùng chất lỏng trong vắt đổ ánh trăng khuyết mờ mênh mang nổi lên bồng bềnh trong men rượu – …đã rất lâu.

 

Bất giác, đôi mắt phong tình dạn dĩ hàm ẩn nét cười nửa miệng vừa khiêu khích, vừa phớt lờ run lên như cánh hoa nhài mong manh trong gió lớn. Phượng chợt cúi đầu nhanh hơn cả khi nàng kịp nhận ra. Hơi ấm nơi đầu ngón tay bao quanh chiếc chén be bé rất gần nhưng không chạm vào nổi, cứ xa xôi rồi mất hút. Chỉ có ánh nhìn của người ấy dù khuất sau miệng chén, hay vào lúc mi mắt khép lại trong tiếng đàn, tiếng phách đẩy đưa… dù thế nào chăng nữa vẫn trùm lên nàng hơi ấm của mặt trời ngày đông quang đãng. Hiếu kì cùng tự ái, thứ tự ái thiếu nữ non nớt ngày nào khiến Phượng luôn làm như vô tình chạm mặt người ấy ở canh hát này, ở yến ẩm nọ. Ngài biết cả, cái biết sáng tỏ như một tấm gương làm cô đào thảng hoặc thẹn thùng không dám nhìn lâu.

 

Ngón tay chầm chậm miết trên dải dây lưng một đường, một đường, lại một đường. Chợt, Phượng hơi sững người khi chạm phải vật giấu trong dải yếm thắt múi cùng đai lụa màu hồng đào. Nét môi hơi mím trong thoáng chốc, nhanh đến mức còn chưa kịp lưu tâm đã thấy ẩn hiện lúm đồng tiền bên má thắm.

 

-Đây là… – Câu nói bỏ lửng ngỡ ngàng pha lẫn bối rối khi nhìn rõ thứ nằm sau từng lớp vải được lật mở. Người đàn ông dò xét gương mặt bình thản nhưng được thêu thêm những đường chỉ mảnh mai mỉa trong một cái liếc nhìn.

 

Phượng nghiêng đầu ngắm nghía vật được chính nàng đặt lên bàn, sát cạnh cơi trầu:

 

-Em chỉ giúp bà nhà chuyển cho thầy thôi!

 

 

 

***

 

 

 

Ngọn lửa nhảy nhót trong đáy mắt đen trong veo, tô thêm vẻ sáng rực, linh động trên dung mạo người con gái đương xuân thì. Quầng sáng ấm áp không lay lắt trước gió, tự nhiên cô đặc bóng đen ngay dưới chân đèn. Phượng ghé mặt lại gần khi khêu cao tim đèn, để hơi thở của mình lay lưỡi lửa như một phiến lá non. Vào một đêm cũng gần như thế, khi váy áo hãy còn vương hương phấn, môi chưa nhạt màu son, nàng gặp thiếu phụ lạ mặt ngồi ngay giữa nhà mình. Nàng ấy đặt chén trà đã nguội xuống khay gỗ khảm trai không một thanh âm dư thừa rồi đứng dậy mỉm cười với nàng:

 

-Cô Phượng đã về. Cuối cùng, tôi cũng đợi được rồi! Nghe phu quân nhắc đến cô suốt, tôi muốn gặp mặt dưng cuối cùng lại thành ra quấy quả thế này.

 

Bờ vai gồng lên suốt quãng đường trở về Khán Xuân từ từ hạ xuống nhưng gánh nặng vô hình lại trĩu xuống thêm vài phần. Theo lời thằng nhỏ được bà trùm sai đến gọi, không khó để phỏng đoán cô đào lại chọc vào nỗi ghen tuông của bà lớn, bà nhỏ nào đấy trong kinh. Lướt ánh mắt vô vị trên cái yếm sồi lấp ló sau cổ áo nhuộm thâm, Phượng chưa kịp mở lời đã thấy mình thành kẻ phải lắng nghe. Cúi đầu cười ngại ngần tựa hồ như khó xử, người phụ nữ vừa nói, vừa xoay lưng nhấc tay nải đặt xuống trước mặt cô đào:

 

-Đường đột đến đây là cực chẳng đã, xin cô thứ cho. Chẳng là có vật này muốn nhờ cô chuyển giúp đến phu quân…

 

Nét cười bừng nở cứng nhắc trên môi người con gái. Nói thêm đôi câu, thiếu phụ kia hóa ra là người nàng luôn tò mò muốn gặp, có điều chưa từng nghĩ đến cuộc tao ngộ thế này. Nhấp hờ môi vào chén trà nhạt, Phượng chớp mắt ngước lên:

 

-Bà làm vậy khiến con khó nghĩ quá. Đây đâu phải chỉ là tấm áo mà còn chứa tinh ý phu thê. Bà cứ nên đưa trực tiếp cho ông thì hơn, sao lại nhờ qua tay con hát thế này?

 

Khóe miệng trĩu xuống theo tiếng thở dài. Người thiếu phụ nhìn nàng xấu hổ, vội cúi thấp đầu khi vần vò dây lưng khiên chùm chìa khóa trên sợi xà tích kêu khẽ mấy tiếng lanh canh. Đôi mày hết chau lại rồi giãn ra, cuối cùng, người mới lên tiếng:

 

-Tôi là kẻ quê mùa không hiểu lề thói ở chốn kinh sư, mặt mũi nào dám đến Quốc Tử Giám tìm chồng. Chàng là phu tử dạy đạo lý thánh hiền, thê thiếp làm vậy lại thành cớ cho người ta chê cười. Nữa là chuyện cũng chẳng có gì, đâu nên vì chút tình riêng đàn bà mà làm vướng bận phu quân đương trăm công nghìn việc.

 

Hơi chồm người về phía trước, người phụ nữ nắm lấy tay Phượng, khẩn khiết:

 

-Phu quân qua lại Khán Xuân không phải đôi lần nên xin cô nể tình quen biết nhà tôi nhiều năm mà chấp thuận. Tôi chỉ dám mong nếu có dịp, cô chuyển giúp cho chàng là mẹ con tôi đội ơn cô lắm rồi! Nếu không phải đẻ[6] tôi ngày nào cũng giục giã ngóng trông, sợ chàng ở kinh sư tằn tiện quá mức, đến manh áo cũng không dám may… thì tôi nào dám đến tận đây gây phiền cho cô cùng ông bà.

 

Một đường nứt vỡ âm thầm không biết tự khi nào chạy men vào lòng Phượng. Bàn tay muốn rụt lại cuối cùng như vật vô tri nằm trong tay người thiếu phụ nọ. Trên đời thực sự có loại thể diện mà vì nó, vợ không dám gặp chồng nhưng qua lại với một đào nương thì được? Do đàn ông chủ động tìm vui trong tiếng tơ tiếng trúc? Hay vì người phụ nữ kia âm thầm chấp nhận, nhẫn nhịn trước thú ong bướm kinh kì mà văn nhân đa tình không mấy người tránh được, coi đó là việc khuất mắt trông coi?

 

Liếc nhìn hai chiếc áo gấp gọn trong tay nải, Phượng cất lời:

 

-Phu nhân thật khéo tay!

 

Thứ ngôn từ rỗng không ấy chẳng khiến người phụ nữ đề phòng, nghĩ ngợi sâu xa. Nàng cười đáp lại cô đào, bên má thực sự ửng hồng hay vì ánh đèn lồng đỏ treo ngoài hiên hắt sáng? Đến tầm tuổi nào đó, tin một nỗi nhớ nhung, một bóng hình xa cách có thể khiến đôi gò má đổi sắc là điều xa xỉ. Nhưng sự ấm áp dung dị, đơn thuần trong câu chuyện nhà cửa, gà vịt, con cái… lại khiến cổ họng Phượng khô khốc. Thân gái lặn lội dặm trường, nói bao lời cũng chỉ vì một việc. Giả như nàng có thể vờ như không hay thì tốt biết mấy. Có điều, đó chỉ là “nếu như”.

 

-Cô Phượng, mẹ con tôi biết ơn cô nhiều lắm!

 

Nét cười khiến gương mặt thiếu phụ rạng rỡ hẳn lên trước cái gật đầu ưng thuận của Phượng. Lén đưa dây lưng lên chấm nước mắt, nàng quay lại, đè hơi thở gấp gáp xuống khiến giọng nói trở nên ngập ngừng:

 

-Tôi còn một lời này nữa, xin cô đã thương thì thương cho trót, tiễn Phật tiễn đến tận Tây phương. Xin cô chuyển lời giúp rằng Trung thu này thằng bé ngóng thầy nó lắm. Nó đợi thầy mang về cho cái đèn kéo quân của Đông Kinh… Cô xem, trẻ con chỉ nghĩ đến việc có thứ để khoe khoang với chúng bạn là thấy vui rồi!

 

Phải đến bước đường nào hòn sỏi mới vuột khỏi tay, rơi xuống làm vỡ tan mặt hồ phẳng lặng. Hay thực ra nó chưa từng phẳng lặng như Phượng vẫn thường cố mơ tưởng về. Vợ con, gia đình của người ấy không phải nàng chưa từng hay. Kể cả khi nghe từ chính miệng người nói đến, đó chừng như vẫn là điều gì xa xôi huyễn hoặc, cách tiếng trống phách, tiếng đàn ca cả một bầu trời. Đáng nhẽ nàng phải biết điều này từ ngày hôm ấy, từ ngày người ấy chọn ăn miếng trầu trong cơi son thay vì…

 

Từ từ thu tay lại, Phượng cười thong dong:

 

-Phu nhân lo xa quá rồi. Trước đây, ngài ấy chưa từng lỡ một dịp Trung thu nào thì năm nay cớ gì lại quên chứ?

 

Người rời đi, bóng đổ liêu xiêu tan vào đêm tháng bảy mịt mùng. Mùi nắng rang cháy đất nhạt đi trong gió thoảng. Tiếng bước chân rất khẽ không níu lại được âm thanh khi hai vật lần lượt được đặt xuống mặt bàn. Có hương rượu nên dám còn lại là đĩa lạc rang lắm!

 

-Chị… – Giọng trẻ con ngập ngừng vang lên – Em không có ý nghe lén!

 

Chẳng thêm lời nào giải thích, thanh minh. Khoanh tay trước ngực, Phượng lùi vào sâu trong bóng tối của hàng hiên. Tiếng cười lanh lảnh mỏng manh tan ngay khi vừa cất.

 

-Nghe thì cũng đã nghe rồi… Huyên, em khinh chị lắm đúng không?

 

-Sao chị lại hỏi vậy?

 

Câu hỏi đáng nhẽ phải mang sự sửng sốt, phủ nhận, cuối cùng lại vang lên đều đều, lờ lững như dòng nước không trôi đi. Phượng gục đầu làm mái tóc xõa xuống như tấm rèm thưa, lay lắt đôi vạt sáng mờ trên vai gầy.

 

-Chị không biết… Chỉ cảm thấy em… nói thế nào nhỉ… như in hằn dấu vết của người từng nhìn thấy quá nhiều kẻ chen chân vào một mối lương duyên.

 

-Em không biết…

 

-Tại sao? – Phượng cao giọng, gấp gáp ngang ngược truy vấn – Việc của mình mà em không hay? Đừng làm chị buồn cười. Chị chẳng cần em phải vòng vo nói tránh!

 

-Em không biết! – Thiếu nữ nhắc lại rành rọt hơn, chẳng có nửa li phân trần – Vì em sống cùng chị nhiều năm quá rồi!

 

Chiếc quạt trắng xòe rộng bên tay này, nghiêng che bình rượu ở tay kia ghé xuống cái chén hạt mít. Cổ tay vẩy nhẹ xếp gọn nan quạt, lộ ra phía sau chén rượu đầy. Men cay trôi xuống gắt gao, vội vã. Phượng nhoài người, khom lưng ho dữ dội. Tiếng cười ngắt quãng ẩn hiện sau rèm tóc tơi bời. Tấm lưng nhấp nhô theo nhịp thở từ từ điều hòa lại. Nàng đưa tay vén tóc, chấm khô giọt nước nơi khóe mắt rồi nhoẻn cười:

 

-Phải phạt mấy roi đây?

 

-Ông nói chị uống một chén thì phạt năm roi. – Huyên đáp, đôi mắt cong cong theo miệng cười hòa nhã, tay nâng cao cây roi mây về phía cô đào.

 

-Cậu thật khắt khe!

 

-Giọng hát là vốn liếng của đào nương. Ông bảo phạt thế là còn nhẹ!

 

Sợi tóc vén đến mang tai lơi lỏng rồi rơi xuống. Phượng thì thầm, ánh mắt đóng đinh lên ô cửa sổ rộng mở:

 

-Mưa rồi. Cuối cùng, ông Ngâu đã gặp bà Ngâu?… Huyên này, tự nhiên chị quên mất bài thơ gì đó về việc gửi áo cho chồng. Em biết không?

 

Nhìn lại bọc vải trên bàn, cô gái mím môi không nói. Đôi mày chau xuống khi thiếu nữ nheo mắt trông ra khoảnh sân vắng bóng người lại qua. Hiên nhà khô ráo. Gió lặng. Trời chưa hề mưa.

 

 

 

***

 

 

 

Phu thú biên quan, thiếp tại Ngô

Tây phong xuy thiếp, thiếp ưu phu.

Nhất hàng thư tín, thiên hàng lệ: 

“Hàn đáo quân biên, y đáo vô?”[7]

 

Tiếp thêm trà, Phượng cười cười trông tay nải đặt trên bàn:

 

-Bài Ký phu này trước đây thầy từng đọc cho em nghe. Quả là một tứ thơ hay.

 

Vẻ nghĩ suy trong đáy mắt đen trầm mặc bị nàng khuấy lên bằng tiếng khúc khích nho nhỏ, gợn nước lăn tăn rồi đăm đăm nhìn về phía trước, nhìn đến khi cô đào để nét cười tàn úa trên môi. Phẩy tay gọi con bé theo hầu, Phượng cẩn thận đặt vật đó lên bàn, sợ chút mạnh tay sẽ làm rách tươm những miếng giấy xanh đỏ:

 

-Cái đèn kéo quân này được làm ra bởi nghệ nhân nổi danh ở Đông Kinh. Thầy mang về cho cậu ở nhà, được không?

 

Ánh đèn leo lét tàn cùng rạng đông. Trà đã cạn. Hương chẳng còn. Nâng lên rồi đặt xuống cái chén trong tay, cuối cùng người đàn ông đứng dậy. Tay áo lướt qua vai nàng chừng như còn không chạm.

 

-Cây quạt trong tay đào nương cũng như tấm khiên trong tay binh sĩ vậy, phải không?

 

Tiếng tan. Người rời bước.

 

Bóng đuổi theo nhau trên vòng quay của chiếc đèn kéo quân treo dưới mái hiên. Con trâu, bụi tre, anh trai cày, cô thiếu nữ… cứ thế lần lượt trôi qua bất tận. Cây quạt phe phẩy rồi dừng hẳn lại khi Phượng đứng dậy thổi tắt ngọn nến bên trong đèn.

 

-Em luôn không hiểu mình khác nhị Kiều ở điểm nào… – Tỳ cằm lên mu bàn tay tựa trên cây quạt gấp gọn, dựng đứng trên mặt bàn, ánh mắt nàng chao nghiêng, khép hờ – … cho đến ngày được nghe thầy nói trong một bữa tiệc rằng: biết mình ở đâu là tốt nhưng ám thị bản thân thấp hèn thì mãi mãi chỉ làm ra những việc thấp hèn. Em không hờ hững được như Tiểu Kiều, càng không thể an phận như Đại Kiều… Nếu chỉ dựa vào ngang ngược, chua ngoa thì mãi vùng vẫy trong ao tù nước đọng, thì chẳng bao giờ nhận được chữ “trọng” ở đời. Thầy nói… không sai…

 

Lần tay vào trong múi lụa thắt trước bụng, Phượng tìm gì rồi xoay lưng gõ đầu quạt lên trán con bé hầu đang gà gật ngủ trong góc buồng.

 

-Về thôi! Sáng bảnh mắt ra rồi!

 

Hừng đông hắt vạt nắng hồng nghiêng nghiêng qua khe cửa khép hờ, tráng vàng lên miếng trầu xanh têm thật khéo nằm lọt bên bộ ấm trà nguội lạnh.

 

 

 

***

 

 

-Mợ… cháu với mợ đánh cược đi! – Cậu trai nằm lăn trên sập đột ngột lật người, chống cằm nhìn người phụ nữ đang cặm cụi têm trầu – Cược xem ai có thể lấy được khẩu trầu dải yếm[8] của nàng ấy?

 

Mày liễu nhíu xuống rồi giãn ra cùng vẻ tức cười khi Phượng nhìn theo ánh mắt của cậu thiếu niên:

 

-Ai? Cháu? Hay cậu ấm nào ở Đông Kinh mà mày đánh bạn cùng? Đến cả con trai nhà Tả thị lang bộ Binh cũng chưa có cửa đâu.

 

-Ầy! Hắn mất cơ hội giành giật rồi. Ngài Tả thị lang nhắm cho hắn một đám, mợ biết là con gái nhà ai không? – Cậu xua xua tay ra vẻ khệnh khạng, thách đố nhưng thấy Phượng không phản ứng gì liền sà lại, liến thoắng – Là tiểu thư thứ hai của Đông Các đại học sĩ! Có điều, hắn chê cô ấy nhìn không thuận mắt, tình tình tẻ nhạt mà nhà đó thách cưới lại cao. Hắn bảo nếu là người của Khán Xuân mình, trăm đồng tiền cũng đáng.

 

Bàn tay bỡn cợt vươn ra nắm chặt tay thiếu nữ vừa đi đến. Đầu quạt liền vụt xuống mu bàn tay khiến cậu chàng la lên oai oái như phải bỏng, định gân cổ lên cự cãi nhưng bởi một cái quắc mắt của nàng ta mà im bặt. Cười thành tiếng, Phượng đẩy cơi trầu trước mặt về phía thằng cháu:

 

-Ngữ ba đồng[9] như mày thì cả đời đừng hòng nhận được mẩu trầu của cô nào!

 

-Mợ cứ đợi đấy, rồi cháu sẽ dẫn một cô sắc nước hương trời về cho cậu mợ xem mặt!

 

Trông theo dáng tức tối hầm hầm bỏ đi của cậu thiếu niên, thiếu nữ xòe quạt che nửa mặt, cười khanh khách. Thanh âm chỉ nhạt đi thành gượng gạo khi nàng bắt gặp thoáng thẫn thờ của Phượng bên cơi trầu mới têm. Ý nghĩ lạ lùng về việc trên đời liệu có ai từ chối nổi khẩu trầu dải yếm của cô Phượng hay không khiến cô gái ngẩn ngơ. Miếng trầu duyên mẹ bảo phải têm thật khéo, phải trao đúng người ấy…

 

-Ở Khán Xuân có Tiểu Kiều chơi độc huyền cầm. Có Đại Kiều chơi đàn nhị. Còn cô Phượng thì chơi thập lục. Cái tiếng giáo phường đệ nhất Đông Kinh xem ra không phải là nói ngoa.

 

Giọng nói lanh lảnh khi thiếu nữ ngồi xếp bằng dưới chân sập khiến đào nương sực tỉnh. Đôi mắt nàng liếc ngang dò xét:

 

-Một dây, hai dây rồi đến cả mười dây… Biết thế sao còn thích học chơi thập lục cho kì được? Không sợ ngày lắm mối tối nằm không sao?… Ơ, cái con bé này, mày giả điếc phỏng? Mợ đang hỏi mày đấy, Lệ Chi!

 

Đôi tay trắng nõn đeo móng gảy lơi ra trên những sợi dây tơ. Lệ Chi xoay nghiêng đầu làm mái tóc đen nhánh buông qua che đi ánh mắt:

 

-Trước đây mợ từng dạy Tiểu Kiều chơi đàn này rồi?

 

-Đã. Nhưng chỉ thành thạo một khúc. Con bé ấy không có duyên với quá một dây đàn.

 

-Vậy là con giỏi hơn Tiểu Kiều rồi!

 

Nét cười tươi giòn pha chút niềm vui tự mãn hòa vào thanh âm như nước chảy, như nắng mới điểm tô, nhảy nhót trên phiến lá non xanh mỡ màng. Nắng rất trong, trời cũng rất trong bên lòng người trinh nguyên của thuở ban đầu.

 

-Rồi mày cũng khiến lắm kẻ si mê đến chết thôi con ạ!

 

Hàm răng đen bóng hạt na hé lộ dưới nét môi hồng. Thiếu nữ hơi nghênh đầu bất cần, đưa cái cằm thon về phía trước mà rằng:

 

Người ta muốn lấy nhiều chồng.

Tôi đây chỉ muốn một ông thật bền.

Thật bền như tượng đồng đen.

Trăm năm quyết với cùng em một lòng!

 

 

———————–

[1] Thập lục: tức đàn tranh

[2] Ca dao

[3] Ăn cơm thịt bò thì lo ngay ngáy. Ăn cơm với cáy thì ngáy o o: [Quan niệm dân gian] Có của ăn của để, ăn sung mặc sướng thì tàng ẩn tai vạ, vì thế nên lo lắng không yên. Ngược lại, ăn ở tuy đạm bạc nhưng lại vô tư, không phải đề phòng, lo nghĩ gì.

[4] Kiêng kị dân gian: không phủ/trùm/đội khăn lên đầu, để khăn rủ xuống che mặt người còn sống vì đó là dấu hiệu của cái chết, là điềm gở. Phong tục lấy vải đỏ che quanh ban thờ những ngày không phải mùng một, hôm rằm, giỗ chạp, lễ tiết (isis chú).

[5] Hát trống quân. Theo Vũ Ngọc Phan (1978), Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. Tục truyền có từ thời Trần (thế kỷ XIII) vào thời gian nhân dân ta chống quân xâm lược nhà Nguyên. Những lúc nghỉ ngơi, binh sĩ Việt Nam đã nghĩ ra cách giải trí là ngồi thành hai hàng đối diện nhau, gõ vào tang trống mà hát, cứ một bên “hát xướng” vừa dứt thì bên kia “hát đáp”. Về sau, khi đã đánh đuổi được quân xâm lược, điệu hát phổ biến trong dân gian miền Bắc, nhất là ở những nơi quân đội đã đóng, nơi thì vẫn gõ vào tang trống, nơi thì căng một dây thép thật thẳng qua một đáy thùng sắt để sấp, để đánh nhịp. Dần dần người hát cũng chia ra hai bên nam nữ và hát vào những đêm trăng sáng, thường thường là những đêm rằm tháng tám và hát cả những đêm làng vào đám.

 

[6] Đẻ: cách gọi khác của “mẹ”. Ở đây, người phụ nữ ám chỉ mẹ chồng mình.

[7] Ký phu, Trần Ngọc Lan, thơ Đường. Dịch nghĩa (theo Thivien.net):

Chồng đi thú ở nơi biên ải, thiếp ở đất Ngô 

Gió may thổi thiếp (lạnh), thiếp lo cho chồng 

Mỗi một dòng thư là nghìn dòng nước mắt 

“Rét đến bên chàng, áo có đến không?”

[8] Khẩu trầu dải yếm: Thiếu nữ têm trầu ém trong dải yếm của mình. Miếng trầu này là miếng trầu tình, là miếng trầu trao duyên đưa cho người các cô phải lòng, quý mến.

[9] Ba đồng: Lấy ý từ câu ca dao:

“Ba đồng một mớ đàn ông

Đem bỏ vào lồng cho kiến nó tha

Ba trăm một mụ đàn bà

Mua về mà giải chiếu hoa cho nằm”

 

One thought on “[Độc huyền cầm – ngoại truyện] Thập lục

  1. hikarukagayaki

    Vô comt cho em gái. Phải nói là nhiều lúc những mảnh ngoại truyện đưa người ta đi xa hoàng cung, đi xa nơi miệng nói thì ít, ý thâm thì nhiều, về thế giới dân dã bên ngoài như vậy như một nhịp thở mới.

    Văn phong khỏi phải nói. Sự tỷ mỉ của Xịt thực sự là đạt đến level max rồi, chị không thể nào bới ra được lỗi ý chứ. Nó sâu sắc, đầy đủ, gợi hình, chi tiết… Nhìn chung khen thì chắc kéo luôn sang Tết ta mất.

    Chị thích không khí truyện được dựng lên. Vì là đứa đọc kỹ nên thấy rất nhiều chi tiết nhỏ được xây dựng kỹ càng và có dụng ý, chỉ là hint ẩn nhiều quá, chưa chắc người thường đã nhận ra được. *amen, chị xin nhận mình là người thường nghen*.

    Lần này nhân vật trung tâm là Phượng. Thích đoạn đối đáp của cô ấy với đám văn nhân, nói một lời ra chẳng những không thô lậu, không ủy mị, giữ được phẩm giá mà còn “xát muối” cho đám người thô lậu không biết điều. Cách ăn nói ỡm ờ của một cô đào hát nhưng ẩn chứa sự sắc xảo chua ngoa. Oimeoi, thật tình là mềnh chỉ là một đứa dịu dàng mà.😥 Xịt ơi, em dịu dàng mode cho chị nhờ với. Thảo nào mà trước giờ chỉ thấy gần gũi được với Lam Ninh ah. :v :v =)) Hahahaha.

    Cơ bản những cảnh nhỏ, rất nhỏ nhưng lại là câu chuyện của cả một đời người. Lấy điểm chấm phá nổi bật để vẽ bừng lên cả câu chuyện. Đùa, đúng là idol nào fan nấy. Đọc truyện của Xịt chỉ là cảnh bình dị, đơn giản thường ngày nơi giáo phường, nơi phố chợ mà quá hack não, hẳn là tín đồ nhà Clamp. *Lần sau dễ hiểu dần cho chụy gái ngây thơ này được nhờ* :3

    Hoe hoe, dù sao chị thích cách em xây dựng nhân vật. Mỗi người một tính riêng, từ dịu dàng, từ ngây thơ, đến thành thạo lõi đời, đến chua ngoa gay gắt, đến những nhân vật dù chỉ điểm qua thôi nhưng cũng rất rõ ràng. Điểm sáng nhất là lời thoại. Câu thoại đủ để nói lên con người, chẳng cần phải đi sâu để hiểu nàng nghĩ thế này, chàng nghĩ thế kia. chỉ câu nói thôi cũng đủ hiểu người đó sâu xa như thế nào. Thực sự phải điêu luyện lắm, phải nghĩ kỹ lắm mới nghĩ được những câu như vậy. Gần gũi thật đấy, dung dị thật đấy, toàn thành ngữ ca dao thật đấy nhưng thâm ý tầng tầng lớp lớp, ẩn ý đầu mày cuối mắt đều có cả.

    Chị cũng thoáng thắc mắc về bóng hình trong lòng Phượng, là sự thoáng qua, hay khắc cốt ghi tâm nhưng vẫn giữ được vẻ bình thản ngoài mặt. Nàng ấy nghĩ thực điều gì, thật khó đoán. Con gái lớn lên ở giáo phường chính là được tôi luyện để dù lòng có nghĩ gì, miệng vẫn cười, vẫn hát, vẫn đùa đùa cợt cợt mua vui cho khách đào hoa như vậy sao?

    Phần ngoại truyện làm mềm lại và sâu thêm những nhân vật phụ thoáng qua ở phần chính. Cưng đang bận nên là cố gắng lên, rồi chúc cưng sớm chăm chỉ viết hết.

    Hóe hóe, thực ra chị thích em viết phần cảnh dân gian hơn hoàng cung đó. Mặc dù thề là cảnh hoàng cung viết rất đạt, nhưng nó cứ cao quý, xa xôi, thâm trầm quá, chị thích cái hỗn độn xô bồ, cái vui tươi bỡn cợt của bên ngoài hơn.😀 Anyway, viết tiếp đi nha. Vận dụng các phong tục tập quán hơi bị chuẩn nha, cố gắng cài thêm vào để mọi người biết thực về ý nghĩa các truyền thống dân gian của mình nghen. Nhìn chung chị thích cách cài thêm đó, tự nhiên, nhưng rất ý nghĩa, vừa phô kiến thức nhưng không hề khiên cưỡng, cứ nhỏ giọt, nhỏ giọt, nhưng như kiểu “nước chảy đá mềm” luôn đó. Oaoaoaoa, cố viết thêm nhiều nữa nha. Vẫn còn vụ Tuyên Từ chờ cưng đó, vẫn còn chị Thu Lâm chờ cưng đó.😥 Đừng để chị héo già mà vẫn chưa thấy quà đâu nghen.😀😀

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s