[Độc huyền cầm] 2 – 9 (Phần 2)


Chương 9: Đào liễu

 

.II.

 

“Thế thượng hoàng lương nhất mộng dư
Giác lai vạn sự tổng thành hư
Như kim chỉ ái sơn trung trú
Kết ốc hoa biên độc cựu thư[1]

[Ngẫu thành – Nguyễn Trãi]

 

32 (2)

Đào liễu

Thể hiện: Nghệ sĩ Quốc Anh

 

***

 

 

 

Kéo tay Gia Thục đặt xuống sát bên người, Hải Triều vỗ về nhè nhẹ đưa đẩy giấc ngủ chập chờn. Cúi thấp đầu, nàng thổi khẽ bên dái tai hơi sưng có cái cuống chiếu xuyên qua đốm đỏ màu máu đã khô của con bé. Giọt nước mằn mặn hãy còn đọng trên hàng mi cong cong nom tựa sương mai trong vắt. Đón lấy cái khăn âm ẩm từ tay Ngọc Hồ, nàng mỉm cười:

 

-Nhìn gì vậy? Em cũng cho rằng ta như người xấu hả?

 

Tháo dải lụa buộc quanh đầu giống hệt mấy anh nông dân xuống, bàn tay luồn vào chải thẳng mái tóc bị búi chặt để đóng vai hề chèo mua vui cho đám trẻ. Tóc dính vào da mặt hãy còn âm ẩm nhưng nàng cũng lười gạt đi. Lúc ấy, Ngọc Hồ mím môi vò vò cái khăn dính đầy chì đen tô lông mày cho xếch ngược cùng son đỏ vốn trước đó là hai hình tròn tức cười được bôi trên má Hải Triều.

 

-Hồi nhỏ em cũng bị u đè ra xỏ lỗ tai. – Thiếu nữ ném cái nhìn chán ghét về phía cây kim có đầu nhọn hoắt đặt trên một tấm khăn trắng rồi nói tiếp bằng một giọng không thích thú gì – Không phải bằng kim mà bằng gai bưởi. Lỗ tai chỉ để đeo trang sức, sao phải phiền phức thế kia chứ?

 

Mái tóc buông vắt qua vai làm Ngọc Hồ không nhìn rõ mặt chủ nhân. Đến khi Hải Triều ngẩng lên, nàng mới biết nữ nhân ấy đang cười, dường như vừa nhớ lại điều gì vui vẻ lắm. Nguyễn Sung nghi ôn tồn:

 

-Ta nghe nói nữ nhân không xỏ lỗ, không đeo khuyên lúc chết đi xuống âm phủ sẽ bị đỉa bám vào tai[2]. Thế không phải rất đáng sợ sao?

 

Tự thấy mình không phải kẻ có lá gan chuột nhắt nhưng mới nghe thấy đỉa, Ngọc Hồ xanh mặt. Hồi xưa, Ngô Quân thường dùng con vật đen đen, nhầy nhầy ấy dọa nàng chết khiếp. Tiếng cười ha hả dường như văng vẳng đâu đây làm cô gái cảm thấy vẹn nguyên cảm giác bầm gan tím ruột. Lắc đầu quầy quậy, nàng chuyển sang chuyện khác:

 

-Mẫu thân của lệnh bà nói vậy ạ?

 

Đầu dây lưng lụa đương buộc dở buông mình rơi xuống, đung đưa qua lại Biến sự căng cứng thành một cái khoát tay, Hải Triều ôm cây đàn bầu vào lòng rồi thản nhiên:

 

-Ta ở ngoài đình hóng gió, em không cần hầu hạ.

 

Mưa gần tạnh hẳn. Đôi hài đạp lên con đường rải sỏi nhộn nhạo, tạo thành những thanh âm tủn mủn khi gần khi xa. Nếu không ngửa mặt đón cơn gió vương bụi nước, người ta dễ tưởng mưa ngâu đã qua cùng ngày Thất tịch. Không gột rửa huyên náo như mưa rào, mưa tháng bảy mang đến cái lạnh khuya khoắt dù hè chưa tàn hẳn. Không phải một vòm trời đêm lồng lộng lấp lánh sao trời, trước mắt chỉ có sắc tối nhờ nhờ tựa như được nhìn qua tấm vải the xám dệt chỗ thưa chỗ mau. Trên không trăng. Dưới là những dãy đèn lồng tỏa ánh mờ đục, bảng lảng trôi nổi giữa những cụm lá hoa chen chúc rợp mặt hồ. Một chút ánh sáng mỏng manh, chập chờn đủ khiến búp sen xanh còn sót lại hiện lên bằng một đường cong duyên dáng giữa bóng tối dâng đầy. Sen nở trắng, đèn cũng trắng. Vẻ kì dị đó điểm xuyết thật khéo vào cái tĩnh lặng của cung Vĩnh Ninh.

 

Tháng bảy vất vưởng, lay lắt. Cúi nhìn bàn tay theo thói quen miết dọc thân đàn, Hải Triều chưa kịp để tâm thì dường như thân xác đã tự nhớ chỗ nào nước sơn trơn nhẵn, chỗ nào bong tróc, ở đâu có vết xước, ở đâu có vết khắc, khắc sâu bao nhiêu… Cây đàn này không được trang trí hoa văn, cứ thế lồ lộ ra hết những khuyết thiếu, sứt sẹo bên cạnh vết tích của thuở ban đầu đẹp đẽ. Nhìn vật cũ tự nhiên lại nhớ người xưa.

 

“Đàn tranh nước Việt có âm trong vắt, mỏng nhẹ, vốn không hợp để tấu những giai điệu bi thương. Nhưng có lần con buồn vì khúc nhạc của đào Phượng, đúng không?”

 

Thầy Nguyễn từng hỏi nàng như vậy. Đào nương mua buồn bán vui, xướng họa với văn nhân vì nắm được tình ý gửi trong thơ phú, đem tâm tư người khác phổ thành nhạc điệu mà rót vào lòng.

 

“Thầy bảo con rồi, phải biết chơi cho mình. Đem hồn phách hòa cùng với máu để se thành sợi dây, rút ruột rút gan tấu trọn một khúc hoan ca hay bi phẫn. Chơi cái “có” chứ đừng chơi cái “không”. Đã lấy nghiệp hát xướng vận vào thân thì tuyệt không được gian trá trước tơ đàn!”

 

Lụa ngà trượt xuống cổ tay nổi gờ lên khớp xương dưới nước da trắng mỏng. Tay áo lướt qua sợi dây tơ. Độc huyền cầm, “độc” ấy là “độc nhất”, là “một” hay là “đơn độc”? Mắt nàng dán lên mặt sàn bạc phếch bị trùm phủ bởi một vệt dài đen tối mỏng mảnh. Đâu đây lẩn khuất hình dáng mẹ in trên bức tường đất năm nào nhuốm ánh trăng tàn. Bóng của Mai Loan, của chị Oanh, chị Phượng… Người đàn bà nào trên đời hình như cũng đều bầu bạn với một cái bóng lẻ loi như thế. Có khác chăng, bóng của con hát không biết thở dài, càng không biết rơi lệ hay thở than, hoài niệm. Bởi tìm trong trăm người sẽ có một người tri kỷ, nhưng tri kỷ cũng chỉ là khách, khách thì đến rồi đi.

 

“So nay với xưa… Muốn chết cho nhanh thì hãy làm cái việc xuẩn ngốc ấy!” – Chị Phượng vừa nói vừa cười sằng sặc, tay khua loạn cái chén rỗng không – “Mai táng luôn đi… Đào sâu chôn chặt… Rồi… để lại… thoa phấn tô son, hát hát cười cười!”

 

Nếu tâm không động thì đâu cần nói những lời ấy. Làm như bất cần, khinh bỉ nhưng người ta, ở nơi sâu thẳm nhất, lại thấu đạt hơn ai hết sự yếu đuối của bản thân mình. Nói chính vì muốn nghe điều gì vượt khỏi những bi lụy, chán chường. Vì muốn nghe nên mới đặt tay lên sợi dây đàn. Hồi ức của Hải Triều có khúc nhạc ào ào, réo rắt như điệu vũ xoay tròn trong ánh nến, phô ra nào sắc hồng đào, sắc vàng kim trên một nền đỏ thẫm. Ai cũng nói đó là lúc cô Phượng xuất thần nhất, ngang ngược lôi cái hoa lệ triền miên nơi đế đình xuống cõi nhân gian. Đầu ngón tay nhấn xuống, đầu móng gảy bằng sừng cứ vuốt những sợi dây đàn cho thanh âm hóa dòng nước xiết cuốn phăng cánh đào phai mỏng mảnh. Không có máu nhưng Hải Triều thấy sắc đỏ rực nhỏ xuống từ dây tơ nhuộm kín mặt đàn tranh bằng gỗ ngô đồng, thấm xuống mặt đất rồi lan ra mãi như một đóa hoa nở rộ giữa lúc xuân thì.

 

Thấy đào nương khóc thì chớ tin. Đến cười cũng đáng ngờ lắm lắm.

 

Một nốt trầm rung lên khi que tre ngẫu nhiên gảy xuống. Thanh âm lặn vào đáy nước rồi tan biến cả. Rụt rè rồi tắt ngấm, cái nghe được chỉ là tiếng những phiến lá xòe tròn ngả mình trong gió thưa. Bàn tay gác lên trán hơi nhúc nhích. Ánh sáng nhạt nhòa lọt vào bên trong khoang thuyền qua những mắt đan làm đôi mắt đen thêm thẫm sắc. Hơi thở đều đều cuối cùng kết thúc bằng một tiếng thở dài. Tư Thành nhỏm người dậy, chưa kịp lên tiếng thì nốt nhạc tiếp sau đã lại gieo xuống.

 

Mưa.

 

Hệt như mưa, chỉ lộp bộp rời rạc đánh động mấy tiếng rồi ào ào trút nước, không kịp cho người trở tay.

 

Từng giọt sánh đặc, nặng trĩu nối tiếp nhau đổ xuống mặt đất cằn cỗi, ngoằn ngoèo những vết rạn chằng chịt sâu hoắm. Thanh âm trước chưa tan thì thanh âm sau đã nổi lên, dồn dập hết lớp này đến lớp khác. Tư Thành nghiêng tai lắng nghe, ngón trỏ miết vào đầu ngón tay cái từng nhịp chắc chắn, đều đặn. Tưởng chừng như hỗn loạn, tùy tiện nhưng chỉ cần một lần nghe tiếng mưa rào sẽ hiểu giữa cái thô mộc kia cũng có những lay động khi mau khi thưa, khi nhanh khi chậm. Mưa vạch từng đường thẳng tắp nhưng liệu có mấy người nhận ra cũng có những giọt rơi nghiêng?

 

Mưa nhưng không ướt áo. Mặt đất vẫn trơ lì. Khúc nhạc của Hải Triều chính là như vậy, dạn dĩ đến thô bạo, chẳng hề giống cảm giác yên ổn với từng đợt sóng ngầm chỉ có thể cảm mà không thể nhìn. Cây sáo trúc đã áp vào môi dưới cuối cùng lại buông xuống. Tư Thành biết phải thổi thế nào, biết nên dệt những cung bậc ra sao nhưng rồi chính chàng chọn từ bỏ. Sợi dây mảnh rung lên làm bật ra những nốt nhạc bện xoắn chẳng đơn thuần là vui hay buồn, là oán trách hay đương thỏa lòng. Nó vừa thấu tỏ nhưng cũng vừa tăm tối ngổn ngang; tha thiết đấy nhưng đồng thời cố chấp và đầy khắc khoải… Điệu nhạc của những lớp trầm tích khi bồi, khi lắng không phải chỉ của một đời.

 

Khi nốt nhạc cuối cùng chỉ còn là dư âm lẩn khuất trong những đóa sen nở xòe, hòa trong hương thơm thanh thanh, Tư Thành đã nghĩ trời tạnh ráo rồi. Mưa tháng hai không nhìn không nghe được nhưng ấn tượng ẩm ướt đọng lại như một nỗi buồn man mác, uể oải lâu tan. Còn mưa rào sầm sập tới trút nỗi lòng, nói mưa là mưa, bảo tạnh là tạnh. Tạnh rồi thì nắng sẽ lên, mọi khác biệt đều bay biến cả theo những vũng nước lênh láng. Hoàng thái hậu không thích mưa mùa hạ bởi cái nóng ẩm bốc lên ngột ngạt khi mặt trời vén mây tỏa rạng. Còn chàng, khi tia sáng đầu tiên chiếu qua hạt nước đọng trên đầu lá khiến nó tỏa sắc cầu vồng, khi không khí mát lành được nắng sưởi cho khô, đó là một cảm giác nhẹ nhõm, sạch sẽ.

 

Bàn chân còn lại vừa đặt lên bậc cầu thang gỗ liền làm con thuyền nhỏ sau lưng chòng chành. Đèn lồng hắt màu trắng mỏng lên vạt áo bào, làm thân hình người thanh niên sừng sững choán cả khung cảnh trong đôi mắt đen mở lớn của cô gái. Không sợ sệt, không cung kính, càng chẳng vội vàng thu dọn những cảm xúc có vẻ giống người, lần đầu tiên đôi con ngươi ấy không giống vực nước mà giống vòm trời cong loang loáng màu lam trong trẻo. Mùi giày chạm phải cái bóng đổ dài trên sàn gỗ bạc phếch. Thoáng chần chừ vụt qua khi Tư Thành phất tay áo, ngồi xuống phần chiếu bên kia. Sen thơm thật, sen trên người cô đào ấy.

 

-Ngươi biết điệu Đào liễu[3] chứ?

 

Câu hỏi ấy khiến Hải Triều giật mình, cảnh giác gật đầu. Cái quạt từ tay Hoàng đế rơi vào lòng nàng kèm theo lời đề nghị vỏn vẹn có hai từ: “Hát đi!”.

 

-Thần thiếp không dám! – Đẩy lùi cây quạt về phía trước, nàng quỳ xuống xin tha – Hoàng cung là chốn tôn nghiêm, Thái Tông Hoàng đế đã ra lệnh cấm dâm nhạc[4], thần thiếp nào có gan…

 

-Ngươi đang kháng chỉ? – Tư Thành nghiêng đầu, tuy dùng từ “kháng chỉ” nhưng trong giọng nói lại không chứa sự cảnh cáo.

 

Từng nan quạt tách mình, xòe rộng lớp lụa màu ngà mỏng mảnh thoang thoảng hương quế. Đốm sáng rơi vào đáy mắt, đong đưa linh động như sao trong đáy hồ. Không tiếng trống, không cả tiếng nhạc cụ, chỉ có giọng hát nảy, đanh, sáng rực như ánh mặt trời cất lên trong ngôi đình nhập nhoạng. Váy lụa đung đưa theo bàn chân trần thoáng lộ thoáng ẩn theo bước đi trên chiếu cói. Ngón tay như dính lấy những nan tre, tung hứng thế nào cây quạt cũng ngoan ngoãn vâng lời, khi che nửa mặt, khi lại gấp gọn vuốt ve quanh đôi gò má hồng hồng tình ý. Người nghe ca trù lắm lúc nhắm mắt, lắc lư cái đầu theo tiếng ậm ừ luyến láy trong cổ họng ca nương. Một âm ngân cao tuyệt mĩ làm người ta có giật mình cũng không mở mắt, chỉ biết dưới tay áo gai ốc nổi cả lên. Nhưng xem chèo thì khác. “Xem” thì phải bằng mắt, bằng tai.

 

Vạt sáng hắt chéo qua gương mặt ẩn sau mép quạt cong. Đôi mắt đen thẳm đong đưa theo từng bước đi lả lướt. Lời ca cất lên vừa trong vừa nảy, nghe thì hay nhưng để ý một chút vẫn thấy phảng phất cách nhả chữ, ém hơi trong cổ họng của lối ca trù. Cái tráng lệ nghiêm cẩn thành thói quen ấy vô tình kìm nén sự tự do, phóng khoáng tuyệt đối. Đôi môi hồng hồng, mềm mại điệu đà của cô đào hát rằng:

 

Đi đâu Đào liễu một mình

Hai vai gánh nặng nhật trình đường xa

Áo sồng em để trong nhà

Ba vuông nhiễu tím phất phơ đội đầu

Yếm điều em hãy còn màu

Răng đen, da trắng, mái đầu còn xanh

Ở vậy làm sao cho đành

Sao không kiếm chốn (để) thế tình mỉa mai

Chữ rằng: “Xuân bất tái lai”[5]

 

Một cái chớp mắt xóa đi ấn tượng lạnh nhạt, sắc nhọn chợt lóe lên giữa đôi đồng tử. Cây quạt xếp gọn cũng là lúc khóe miệng hạ xuống, thu nét cười làm hai bên má nhức mỏi. Ngần này tuổi đầu, có hai mặt con mà còn í a í ơi khúc Đào liễu, thật chẳng ra thể thống gì. Nâng quạt cao ngang trán, bờ vai gồng lên được một lúc thì bắt đầu mỏi nhừ nhưng Hải Triều không dám nhìn long nhan. Một thoáng cao hứng của đế vương làm kẻ dưới không vâng lời không được, nhưng nương theo chưa chắc đã được yên thân. Lời đẩy đưa trêu hoa ghẹo nguyệt của trai gái nơi thôn dã lọt vào tai bậc cửu ngũ chí tôn thì khác gì…

 

-Hay cho mấy chữ “xuân bất tái lai”[6]!

 

Đầu quạt lụa vuốt nhẹ một đường từ thái dương đến cái cằm thon của người con gái. Nụ cười lướt qua môi chàng nhẹ tênh rồi tan biến vừa lúc Ngọc Hồ bưng khay trà bước vào. Chống quạt xuống chiếu hoa, Tư Thành duỗi người, cao hứng ngâm ngợi:

 

Thác ở trong tay tạo hoá quyền,

Một mình thờ chúa thuở hè thiên.

Lưng mềm yểu điệu mười lăm tuổi,

Má điểm yên chi bảy tám khuyên.

Dặm liễu đã từng che mặt ngọc,

Đường hoa có thuở vẫy người tiên.

Tới thu lại thấy yêu đương nữa,

Mựa chớ đàn chi thiếp bạc duyên[7].

 

Lời thơ phong nhã thanh tao, ý tứ âu yếm nâng niu làm kẻ biết chút chữ nghĩa đứng gần đỏ mặt nhưng nét môi kia chỉ mím lại đôi chút. Hương trà thơm thoang thoảng làm Tư Thành khoan khoái, hào phóng nở nụ cười thích thú. Chàng làm như vô tình khi cất tiếng:

 

-Đức Vượng, ngươi mang chế văn cho Sung nghi xem!

 

-Quan gia… – Khóe miệng Hải Triều run run khi mở lời, hết nhìn cuộn giấy rồi lại nhìn chàng, trong mắt không giấu sự ngờ vực và dò xét đầy cảnh giác.

 

Tự châm trà, Tư Thành uể oải phẩy tay:

 

-Chế văn ban xuống cả nước đều sẽ biết. Ngươi ở bên trẫm, thân là con gái của Ức Trai tiên sinh mà lại không hay thì chẳng hóa trẫm thành trò cười cho thiên hạ?

 

Hình rồng mây quấn quýt dát vàng óng ánh trên tờ giấy sắc[8] màu cam hắt tia sáng run rẩy vào đáy mắt người con gái. Ngọn đèn được Đức Vượng bê vào lưỡi lửa cũng rung rung theo từng cơn gió thổi. Nhưng mấy ngón tay nắm hai bên mép giấy trước sau vững vàng, chắc chắn. Ánh mắt trượt đến con chữ nào thì sự nghi kị trong lòng Hải Triều được cởi bỏ đến đấy. Cái còn lại đằng sau đắng chát hoàn toàn không phải vị ngọt thanh tao như một ngụm nước trà.

 

-Trẫm truy phong cho Ức Trai tiên sinh là Trụ quốc Tán Trù Bá, đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu[9]. – Tư Thành trầm giọng – So với tước Quan Phục Hầu Thái Tổ từng ban cho cha ngươi thì còn kém một bậc.

 

Tờ giấy đương cuộn lại dừng ở mấy chữ: “Dầu rằng thời mệnh không đi đôi với nhau, khó biết được lẽ huyền bí nhưng công lao của Lê Trãi hãy còn sáng rõ[10]”. Hải Triều trân trân nhìn hàng chữ ấy rồi giao tờ chế văn lại cho Đức Vượng. Nàng quỳ xuống:

 

-Quan gia không những ban ơn cho phụ thân, lại còn cho phép gia đình thần thiếp lấy lại họ cũ mà sinh sống, em trai được bổ dụng, thứ phu nhân cũng được vẻ vang. Nỗi oan ức của phụ thân cuối cùng đã được giải rồi. Tước vị vốn chỉ là vật ngoài thân, với người đã chết đâu thể bằng sự an ủi, trân quý này của Thiên tử. Thần thiếp xin thay mặt phụ mẫu dập đầu lạy tạ long ân.

 

Tim đập “thình thịch” từng tiếng chậm rãi trong lồng ngực mỗi lúc một rõ. Hải Triều không nghĩ mình nói có gì sai, càng không nghĩ lời lẽ chứa nửa phần dối trá. Thế nhưng ánh nhìn lạnh ngắt, dửng dưng của Hoàng đế cứ bám riết lấy đỉnh đầu nàng, len lỏi, trườn sâu vào tận những ngóc ngách lâu nay bản thân nàng vẫn nghĩ là ngõ cụt. Những ngón tay áp lên sàn gỗ muốn co lại nhưng cuối cùng cứ đơ ra cứng ngắc.

 

“Tước vị chỉ là vật ngoài thân” – điều đó đúng, càng đúng hơn nếu người ấy là Nguyễn Trãi. Tư Thành nghiêng đầu, khóe môi cong lên khi nghĩ đến vế câu còn lại đã bị Nguyễn Hải Triều nuốt vào trong. Tước vị ban cho người đã chết là thứ vỗ về vô nghĩa nhất, thực chất là gấm hoa tô vẽ cho vinh quang và phẩm hạnh của kẻ đang sống mà thôi. Nàng ta nghĩ thế nhưng cái miệng đáo để kia không mấp máy hay để lộ dù chỉ một chút nghi ngờ, trào lộng. Cảm giác trống rỗng, ngạo mạn cuồn cuộn xâm chiếm đằng sau vẻ nhu thuận đó thực sự khiến kẻ khác thấy lạnh người.

 

-Bẩm quan gia… – Hải Triều ngập ngừng, hai đầu gối chỉ dám nhích về phía trước một chút rồi dừng ngay lại – …vậy còn việc của tam phu nhân?

 

Một tiếng cười lớn vang lên trong đầu Tư Thành. Câu cần hỏi cuối cùng đã hỏi rồi. Nâng cao ấm để trà mới hãm chảy xuống róc rách, chàng ung dung tận hưởng dòng nước trong vắt từng chút dâng đầy mà chưa trả lời. Phe phẩy cây quạt trong tay, Hoàng đế nheo mắt nhìn cô gái trước sau không hề nôn nóng nhưng trong lòng sao tránh khỏi thấp thỏm kia. Cuối cùng, chàng thở dài bất đắc dĩ:

 

-Cha ngươi lúc có mệnh thì không gặp thời, lúc gặp thời thì lại không được mệnh. Lẽ huyền bí là điều khó biết nhất.

 

Cúi thấp đầu tỏ ý đã hiểu, nàng im lặng. Chế văn ban xuống dù không nói thẳng vào huyết án Lệ Chi Viên nhưng quan cao lộc hậu đã đủ cho trăm họ thấy Hoàng đế đương triều có ý chiêu tuyết[11] cho cha nàng. Vụ việc năm xưa tuy do Nguyễn Thị Anh giật dây nhưng nói cho cùng bà ấy là Hoàng thái hậu, là thể diện của hoàng tộc họ Lê. Quan gia làm quá mạnh tay, quá triệt để chỉ vì một văn thần đã chết tức là tự mình làm phương hại đến tôn nghiêm của hoàng thất, tự mình xới lại những việc chẳng hay ho gì từ thời Thái Tổ. Lợi đâu chưa thấy, chỉ thấy với kẻ hai lòng thì khác gì vẽ đường cho hươu chạy. Án Lệ Chi mà đàng hoàng lật lại thì việc của Quận Ai vương rồi Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả, Trịnh Khắc Phục… vốn âm ỉ trong dân gian sẽ có dịp bùng lên, lung lay đến tận cội rễ của vương triều. Làm người đứng ở nơi cao ban ân điển xuống thì dễ nhưng thẳng thắn nhận lỗi trước bàn dân thiên hạ lại thật hoang đường. Đế vương đời sau biết người trước sai nhưng đã nhắm mắt thì phải đưa chân. Cái gọi là “sửa lỗi” chỉ là phong tước rồi trọng dụng con cái của người hàm oan. Quan gia bây giờ muốn khác cũng không được. Mà người thì hẳn nhiên đã tính kĩ đến mức chưa “muốn” bao giờ.

 

Thái Tông đột ngột băng hà vào lúc tráng niên, đó là vụ án tày trời. Đã là án thì tất phải có hung thủ. Nào có ai dễ dàng chấp nhận một sự không may. Nguyễn Trãi không sai, triều đình không sai thì Nguyễn Thị Lộ phải sai để chấm dứt những dây dưa phiền nhiễu. Điểm kết cuối cùng là mấy chữ “huyền bí” dị thường. Oan sai đổ cho tài cao mệnh bạc, đổ cho “nữ sắc làm hại người ta quá lắm[12]!

 

-Làm người thì phải biết đủ! – Tư Thành nhàn tản nói, tay gác lên đầu gối. – Việc gì cũng có đầu có cuối. Lần này ngươi xuất cung một chuyến để làm tròn đạo hiếu đi.

 

Hương sen tản mát như tấm lụa mỏng tả tơi. Đung đưa mũi giày, chàng nhìn bóng đen dưới chân mình động đậy. Cô độc như cái bóng đặc quánh dưới ánh đèn. Chẳng ai có thể dứt bỏ nó dù lắm khi sự hiện diện vô vị ấy đồng nghĩa với chế giễu. Vừa là bản thân mình, vừa là không phải, chính thế nên cả hai thứ đó đều dễ đẩy người ta vào chỗ suy tưởng tầng tầng, mỗi lúc chìm mỗi sâu. Có thể là hoài niệm, đắn đo, là êm ái hay suy tư kì vĩ… nhưng cũng có thể chứa sự điên dồ, vị kỉ. Lắc lắc ấm trà đã cạn nhẹ hẫng, Tư Thành không cho Đức Vượng tiếp thêm nước.

 

-Thần từng nghĩ Nguyễn Sung nghi là người rất ghê gớm, không dễ bỏ qua cho ai. – Tên hoạn quan liếm môi, lén nhìn sắc mặt Hoàng đế rồi mới e dè nói tiếp – Nhưng Sung nghi phải thật có lòng thì mới đối xử với bà Lễ nghi học sĩ như vậy.

 

Ngước mắt nhìn kẻ đứng hầu cạnh mình, chàng làm như ngạc nhiên rồi bật cười khiến hắn chột dạ mà quỳ rạp xuống. Giơ chân đạp Đức Vượng một cái, người thanh niên lắc đầu, cao giọng:

 

-Ở đời có những thứ trông giống nhau nhưng lại không hề xuất phát từ cùng một nguyên do. “Có lòng”? Ý ngươi nói cô ta nhân hậu, bao dung với thiếp yêu của cha mình? Nguyễn Hải Triều là người như vậy thì thiên hạ chắc không còn loại đàn bà lòng dạ hẹp hòi, tâm tư nanh nọc, mồm miệng cay độc nữa!

 

Đức Vượng hẳn nhiên không hiểu. Lẽo đẽo theo sau, hắn thắc mắc lắm nhưng đành im lặng. Còn Tư Thành, vẻ mặt nghiêm nghị đã được đeo lên từ lúc nào.

 

Nếu Đức Vượng học được thêm chút tinh ý của Ngô Quân thì đã không hỏi một điều ngu xuẩn đến thế. Nhưng chẳng trách hắn được, điều hắn nhìn thấy cũng là điều kẻ khác nhìn thấy rồi ngỡ là chân thực. Ngô Quân từng lớn mật mượn rượu mà bảo: Trong mắt Hoàng đế, Nguyễn Hải Triều chỉ là mảnh sành nhưng trong mắt kẻ khác, cô ta lại là bình gốm hoa lam tinh xảo. Đã hoàn mĩ đến thế thì ai có thể ngờ một lời van xin cho Nguyễn Thị Lộ tuy không dối trá nhưng lại chẳng chứa tấm lòng. Nàng ta không xin cho có mà thực sự muốn tội giết vua của bà Lễ nghi học sĩ được gột rửa. Nhưng ý tứ ấy chẳng hề liên quan đến lòng nhân. Nguyễn Hải Triều muốn ái thiếp đã chết kia phải chịu ơn huệ của mình, phải chống mắt lên xem con gái của một đào hát thất thế là người thế nào. Có thể không tính những sầu thương của mẹ? Có thể từ bi nở nụ cười trước thứ thiếp được sủng ái của cha? Khắc cốt ghi tâm, không tính mà lại phải tính. Lòng dạ tuy miệng chê rằng cạn nhưng lại rất sâu, đắng ngắt, cay nồng, gắt gao như men rượu.

 

-Mang một bình rượu đến cung Long Thụy cho trẫm! – Tư Thành nói rồi đi thẳng.

 

 

 

***

 

 

 

Nắng nhẹ nổi trên hơi nước mát bốc lên từ mặt hồ bán nguyệt. Viên sỏi nhỏ bên vệ đường bị hất văng xuống nghe “chủm” một tiếng. Hai tay tựa lên mặt lan can bằng đá xanh, người thanh niên nheo mắt nhìn về phía xa xa, nơi những mái ngói tráng men lấp lánh vượt lên trên những ngọn cây lá dần thẫm sắc. Tờ chế văn đóng dấu triện son truy phong cho Ức Trai tiên sinh hôm nay sẽ được bố cáo thiên hạ. Tháng bảy năm Quang Thuận thứ năm (1464), thấm thoát cũng hai mươi hai năm rồi. Từ lời đồn đại trong dân gian đến những luận bàn của mấy nhà nho quanh vụ án bí hiểm ấy Thế Vinh nghe không ít. Nhưng nằm mơ chàng cũng chẳng thể ngờ có ngày chính tay mình lại giúp Hoàng đế thảo ra chế văn ấy.

 

Bàn tay xòe rộng hứng lấy những giọt nắng lốm đốm rồi từ từ nắm lại. Người vừa có tài văn chương vừa thạo việc ở viện Hàn lâm không thiếu nhưng quan gia lại chỉ đích danh chàng lãnh trách nhiệm. Điều ấy làm Thế Vinh nghĩ ngợi. Nhưng dầu sao chuyện ngày thơ bé đã qua, cái đáng lo là việc khác kia. Với người biết lẫn không biết, nhìn cung Vĩnh Ninh chỉ thấy một sự vẹn toàn. Nhưng chính ở điểm viên mãn nhất lại chứa cả kết thúc. Thế Vinh mong mình đoán sai, mong người có thể thay đổi nhưng chàng chẳng thể tự lừa mình rằng vật đã vỡ có thể chữa lành.

 

-Nghĩ gì thế? Lại tương tư cô vợ xinh đẹp ở nhà phỏng?

 

Quách Đình Bảo cuộn tập sách trên tay lại rồi gõ lên đỉnh đầu chàng.

 

-Nghe nói mấy hôm trước cậu ở lại Viện Hàn lâm đến khuya vì tờ chế quan gia giao? Cảm giác thế nào? Cậu làm kẻ xưng “huynh” như ta đây thấy hổ thẹn đấy, mới được bổ dụng đã được quan gia lưu tâm như vậy.

 

-Khiến huynh chê cười rồi! – Thế Vinh thoái mái cười ha ha đáp lại – Quách huynh, hai chữ “văn hiến” đó quả thực rất hay đúng không?

 

Dõi mắt theo hướng của người bạn đồng liêu, Đình Bảo từ chỗ ngạc nhiên cuối cùng cũng hiểu Thế Vinh đang muốn nói đến điều gì. Chàng gật đầu tán đồng khi nhìn bức đại tự sơn son thếp vàng treo giữa đại sảnh Hàn lâm viện:

 

-Ức Trai tiên sinh khi hạ bút chắc đã suy nghĩ rất nhiều. Văn hiến… tinh hoa do người hiền tài kiến tạo. Nay quan gia ban chữ ấy cho Hàn lâm viện, ý tứ không phải đã rõ ràng?

 

-Đành rằng là ưu trọng nhưng… – Thế Vinh trầm ngâm – Vừa rồi trên triều, quan gia biếm chức Binh bộ tả thị lang của ngài Nguyễn Đình Mỹ nghe đâu là vì ngài Trình Phong đã có lời tâu xin khoan hồng?

 

-Tin tức nhanh nhạy nhỉ? – Đình Bảo cười cười nhìn sang, không ngờ người đứng cạnh mình có thể nói những câu như vậy – Quả đúng có chuyện đó thật. Đại nhân Đình Mỹ không nhờ vào quan hệ này thì sợ còn bị phạt nặng hơn. Ăn của đút rồi tiến cử kẻ bất tài có phải tội nhẹ đâu. Ngài Trình Phong là thầy học tại Kinh Diên của quan gia. Phu tử đã lên tiếng thì phải vuốt mặt nể mũi. Quan gia chẳng bảo: “Đồ dùng thì chuộng thứ mới, dùng người thì nên dùng người cũ. Nho thần tuổi già đâu còn được mấy ai” đấy thôi.

 

Nhếch miệng cười, Thế Vinh chắp tay về hướng điện Kính Thiên:

 

-Nhưng quan gia cũng nói liền sau đó rằng: “Pháp luật là phép công của nhà nước, ta cùng các ngươi đều phải nghe theo”. Cái nhân nhượng của người đâu thể cho là thật cả?

 

Nhìn trước ngó sau, người thanh niên lừ mắt liếc cậu em gan lớn bằng trời rồi bảo:

 

-Lời này nói với chỗ bằng hữu thì được nhưng để người ngoài nghe thấy lại phiền. Chúng ta học hành thi cử là mong tiến thân lập nghiệp, báo đáp hoàng ân. Nhưng không biết giữ mình tránh xa đấu đá của các bậc đại quan thì chưa đến lúc tận tâm tận lực đã…

 

-Huynh dạy người… – Thế Vinh nhìn Đình Bảo từ trên xuống dưới, đùa – …nhưng sao không nhìn mình? Ai là vừa nói “vuốt mặt nể mũi” vậy?

 

Xua xua tay, chàng thanh niên chịu thua mà nói sang chuyện khác:

 

-Làm người chính trực là khó nhất. Cứng quá thì dễ gãy. Ức Trai tiên sinh không phải vì thế nên mới gặp họa sát thân sao? Muốn ẩn mình đợi thời như Thái bảo Lê Niệm, Thái phó Đinh Liệt không dễ, nói cho cùng vẫn phải dựa vào danh vọng của bậc cha chú đi trước. Kẻ sống dai nhất không phải trung lương, không phải loạn thần mà là kẻ biết gió chiều nào che chiều ấy.

 

Chắp tay cúi chào những người có chức vị cao hơn, họ đi khuất Thế Vinh mới tiếp lời:

 

-Quách huynh đâu phải không hay lẽ sinh diệt ở quan trường. Làm quan cũng chỉ có mấy ngả đó thôi. Đại nhân Nguyễn Mậu, Nguyễn Thiện sau lần mất lòng vài người trong triều nhưng lại được lòng Thiên tử vì biết nói thẳng nên giờ càng lúc càng đường hoàng lớn tiếng. Sáng nay chẳng phải mới bóng gió nói cả ngài Trình Phong lẫn Nguyễn Đình Mỹ là loại tiểu nhân sao? Việc ấy ai ai cũng biết nhưng được mấy ai dám nói ra lời.

 

Ống tay áo đung đưa theo nhịp bước chân. Đưa tay gạt cành liễu lòa xòa chắn ngang lối đi, Đình Bảo cau mày nói:

 

-Sao ta cứ cảm thấy lời cậu nói dường như… không hoàn toàn tán đồng.

 

Phe phẩy cây quạt lấy làn gió mát, chàng ngửa cổ nhìn mấy con chim đang ríu rít trên cây, thủng thẳng:

 

-Thần tử dâng lời can gián nhưng nghe hay không lại ở bậc cửu ngũ chí tôn. Các vị đại nhân nói thẳng nói thật đương nhiên là điều tốt nhưng so với kỳ vọng của quan gia thì đó chưa là gì. Quan gia cần những kế sách dài lâu, nhìn xa trông rộng chứ không phải mấy lời hặc tội tủn mủn. Nguyễn Đình Mỹ dù không ra gì nhưng mắc tội cũng chỉ bị biếm chức đấy thôi.

 

-Ý cậu là… Kẻ tiểu nhân vẫn có lúc dùng đến? – Giọng nói cất lên vừa dè chừng vừa chứa đôi phần ngạc nhiên – Nói cũng phải, tiểu nhân có gan làm những điều mà quân tử không dám.

 

Trung là trung với quan gia. Người làm quan gia hài lòng có thể tự nhận là trung rồi, đâu cần biết trong mắt kẻ khác mình thực là gì. – Bàn tay mới nghiêng đi, cái quạt đã gập gọn lại. Thế Vinh đổi giọng vui vẻ như hàm ý việc ban nãy đến đây chấm dứt được rồi – Sao nhìn đại nhân Cư Đạo mới sáng sớm đã tất bật thế nhỉ?

 

-Nghe đâu quan gia chỉ định ngài ấy làm thầy học cho Đông cung Hoàng thái tử. Tính quan gia người không biết thì thôi, người đã biết thì đâu dám lơ là. Chuẩn bị từ bây giờ e vẫn còn là chậm.

 

Bước đi chậm lại. Bóng thu dưới chân thành một vệt mờ.

 

-Quách huynh, huynh bảo con người có phải sống để chết không?

 

Câu nói thốt ra miệng bằng một giọng trầm nặng. Không phải vì bóng cây thay thế cho khoảng trời đầy nắng mà người ta thấy lạnh. Miệng mở ra mấy lần nhưng mãi sau Đình Bảo mới trả lời:

 

-Sống chưa sống hết, bàn chuyện chết làm gì? Cảnh Nghị, cậu đọc sách Phật không phải một, hai năm. Cái gì đời là bể khổ, cái gì là tu tập để giải thoát cậu còn hiểu hơn ta. Ta không luận chữ chết với cậu.

 

 

 

Thu xếp công việc ở Viện Hàn lâm xong xuôi, Thế Vinh được quan Thừa chỉ Nguyễn Cư Đạo châm chước vì mấy buổi ở lại qua đêm đặng lo xong giấy tờ nên đến giờ Thân[13] đã được cho về. Các vị đại nhân vai vế mới có võng lọng đi đường. Còn Thế Vinh mới ra làm quan hơn một năm, nhà còn trăm thứ phải lo nên thay thường phục xong xuôi, chàng hết ngồi thuyền rồi lại đi bộ là về đến nhà. Đường đi đã quen nên dần dà cũng không thấy quá xa nữa. Nụ cười trên môi tươi hơn khi thoắt cái đã thấy cánh cửa gỗ khép kín của căn nhà nhỏ nằm khuất sau những tán cây um tùm.

 

Nghĩ cảnh vợ chồng son mà phải chia cắt rồi tính cả đến đường con cái, đằng nhà Lam Ninh từng ngỏ ý muốn cho cháu gái một căn nhà lớn ở khu Đông kinh thành làm của hồi môn. Thế Vinh chưa biết tính thế nào thì nàng đã từ chối rồi sau đó dọn đến căn nhà nhỏ của chàng ở khu phía Nam Đông Kinh. Nói là cho cháu gái nhưng ai cũng hiểu ông bà lớn muốn cháu rể mang ơn nên với bề trên đằng ngoại, Lam Ninh chỉ thưa gọn một câu: “Thuyền theo lái, gái theo chồng”. Chuyện ấy về sau chị Đào kể lại chàng cũng mới biết.

 

-Cậu đã về! – Thằng nhỏ vừa thấy cánh cổng mở ra liền quẳng toẹt cái chổi xuống sân, vòng hai tay trước ngực rồi cúi đầu chào thật lễ phép.

 

-Sành, mợ đâu? – Đưa túi đồ cho đứa bé, Thế Vinh nhìn một lượt rồi hỏi.

 

Theo hướng chỉ, chàng vòng qua mấy chum tương phơi giữa sân, đi về phía sân sau – nơi có giếng nước và khu vườn nhỏ. Chiếc áo giao lĩnh nhạt màu vắt trên bờ dậu, nhìn thế chẳng ai nghĩ nó được làm ra bằng thứ vải đắt tiền. Cuộn áo trong tay, Thế Vinh tiến vào. Bước chân của chàng làm đám gà con mới nở chiêm chiếp tản ra trong khoảnh nắng.

 

Dải yếm buộc quanh cổ vắt hai đầu dây hờ hững qua chiếc gáy trắng nõn thoang thoáng mấy sợi tóc tơ mềm chưa ướt nước. Tấm lưng cúi xuống hơi nổi gờ lên đường cột sống cong cong thanh nhã, phô làn da mịn màng anh ánh hồng hào dưới ánh chiều. Nếu không vì cái mỏ sừng của con gà nghịch ngợm mổ xuống, có lẽ chàng sẽ còn đứng ngây ra như vậy thêm lúc nữa. Nhấc cái gáo gác trên chậu nước lên, Thế Vinh thản nhiên đón lấy ánh mắt ngỡ ngàng của Lam Ninh. Môi nàng mím lại làm sắc hồng hồng chuyển mình ửng đỏ, rất tiệp màu với đôi gò má được sưởi ấm không biết bằng nắng trời hay bằng hơi nóng từ nồi nước bồ kết. Mấy nếp nhăn trên chiếc váy lĩnh xô lại khi cô gái ngượng ngùng ép hai đầu gối sát vào nhau, tạo thành tấm chắn trước ngực khi nghĩ đến cái yếm điều mỏng manh trên người.

 

-Nàng cúi xuống đi! – Chàng nhẹ nhàng bảo rồi chậm rãi dội từng gáo, từng gáo nước xuống đỉnh đầu Lam Ninh.

 

Nước rơi lõm bõm, tráng lên những sợi tóc một màu đen nhánh mượt mà. Chen vào những âm thanh trong trẻo vui tai ấy là tiếng ngân nga một điệu dân ca nào đấy trong cổ họng chàng. Dáng vẻ thoải mái của Thế Vinh làm Lam Ninh không dám cản trong khi thực tình, nàng cảm thấy một Trực học sĩ của viện Hàn lâm đi làm việc này thì hơi đánh mất phong thái. Ở nhà, mẹ thường bảo đàn ông dù có thế nào cũng luôn giữ thể diện của mình. Chính điều ấy làm Lam Ninh kiên quyết hơn khi lắc đầu từ chối căn nhà của ông bà nội. Thế Vinh không hợp và nàng cũng không muốn chồng mình chịu tiếng chó chui gầm trạn[14]. Từ “chồng” bật ra trong đầu tự nhiên làm mấy ngón tay đang luồn vào mớ tóc dừng sững lại. Đôi mắt ngước lên rồi vội vàng cụp ngay xuống.

 

Những chuyện kể mỗi khi chàng trở về nhà từa tựa khúc nhạc giản đơn thỉnh thoảng rộ lên vài đoạn hào hứng trên cái nền êm êm như tiếng sóng nước vỗ vào bờ đất. Chỉ có mình Thế Vinh nói. Điều ấy lắm lúc làm Lam Ninh thấy nhộn nhạo trong lòng khi mường tượng cảnh con đò cứ cập bến nhưng chẳng đón được một vị khách nào. Tiếng kẽo kẹt mái chèo của chiếc thuyền không giống âm vang của một nỗi áy náy.

 

-Có chuyện gì vậy? – Liếc nhìn bàn tay đột nhiên bị níu lại, chàng cất tiếng hỏi rồi cười cười trấn an khi thấy điệu bộ lúng túng của Lam Ninh – Tôi đang nghe đây.

 

Chăm chú nhìn nàng khua tay và mấp máy môi một hồi, người thanh niên tự thắc mắc xem điều gì có thể khiến cô gái tỏ ra hồi hộp và ngượng ngập như vậy. Là sợ làm phiền hay sợ… chàng không hiểu? Đưa khăn lau tóc cho Lam Ninh, đôi mắt Thế Vinh sáng lên khi chàng cười:

 

-Sáng nay, nàng đi chợ với thím Hạnh hàng xóm vì Sành ngủ quên mất? Tôi đã nói thím ấy là người tốt mà… Được rồi, được rồi, tôi hứa sẽ không mắng thằng bé!

 

Lúc trước, Lam Ninh nhờ người dưới quê mang gạo cùng một số thực phẩm thường dùng lên nhưng được một thời gian lại thôi. Nàng chuyển qua dắt thằng Sành đi chợ để bảo nó mặc cả hộ mình. Còn giờ, nàng bắt đầu qua lại với hàng xóm láng giềng. Ấy hẳn là việc tốt. Thằng cu Sành chưa làm được việc gì lớn, giữ ở bên cốt để lúc Thế Vinh đi làm việc quan thì có đứa cắp tráp theo hầu. Lương bổng của chàng nàng tằn tiện chi tiêu thì cũng dành dụm được một ít chứ không đủ để nuôi thêm gia nhân. Giang sơn nhà chồng tuy chưa phải lớn lắm nhưng cũng dồn cả lên đôi vai người con gái. Việc ấy nói khó cũng là khó, nhất là với những cô dâu mới. Dù thời con gái họ có đảm đang đến mấy thì đến khi lấy chồng cũng chưa chắc đã được vẹn toàn nữa là người được nuôi lớn ở chốn thế gia mưa không đến mặt nắng chẳng đến đầu. Quán xuyến cửa nhà đâu chỉ là quét tước, giặt giũ, củi lửa mà còn chợ búa, bán mua. Thế Vinh biết thế nhưng chưa từng trực tiếp can dự dù chàng cũng lo Lam Ninh sẽ bị người ta bắt nạt, đàm tiếu sau lưng. Người nhà quê đã thế nữa là kẻ ở đất thượng kinh, hay cũng hơn người mà dở cũng hơn người.

 

-Có thím ấy đi cùng thì mọi việc sẽ ổn thôi. – Chàng khích lệ – Nàng càng ngày càng giỏi đấy. Tối nay phu nhân cho tôi ăn gì đây?

 

Mải nhẩm tính lại tiền chợ ban sáng, câu hỏi của Thế Vinh khiến Lam Ninh giật mình ngoảnh lại. Đôi mắt trong phản chiếu màu hoàng hôn ấm áp, để nắng cuối ngày tô lên đôi môi, gò má sắc hồng thắm. Nhún vai tỏ vẻ như chẳng có gì đặc biệt, nàng chỉnh lại áo rồi bước xuống bếp. Chả mấy mà khói rơm đã tỏa ra trên mái rạ, kết thành tấm voan mỏng trắng mờ ôm lấy mặt trời sáng gắt, tròn trịa như lòng đỏ trứng gà.

 

 

 

***

 

 

 

Nước rẽ làm hai dưới mũi thuyền. Mái chèo chốc chốc đập vào mạn thuyền thành những tiếng trầm đục, kèn kẹt. Không lầu gác trùng trùng, không sắc son đằm thắm, uy nghi muôn trượng, cũng chẳng ngói vàng, ngói xanh lấp lánh, trên đầu chỉ có màu thiên thanh dìu dịu soi bóng xuống mặt nước đùng đục trôi nổi mây trời. Tấm cót rền rĩ mấy tiếng khi có người tựa vào, ghé mắt nhìn những triền cỏ xanh mướt trải dài hai bên bờ sông. Đây đó vẳng lại tiếng người đi chợ, tiếng nhảy “tùm” của đám trẻ con vào dòng nước mát lành, rồi cả tiếng những bước chân nặng trĩu chuyển hàng xuống khoang thuyền.

 

-Ăn đi! – Hải Triều đột ngột cất tiếng làm Ngọc Hồ ngơ ngẩn nhìn xuống quả trứng luộc trắng bóc trong tay. – Bụng em réo rồi kìa!

 

Bất giác đặt tên lên bụng, cô gái ngượng ngập vì những tiếng ùng ục vô duyên ấy nên càng không dám há miệng ăn thứ Nguyễn Sung nghi đưa cho. Nhìn xuống bằng ánh mắt êm êm thanh thản, Hải Triều bứt một sợi tóc trên đầu rồi đặt nó theo chiều dọc của quả trứng. Lực ấn xuống tuy nhẹ nhưng lại cắt được một đường rất ngọt, bửa trứng làm đôi.

 

-Em một nửa, ta một nửa!

 

Chỉ dám mở miệng be bé, Ngọc Hồ quay đầu cắn một miếng nhưng mắt vẫn len lén dán lấy gương mặt của nữ chủ nhân. Dung nhan ấy không hẳn chứa niềm xúc động vô bờ, càng chẳng chứa sự hồi hộp, bồn chồn như người cung nữ những tưởng. Thảnh thơi, thản nhiên và như có gì gần giống dịu dàng, ấy là điều cô gái cảm thấy khi họ bước chân ra khỏi Cung thành, để nhưng thanh âm ồn ã của phố chợ Đông Kinh ôm trọn lấy. So với đôi mắt đẹp nhưng hệt một cánh cửa đóng kín đã quá quen thuộc, Ngọc Hồ thích ánh mắt lúc này của Nguyễn Sung nghi hơn bởi nó có vẻ… giống người.

 

-Tiểu thư – Cô gái đổi cách xưng hô cho hợp với cách quan gia gọi Hải Triều – Công tử thực sự rất quan tâm đến người. Nô tì theo công tử từ xưa, chưa từng thấy cậu đối xử với nữ nhân nào như thế.

 

Đôi môi khiêm nhường nâng lên thành nụ cười xã giao nhạt thếch. Vuốt phẳng dải dây lưng, Hải Triều nghiêng nghiêng đầu như thể nghĩ suy. Quan gia thực có lòng nhưng đó lại không xuất phát từ thứ tình cảm Ngọc Hồ nhìn nhận. Yêu thương, ân nghĩa đều là những thứ có thể quên lãng, phai nhạt theo tháng năm nhưng hận thù và thành kiến thì chẳng bao giờ dễ úa tàn. Có lẽ bởi chúng gắn chặt với con người, không phải thứ đem cho hay mang trên vai như yêunghĩa.

 

-Tiểu thư, nô tì có điều này không hiểu – Ngọc Hồ liếc nhìn Ngô Quân rồi hạ giọng thì thào, giấm dúi hệt như bất kì thiếu nữ nào mới phát hiện ra điều bí mật – Là… hai câu thơ cuối công tử tặng tiểu thư. Tại sao công tử lại bảo “thiếp bạc duyên” ạ?

 

Hải Triều ngẩn người, mấy ngón tay đang mải ngịch chùm chuông bạc dưới hộp trầu chợt ngừng lại. Hồi tưởng một lúc, cuối cùng nàng thầm “à” một tiếng trong đầu:

 

-Ý em là hai câu: “Tới thu lại thấy yêu đương nữa/Mựa chớ đàn chi thiếp bạc duyên”? Công tử làm câu thơ đó dựa vào một điển tích của người phương Bắc. Khi xưa, Hán Thành Đế sủng ái một vị Tiệp dư họ Ban giỏi thơ phú và rất thông minh. Nhưng về sau, bà ấy bị vua ruồng rẫy nên làm bài thơ ai oán, ví mình như cây quạt đến lúc sang thu thì bị lãng quên[15]. Nữ nhân trong cung cũng như đồ đạc, thích thì dùng, không thích thì bỏ. Đồ dùng vốn nhiều, lại luôn luôn thay đổi nên việc được mới nới cũ cũng là lẽ thường.

 

Gật đầu tỏ vẻ đã hiểu, chợt hai mắt Ngọc Hồ sáng lên:

 

-Chẳng phải công tử có ý rằng… dù trời có sang thu thì tấm lòng của người với tiểu thư cũng không đổi sao?

 

Câu nói thành thực ấy làm Hải Triều bật cười, hàm răng đen bóng thoáng lộ ra dưới nét môi hồng. Dí ngón tay trỏ của mình lên trán thiếu nữ, nàng nghiêm túc nhưng lời nói lại nhẹ tênh:

 

-Công tử an ủi cây quạt chứ đâu có nói với ta. Suy nghĩ về một người liệu có dễ thay đổi đến thế? Đã một lần mặc áo đào nương thì đến chết vẫn là đào nương. Mẹ ta như vậy, ta cũng như vậy. Bụi hồng đã nhuốm đâu thể cứ muốn phủi là sạch?

 

Điểm sáng hơi ngời lên trong đáy mắt như những vì sao nhấp nháy trên bầu trời đêm. Không thiếu những khinh miệt, coi thường nhưng càng thế Hải Triều càng ung dung, thích thú bởi nàng ấy chưa từng hổ thẹn vì thân phận của mình. Lông mày Ngọc Hồ cau lại bởi nàng cũng có quan điểm của mình và giờ quan điểm ấy bị người ta bác bỏ bằng sự hiểu biết mà nàng không có. Tư Thành cố chấp, khắt khe đến mức làm người ta vừa sợ hãi, vừa khó hầu hạ. Điều này thiếu nữ rất hiểu nhưng nàng lại tin chủ nhân mình có lòng với cô đào quái gở ấy. Chợt ngẩn người, nàng nhớ lại điều Ngô Quân từng hỏi: “Việc riêng của chủ nhân mà sao em sốt sắng thế?”. Lý do là gì đến bản thân Ngọc Hồ cũng không thật rõ. Nàng chỉ cảm thấy họ nên như thế, nên ở bên nhau như thế thì hơn.

 

-Công tử của em… – Hải Triều hơi cúi đầu, đội nón quai thao lên. Nàng đè giọng xuống thành tiếng thì thầm – …dùng cả hai tay nắm lấy giang sơn. Người như thế để nữ nhân vào đâu?

 

Gió thổi men theo triền dốc làm vạt áo màu xanh tím tung bay tựa con bướm đang chao đảo. Đưa tay giữ vành nón chông chênh, Hải Triều cắm cúi bước về phía trước. Nắng rực rỡ nhưng lòng nàng lại dần nguội lạnh theo những bước chân nhanh nhẹn, dứt khoát. Rơi trên những lá cỏ mềm là những tiếng lanh canh vui tai của sợi xà tích bạc.

 

Âm thanh trong vắt ấy làm ông lão đang lom khom thắp mấy nén hương hiếu kì ngoái lại. Chiếc nón quai thao hơi ngả về phía trước làm bóng đổ xuống khiến ông không nhìn rõ mặt người con gái đột nhiên xuất hiện giữa chốn đồng không mông quạnh này. Định bật ra câu hỏi: “Cô Oanh phải không?” nhưng ông lão lại thôi vì cảm thấy người trước mặt không giống với cô đào ở đất thượng kinh.

 

-A, công tử! Lâu lắm lão mới gặp cậu!

 

Vừa thấy tà áo lam thẫm của Ngô Quân, ông lão thở phào vì đương không biết đối diện làm sao với cô gái mới xuất hiện. Suốt từ lúc ngôi mộ này được xây lại, ông cụ đã gặp người thanh niên ấy vài lần, được đích thân anh ta nhờ cậy trông nom giúp với số tiền hậu hĩnh miễn là phải biết kiệm lời. Nghe đâu con gái của người phụ nữ họ Phùng kia nhờ làm ăn trên kinh đô mà trở nên khấm khá nên bỏ tiền sửa sang mộ phần cho mẹ. Nhớ đến đó, ông lão đảo mắt nhìn phục sức trên người cô gái, ngầm đoán định.

 

-Cụ vất vả rồi! – Ngô Quân lịch sự nhưng xa cách rõ ràng – Đây là tiểu thư nhà tôi!

 

-Cảm ơn cụ lâu nay đã chăm sóc cho mẹ cháu!

 

Giọng nói êm ái, trong trẻo như dòng nước mát làm người ta dù không nhìn rõ mặt nhưng vẫn thấy vui lòng. Lau lau tay vào áo, người đàn ông ngửa cổ nhìn tán cây xanh mướt tỏa xuống bóng râm tròn:

 

-Lúc sinh thời, phu nhân chắc thích hoa mai lắm nên tiểu thư mới cất công mang một cây đến trồng bên mộ mẹ. Tôi tay chân vụng về nhưng cô cứ yên tâm, năm nào hoa cũng sẽ nở đẹp. Tiểu thư ở lại, tôi xin phép!

 

Bóng lá xào xạc trên nền đất. Mái tóc đen dài lốm đốm những chấm nắng rực rỡ như những đóa hoa nở thành chùm. Xếp đồ lễ xong xuôi, ngón tay vừa rời khỏi nén hương thì Hải Triều đã cất tiếng:

 

-Công tử thật có lòng.

 

Đang định cất bước đi ra xa một chút để không phạm vào cái riêng tư của Nguyễn Sung nghi, Ngô Quân liền dừng lại, hướng đôi mắt tĩnh lặng, nghiêm trang về phía nàng:

 

-Công tử luôn canh cánh vì việc này người tự ý quyết định mà không hỏi tiểu thư. Cậu cũng muốn chọn một mảnh đất phong thủy tốt hơn nhưng…

 

-Cây đã bén rễ thì đừng đào lên nữa! – Nàng thong dong cất tiếng, chăm chú nhìn ngôi mộ xây bằng đá xanh vuông vắn, đẹp đẽ không thua gì những nhà thế gia có tiền có của. Ngửa cổ ngắm tán lá xanh rì lao xao rồi mường tượng ra sắc hoa trắng phau, Hải Triều mỉm cười – Có nằm mơ ta cũng không ngờ mọi việc có thể chu toàn đến thế.

 

Lúc Ngọc Hồ bước lại định hỏi sau đây chủ nhân muốn đi đâu để Ngô Quân còn thu xếp, nàng chỉ thấy người ấy vẫn quỳ trên nền đất y như lúc trước, không khấn vái mà cũng chẳng khóc lóc. Tờ giấy mã mỏng manh vừa bị lưỡi lửa liếm qua liền cháy rụi, rơi xuống từ giữa những ngón tay hờ hững. Tro tiền tan tác vương lên mái tóc, bỗng đâu làm người con gái ấy giống bức tượng bị thời gian phủ bụi mờ, dây leo, cỏ dại len lên, mọc bám theo cẳng chân, quấn quanh những ngón tay giá lạnh. Ánh lửa nhảy nhót trong đáy mắt phẳng lặng như những vệt sáng ngổn ngang. Chiếc lá vàng chao qua chao lại rồi đáp xuống lòng bàn tay để mở. Hải Triều chậm rãi nhếch môi. Cuối cùng vẫn là lá rụng về cội, nhưng Mai Loan muốn nằm lại đâu thì nàng lại không hay biết. Đầu ngón tay lần lần theo những vết khắc sắc nét trên tấm bia. Lồng ngực hạ xuống theo hơi thở nặng nề. Nàng ngước mắt lên như thể nhìn ai đó đang đứng sát gần.

 

-Khi con sinh cháu, lâu lắm rồi con mới lại thấy u. – Bờ môi mấp máy làm âm thanh thoát ra chỉ lớn hơn tiếng thở một chút – Nhưng u quay lưng về phía con… nên… dù gọi thế nào… u cũng không nghe thấy.

 

Lúc ấy trong mơ, hình như nàng đã khóc. Là nàng của ngày thơ bé ngã sấp xuống con đường gập ghềnh đầy những chỗ trũng chứa nước mưa, sình bùn. Nước mắt vòng quanh, chảy vào cái miệng ngoạc ra mang theo vị mặn chát. Môi mím lại. Những âm thanh xa xưa tắt ngấm bên tai. Nàng nói tiếp với đôi đồng tử cạn khô, trơ khấc thấp thoáng ý cười:

 

-Thầy đã được quan gia minh oan, phong tước rồi ban cả đất làm ruộng hương hỏa. Thầy có một đứa con trai nên u không cần lo việc nối dõi… À, chuyện liên quan thầy đương nhiên u đều biết cả, đâu cần con nhiều lời…

 

Canh cánh lo sợ sôi hỏng bỏng không nếu thân thế bại lộ vào lúc không thuận lợi, lại thêm bế tắc, vô vọng tạo thành sợi dây thừng thô ráp thít chặt, buộc nàng phải căng sức suy tính. Vậy nên sau khi tiến cung, dù được quan gia đồng ý nhưng chưa lần nào Hải Triều quay lại xã Cao Hương mà chỉ lưu lại giáo phường một đêm là cùng. Nhưng giờ thì chẳng còn gì phải lo nghĩ nữa.

 

-Cuối cùng, u có thể yên nghỉ được rồi!

 

Đầu ngón tay vuốt dọc mặt bia thành vệt dài hờ hững. Lời theo gió nhẹ như mây bay. Quay bước, nàng đi ngược vào làng nhưng chưa được bao xa đã gặp chuyện. Gánh nước chòng chành trên bờ vai còm cõi của người đàn bà đứng tuổi đột ngột đổ ào lênh láng. Không để tâm đến váy áo ướt sũng, Hải Triều đỡ bà cụ đang sụp quỳ, rối rít xin tha tội đứng thẳng dậy.

 

-Có gì to tát đâu! – Nàng cười – Cụ ngồi nghỉ đây, con xuống múc lại nước cho.

 

Bà cụ móm mém cười, cảm ơn rối rít khi nhận lại thùng nước đầy. Đôi quang gánh trĩu xuống bờ vai vương sợi tóc lơ phơ bạc trắng. Những chấm nước nối tiếp nhau nhỏ trên con đường đất theo bước chân guồng vội. Hải Triều ngẩn ngơ dõi nhìn bóng người khuất sau lũy tre xanh, đoán chắc có ai hay việc gì đợi cụ ở nhà. Tự nhiên, nàng lại nhớ tới ông chồng mù quờ quạng đặt bàn tay nhăn nheo lên vai vợ. Vai bên kia, người đàn bà khoác tay nải đựng mõ, phách, còn bên hông cắp đứa bé đang ngằn ngặt khóc. Gia đình nhà xẩm cắm cúi đi trong ánh bình minh nơi phố thị đô hội, để lại trên nền đất những vệt đen mong manh xô về phía nhau. Những thanh phách lách cách; dùi trống gõ xuống tom tom; bàn chân thô kệch, cáu bẩn đè lên bầu đàn nhị để làm điểm tựa, còn cây vĩ lướt đi trên sợi dây đàn dệt hết giai điệu hóm hỉnh đến giai điệu vui tươi khác. Nàng nhìn hay hồi tưởng lại những cảnh trí ấy đều bằng một ánh mắt: ánh mắt ngưỡng mộ.

 

Mặt ao nổi vân nước đồng tâm màu xanh thẫm làm bóng người im lìm thêm méo mó. Lưng áo ướt mồ hôi còn từ đầu gối trở xuống lại được sóng nước mát lạnh vỗ về. Cánh tay buông thõng bên hông nhúc nhích rồi khoát một đường vòng cung để khỏa nước. Ao xanh ngăn ngắt đựng cả mảnh trời, thu lấy đôi tròng mắt vô hồn rồi tan hòa làm một. Những lời dối gạt bản thân từ tấm bé trôi xuống mang theo hơi tàn. Hàng mi của người trong nước dần khép lại.

 

-Tiểu thư! – Tiếng gọi bật ra trên môi Ngọc Hồ nghe bình tĩnh nhưng đè nén bên trong sự hoảng loạn, sững sờ của một kẻ đã biết nhưng vẫn không tin người trước mặt có thể cả gan làm những việc không chút lưu luyến như vậy – Trước khi đi, công tử có dặn tiểu thư còn nợ cậu ấy rất nhiều. Cho nên…

 

-Em nghĩ đi đâu thế? – Hải Triều ngạc nhiên rồi thích thú ngắm nhìn vẻ nghiêm trọng của người cung nữ – Ta nào có lá gan lớn đến nỗi dám khi quân phạm thượng. Chỉ là… nhớ lại chuyện ngày bé thôi. Ta từng suýt chết đuối ở cái ao này một lần.

 

Có thể Ngọc Hồ chẳng hoàn toàn tin hết, nhưng điều ấy đâu còn quan trọng. Xương cốt đằng sau lớp vỏ hào nhoáng, mỹ mãn rệu rã khi nàng bước lên từng bậc cấp. “Chưa được. Chưa đến lúc!” – Hải Triều tự lẩm nhẩm như thế khi đi tới khu chợ phía trước.

 

 

 

***

 

 

 

-Anh ơi, bao giờ mẹ về? – Gia Thục dụi dụi mắt, ngồi phịch xuống cạnh Lê Tranh – Anh bảo chỉ cần em đi ngủ ba lần, mở mắt ra sẽ thấy mẹ về mà!

 

Thở ra dài thượt, cái đầu thằng bé gục xuống chán nhán. Quả khế ăn dở trong tay ứa ra nước ngọt bỗng chốc không còn thú vị nữa. Gần được hai ngày rồi. Suốt từ chiều, chốc chốc Tranh lại chạy ra cửa cung ngóng nhưng chẳng thấy bóng dáng Hải Triều đâu. Đến giờ này thì nó chẳng ngồi yên nổi nữa nhưng không biết phải hỏi ai. Ban sáng, Nguyễn Tuyên vinh bế công chúa Thụy Hoa đi chơi ở Ngự hoa viên thì trông thấy thằng bé nghịch đất lấm lem ở đó. Người không những không trách phạt lại còn lau sạch tay chân, cho nó cái bánh thật ngon. Nghĩ lại chuyện ấy, tự nhiên Tranh thấy tủi thân. Lại thêm đôi mắt đo đỏ, ngấp nghé nước của Gia Thục làm thằng bé suýt nức nở theo. Nhưng rồi nó hít vào một hơi, chỏ tay lên cây khế mọc xòa cả vào trong hiên, bảo:

 

-Anh đang đếm xem có bao nhiêu quả khế rồi đợi con chim lớn bay đến đậu trên cành cây. Mẹ bảo chim ăn một quả trả cục vàng, may túi ba gang, đem đi mà đựng đấy. Vào đếm với anh đi!

 

-Em cũng muốn đi! – Mắt cô bé sáng lên hào hứng dù không thực hiểu hết lời của Tranh.

 

-Thích đến đảo vàng, đảo bạc sao?

 

-Con muốn bay! – Mới đếm đến ba, Gia Thục đã hớn hở đứng bật dậy, chạy lao về phía Tư Thành khi mới nghe thấy tiếng chàng.

 

Nhìn cha nhấc bổng em gái lên quay mấy vòng làm con bé cười khanh khách, Tranh dợm bước định chạy đến vòi vĩnh nhưng nửa chừng thì dừng lại. Nó quỳ xuống hành lễ theo đúng cung quy khi nhớ đến vẻ mặt nghiêm khắc của mẹ:

 

-Nhi thần bái kiến phụ hoàng.

 

Lời nói tròn vành rõ chữ nhưng vẫn còn ngượng ngập làm nụ cười trên môi Tư Thành hơi nhạt đi một chút. Chàng vốn không thể cản Hải Triều bởi nàng ấy không sai. Có điều mấy danh xưng hoa mỹ kia tự nhiên làm người ta thấy xa lạ. Rồi dần dần thời gian trôi qua, xa lạ, khoảng cách sẽ thành quen thuộc, quen thuộc đến mức không thể quay lại như lúc bao đầu.

 

-Bình thân – Chàng đáp rồi liếc nhìn Đức Vượng để bảo hắn đặt khay bánh lên bàn.

 

-A! Bánh gio mật! – Vừa được đứng lên, Tranh đã chạy nhao tới, bám tay lên mặt bàn gỗ. Ánh mắt hau háu láu lỉnh ấy khiến Hoàng đế phì cười.

 

-Thích hả? Vậy cầm lấy một cái đi.

 

-Dạ, thích! Vì nó ngọt! – Nói đến đấy, bàn tay mon men tiến tới định nhón một cái nhưng lại rụt về. Dùng hai nắm tay đỡ lấy đôi má bầu bầu ửng hồng, thằng bé mím môi ra vẻ quyết tâm rồi ngẩng lên – Con đợi mẹ… à… mẫu thân về ăn cùng!

 

Gia Thục thì không được kiên nhẫn như thế. Nhúng cái thìa bé xíu vào trong hũ mật sánh đặc màu hổ phách, chàng đưa cho con gái nhưng bản thân lại từ chối khi con bé định chia sẻ thứ ngọt ngào ấy với mình. Nhưng đồ ăn có được thích đến mấy cũng không thể bằng mẹ, càng không thể níu kéo được niềm vui. Những chuyện rôm rả nhanh chóng lắng xuống khi hai đứa bé con ngồi trên bậu cửa, chốc chốc lại nhổm người xem ai đang bước vào. Hy vọng rồi thất vọng cứ thế nối tiếp nhau trong một buổi chiều lê thê sắc đỏ.

 

-A! Mẹ về! – Gia Thục đang vặn vẹo mình thì chợt reo lên như thế. Gương mặt bí xị của con bé thoáng chốc bừng lên nụ cười khiến Tư Thành giật mình, chuyển ánh mắt từ cây đàn bầu tàn tạ về phía cửa chính.

 

Lê Tranh chạy như bay tới ôm chân Hải Triều chặt cứng khiến nàng loạng choạng. Gia Thục còn chưa khóc thì Tranh đã nức nở rồi. Nước mắt nối tiếp nhau rơi xuống thấm ướt váy của nàng. Luống cuống ngồi xuống vỗ vễ hai đứa bé, nàng khổ sở cười:

 

-Sao thế? Mẹ về muộn một chút thôi mà.

 

-Con… con sợ… mẹ không về nữa! – Tranh sụt sịt, vừa khóc vừa nói rồi quàng tay ôm chặt lấy cổ Hải Triều. Lần này đến lượt nước mắt của thằng bé nhỏ lên vai áo nàng.

 

Bàn tay vỗ nhẹ lên tấm lưng ấy chợt ngừng lại. Cô gái sững người, hơi thở dồn ứ trước ngực không thoát ra được. Cơ vai, cơ tay bất chợt gồng lên như lấy sức gánh vác điều gì nặng nề lắm. Đôi mắt đảo quanh lúng túng vô tình nhìn lên liền bắt gặp vạt áo hoàng bào của Hoàng đế. Dịu giọng năn nỉ, nàng lựa cách cố đẩy hai đứa con ra:

 

-Con buông mẹ ra nào. Phụ hoàng đang đứng kia, mẹ phải…

 

-Không buông! Con không buông! Con mà buông mẹ sẽ đi mất!

 

-Sao mẹ đi mất được chứ? – Nàng cười, vòng tay ôm chặt thằng bé vào lòng, để cả nước mắt, hơi thở cùng trái tim thổn thức của nó hòa lẫn vào mình. Từng tiếng thút thít như viên sỏi xém xuống giếng sâu, chìm mãi vào tận đáy lòng. Cũng vào một buổi chiều như thế rất nhiều năm về trước, Mai Loan đã cậy vòng tay nhỏ bé của nàng ra, cương quyết bảo: “Con buông u ra để u đi làm việc”. Người đi khỏi, hơi ấm trước ngực cũng tan, để lại đằng sau vết khoét sâu hoắm, trống hoác. Ở khoảng rỗng không ấy thi thoảng lại rít lên tiếng gió lạnh toát từng cơn. Bàn tay run run áp lên cổ thằng bé. Hải Triều vùi mặt vào bờ vai bé xinh ấy, che đậy sự hổ thẹn nghẹn lời của mình.

 

-Mẹ bắt con hứa… không bỏ mẹ lại… một mình! – Lấy lòng bàn tay chùi nước mũi, Tranh đè tiếng thổn thức xuống để cất lời – Mẹ cũng phải hứa… hứa… như thế!

 

-Mẹ hứa đi! – Gia Thục níu níu tay áo nàng, nóng ruột.

 

-Mẹ hứa!

 

Vừa dứt lời, vòng tay ôm ghì kia mới nhẹ nhõm nới lỏng cho nàng cúi xuống hành lễ:

 

-Thần thiếp bái kiến quan gia. Thần thiếp…

 

-Trẫm còn việc ở Ngự thư phòng. Nàng nghỉ ngơi đi! – Tư Thành bỏ lại câu ấy rồi đi thẳng, ánh mắt thờ ơ, chán nản không lưu lại trên người Hải Triều quá một khắc.

 

Hai đứa trẻ quấn lấy mẹ suốt từ chiều đến tận khuya. Lên giường, kéo chăn đến tận cằm rồi mà chúng còn cố nhỏm dậy kể xem trong mấy ngày nàng đi vắng, hai đứa đã vâng lời Thụy An và Kiến Chương ra sao. Bàn tay níu kéo vươn ra giữa giấc mơ của Tranh suýt chút nữa giữ được Hải Triều ở lại thật, ấn nàng vào sâu trong sự ấm áp, giản đơn của con trẻ. Nếu không phải vào đúng lúc ấy, nàng ngẩng lên nhìn về phía đình hóng gió.

 

Việc gì cũng phải có đầu có cuối, Hoàng đế đã nói vậy nên cô gái phải chờ. Chờ đợi làm từng khắc trôi qua thật lâu, chán nản và vô vị nhưng vừa mới để hồn mình trôi nổi trên mấy đóa sen thì sau lưng đã nghe thấy tiếng bước chân cùng hương quế quen thuộc lẩn khuất đây đó. Không hẹn mà gặp, ánh mắt hai người cùng dừng lại trên khay bánh gio đặt trên sàn gỗ.

 

-Thần thiếp muốn mua bánh về làm quà cho Hoàng thái tử và công chúa nhưng cuối cùng vẫn chậm hơn quan gia một bước. – Nàng mỉm cười tươi giòn, giọng bỡn cợt như thể không có việc gì.

 

Mật mía sánh đặc màu hổ phách rưới lên những miếng bánh dẻo dẻo, dinh dính, bao thành lớp áo ngoài trong suốt. Trả thìa về chỗ cũ, Tư Thành tặc lưỡi:

 

-Lúc trước khi trẫm hỏi tại sao ngươi thích bánh gio, ngươi đã trả lời: “Vì nó ngọt”.

 

Chầm chậm thưởng thức miếng bánh, hương vị trong miệng tăng thêm hấp dẫn vì nét mặt ngạc nhiên của người con gái đối diện. Tư Thành đã từng nghĩ Hải Triều không thật thích thứ gì cho đến khi thấy đôi mắt thờ ơ thường trực kia một ngày lại phảng phất chút lưu tâm khi nàng trông thấy đĩa bánh gio ngay giữa chốn cung vàng điện ngọc. Mày hơi nhíu xuống. Quả nhiên rất ngọt nhưng không phải thứ ngọt sắc đến khé cổ mà là cái ngọt khi tan hết để lại dư vị thanh thanh, dìu dịu thấm sâu vào cuống họng. Đặt cây quạt trúc xuống bàn, chàng trầm ngâm:

 

-Làm người thì phải có ý chí và nghị lực vì gánh thì nặng mà đường thì xa.

 

Dưới tay áo rộng, bàn tay trái siết lấy bàn tay phải. Nhìn sâu vào đôi mắt thăm thẳm của Hoàng đế, cuối cùng Hải Triều chịu thua trước mà phải cúi đầu. Khoảnh khắc ngắn ngủi ấy đủ rút cạn hơi tàn trong lá phổi. Đó là khen ngợi hay đang nhắc nhở… hay lại là một lẽ khuyên răn? Thứ nào cũng đều có một phần lý cả. Nhưng ngay lúc ấy, khi những suy đoán kia đột nhiên xẹp xuống, nàng chỉ nghĩ đó là một câu nói rất đơn thuần, không hề ẩn ý. Đôi quang gánh vô hình kẽo kẹt trên vai vẫn trĩu xuống bởi ngổn ngang những thứ đến bản thân mỗi người cũng khó nhìn hết. Đau đớn? Cũng có thể. Mệt mỏi? Cũng vài phần trong thói quen lặp đi lặp lại đến chai cứng, trơ lì. Nhưng một câu nói bâng quơ cũng thành làn gió mát thổi giữa trưa hè của đời người nồng hơi đất ngột ngạt.

 

-Đó là lời Khổng phu tử[16] dạy kẻ sĩ trong thiên hạ. – Khóe miệng kéo nhẹ sang bên như đang cười, nàng thong dong cất tiếng – Thần thiếp chỉ là nữ nhân…

 

-Có khác gì đâu! – Chàng nhếch môi, đan hai bàn tay lại.

 

Trân trân nhìn Hoàng đế, lời lẽ dồn cứng lại giữa họng. Hít vào một hơi để nuốt xuống những điều thoắt cái trở thành vô nghĩa, Hải Triều khom lưng, bẩm:

 

-Đến cuối cùng, mọi sự trên đời cũng chỉ là một giấc mộng hoàng lương[17]. Nhưng ơn nghĩa đã nhận thì nhất định phải báo đáp cho vẹn toàn dù rằng… quả thực thần thiếp chẳng có thứ gì đáng gọi là…

 

-Được rồi! – Tư Thành nhạt giọng cắt ngang, đăm đăm nhìn gương mặt hơi cúi của Hải Triều rồi mỉm cười chẳng hề châm biếm – Lúc trước, ngươi luôn nói trẫm muốn sao thì ngươi sẽ làm như vậy, không nửa chữ thắc mắc hay oán thán. Nhưng làm mà không để tâm thì chẳng có nghĩa lý gì. Huống hồ, ngươi còn là một kẻ không thích sống. Đã vậy thì thứ ngươi đưa cho trẫm liệu có đáng giá không?

 

Miệng nàng, máu nàng đột ngột thấm đẫm thứ gì đắng chát. Hải Triều thấy có chút nực cười khi nhận ra tiêu chuẩn của Hoàng đế cao đến vậy, không những phải khiến ngài hài lòng mà còn phải thực sự tận tâm tận lực, cống hiến hết cả thể xác lẫn tâm hồn. Cười người đấy nhưng đó cũng là tự châm biếm bản thân hèn hạ này. Không phải ném đá xuống mặt hồ tĩnh lặng, Tư Thành chỉ dùng chiếc thìa nhỏ khuấy đều bát nước trong tay, tạo thành xoáy nước sâu đến tận cùng. Hải Triều vẫn nghĩ, vẫn nhìn hẹp lắm, kể cả với con cái dứt ruột đẻ ra. Nàng biết thế nhưng chỉ đến lúc này mới thẳng thắn nhìn vào gương mà xem cho tỏ bằng một ánh mắt rụt rè, ngần ngại. Khinh bỉ nàng vì hai chữ “ả đào” nhưng khi móc ra được tâm can chẳng lấy gì làm tốt đẹp này thì người ấy lại không hề đả kích, châm chọc. Hoàng đế thật có thú vui hơn người.

 

Tận kỷ chi vị trung[18]. – Giọng nói đều đều kia lại tiếp – Đã hiểu thì nên làm theo cho khỏi uổng công đọc sách Thánh hiền.

 

Trăng hạ tuần dần khuyết. Ánh sáng đùng đục, mỏng manh giăng giăng. Từng khắc, từng khắc dải sáng ấy nhích dần về phía xa. Trên những lá sen tròn lấm tấm những giọt nước trong vắt như thời gian ngưng đọng.

 

-Ngươi có hài lòng không? – Tư Thành đột ngột hỏi, nhàn tản và chẳng mấy lưu tâm. Đôi mắt dìu dịu phản chiếu lại cảnh đêm, bao quát một vùng sáng tối nổi trôi mập mờ.

 

Hải Triều sững sờ, trân trân nhìn Hoàng đế rồi chậm chạp chau mày. Hài lòng? Hài lòng… vì chuyện gì mới được? Nỗi thắc mắc ấy được đáp lại bằng ý cười trong đôi đồng tử của Tư Thành. Nó ngầm bảo rằng: “Ngươi hiểu rõ cả mà!”. Tại sao lại là hiểu rõ? Sao nàng phải hiểu rõ? Những ngón tay co lại để đầu móng được giũa tròn mịn ấn mạnh vào lòng bàn tay. Có thứ gì căng lên nơi thái dương, chạy rần rần trong những đường mạch nơi cổ. Nàng nghĩ mình đang run khi hé miệng hớp lấy một ngụm không khí lành lạnh.

 

Tự coi bản thân như người lạ trên phố đã thành thói quen, vừa tránh né những thắc mắc trở đi trở lại vừa dỗ yên mình để rồi sống tiếp. Đến một ngày, những ý nghĩ ám thị, dối gạt lở xuống từng mảng, từng mảng cả cũ lẫn mới. Khi không thể ảo tưởng, cố chấp vì “người khác”, khi sợi dây neo đã tuột khỏi tay, con ngươi tự nhiên ngoái lại nhìn mình. Sẽ thật tệ hại nếu vào thời khắc ấy nhận ra bản thân suốt bao năm đuổi hình bắt bóng trong khi cúi xuống lại thấy trắng tay. Nữ nhân không nên tự vấn mình những điều to tát đại loại như: “tôi là ai?”, “tôi đeo đuổi những việc ấy để làm gì?”… Mấy câu hỏi ấy đủ kéo người ta sa xuống hố sâu không đáy, tuy không đau đớn như vết thương ứa máu trên xác thịt nhưng đem lại bế tắc và tuyệt vọng, vô nghĩa và rỗng không.

 

Sợi dây đơn độc trong lòng bật ra một tiếng trầm khàn. Bụi tung mình lãng đáng bay rồi đáp xuống trong thanh âm trầm lắng lay động đến chốn tận cùng sâu xa khiến người bủn rủn. Mắt nhắm lại, Hải Triều thì thầm rời rạc:

 

-Hôm nay… bát hương… trước mộ mẫu thân… đã hóa!

 

Việc nàng ấy đến chỗ Mai Loan hoàn toàn nằm trong dự liệu nhưng thông tin mới mẻ kia làm Tư Thành không ngăn nổi bản thân vô thức ngẩng lên. Có vài phần hiếu kì nhưng tất cả chúng đều sớm tan khi lông mày thoáng cau lại. Chàng nghe thấy mình hỏi:

 

-Hóa dương hay hóa âm[19]?

 

Ngẩng phắt lên như thể không tin điều tai nghe thấy, nàng run rẩy suy nghĩ rồi đáp:

 

-Là… hóa… dương!

 

Khi Ngọc Hồ hoảng hốt níu tay Hải Triều, lắp bắp bảo: “Tiểu… tiểu thư… người xem kìa!”, nàng chỉ dửng dưng ngoái nhìn lửa cháy men từ chân nhang tua tủa mỗi lúc một đượm rồi thành cả một bó đuốc lớn. Tàn hương cong lại, chân hương hóa tro trong ánh vàng cam rực rỡ. Thế mà khi tự mình thốt ra ba chữ ấy, tự mình tái hiện cảnh tượng ấy thật chậm, thật chậm trong đầu, Hải Triều lại không bình tĩnh nổi bởi có thứ gì đang hun nóng cổ họng, xộc vào mũi rồi hốc mắt nàng. Đó không phải thứ kí ức bên lề được vẽ lại bằng sự bàng quan, xa lánh. Đó là kí ức, là xúc cảm của thứ gì què quặt rớt lại, khuất lấp trong những mảnh gốm vỡ ngổn ngang, méo mó lấp đầy thân xác.

 

Mi mắt run run. Thứ chất lỏng trong suốt được ép ra từ hồn vía khô kiệt, dâng lên rồi ứa thành một dòng nước nhỏ lăn theo gò má đến cằm. Nó rơi xuống, để lại trên tà áo lụa một chấm sẫm màu. Cả thân người giật nhẹ một cái. Như vừa sực tỉnh, Hải Triều liền quay đầu. Hương quế dưới cánh mũi đậm hơn khi cánh tay nhanh như cắt vươn ra giữ chặt cổ tay nàng toan lau đi thứ người ta gọi là “nước mắt”. Hải Triều thấy mình nhìn lên đầy sửng sốt. Vật tròn tròn trong hốc mắt mở toang hoác, hé lộ những nứt gãy sâu hoắm, chằng chịt dọc ngang lâu nay vẫn ẩn mình sau lớp phấn son sực nức cùng nụ cười rạng rỡ phù hoa.

 

Mím môi lại, Tư Thành quét xuống ánh mắt nghiêm khắc, cứng rắn bao trọn lấy đôi tròng mắt trốn tránh, tan tác như cánh hoa rơi rụng. Dòng nước rỉ ra lưu lại một vệt mờ mờ trên nước da trắng. Chàng vừa mới nới lỏng, cánh tay Hải Triều lập tức buông thõng như con rối nước bị cắt dây. Thứ đồ bị vứt bỏ đáng thương. Nhắm mắt lại khi ý nghĩ ấy vụt qua, người thanh niên thở dài rồi đứng dậy, quay lưng về phía nàng.

 

Tà áo trước phơ phất, lúc lay mình lãng tử, khi rủ xuống mệt nhoài. Đầu lông mày chau lại gần khít mà bản thân Tư Thành cũng không hiểu hết lẽ tại sao. Cảm giác lạc lõng, đố kị, oan ức… khi phải đứng lặng trong tà dương nhìn theo những đứa trẻ khác về nhà đã lâu rồi Tư Thành không còn nhớ rõ nữa. Nó thực sự thế nào? Có vị cay đắng hay chua chát? Điều gì cũng có thể quen để rồi giương mắt đối diện như thể mưa nắng thường ngày. Thứ lưu dấu và tái diễn không phải là những cảm giác sống động mà là những vết tích không thể xóa mờ, là những suy nghĩ nảy sinh từ những xúc cảm ấy. Chỉ cần một chút gợi nhắc, một chút bóng dáng rơi rớt, những thứ ngỡ như đã nằm yên lại có thể ồ ạt lấp đầy đầu óc. Dưới gầm trời này, những đứa trẻ bị cha mẹ bỏ rơi không hiếm, những đứa phải chật vật mưu sinh rất nhiều. Thế gian rộng đến thế mà cũng hẹp đến thế, lắm khi người ta bắt gặp bóng hình quen thuộc, hơi méo mó một chút trong một tấm gương đồng.

 

“Thần thực sự không hiểu lắm. Người phụ nữ tên Mai Loan ấy tuy có vài điểm quái gở nhưng chẳng lẽ lại đến mức để con gái phải cầu xin một điều như… không yêu nó cũng được nhưng đừng bỏ nó lại một mình?” – Ngô Quân từng bẩm lại bằng vẻ ngờ vực như sợ người phụ nữ tên Đào nhớ không chính xác những chuyện trôi qua đã quá lâu.

 

Cúi xuống, Tư Thành nhận ra bàn tay mình đã nắm lại từ lúc nào.

 

Vạch sáng tối trên nền gỗ mờ nhạt dần rồi tan hòa vào nhau khi màu đen xung quanh chuyển mình thành màu lam ánh tím ảm đạm, u hoài. Vệt trăng mảnh tan vào nền trời. Đã trọn một đêm.

 

-Quan gia… muốn dùng trà không ạ?

 

Giọng nói thanh thanh, nhẹ hẫng vang lên ngay sau lưng nhưng lại từa hồ từ rất xa vẳng lại. Hương trầm trong lư đồng là là bay, hong khô sương đêm ẩm lạnh. Nhìn bộ đồ trà được xếp ngay ngắn trên chiếc bàn chân quỳ, lại nhìn lửa cháy trong hỏa lò rạo rực điểm một nét đỏ vào buổi tinh sương, Tư Thành đường hoàng ngồi xếp bằng trên chiếc chiếu đậu đối diện Hải Triều, phe phẩy cây quạt trúc:

 

-Hình như đây là lần đầu tiên? Thật vinh hạnh!

 

-Người làm thần thiếp tổn thọ mất! – Góc miệng cong lên làm cả gương mặt thanh tú, lãnh đạm phảng phất nét tươi mới, dịu ngọt như từ trước đến giờ.

 

-Tuấn Ngọc nói số người được Tiểu Kiều của giáo phường Khán Xuân đích thân hầu trà không kín được một bàn tay. Ngẫm ra chẳng phải trẫm nhận được vinh hạnh rất lớn sao?

 

-Đại nhân Tuấn Ngọc quá lời đấy thôi! – Nàng rót nước nóng tráng bộ ấm chén, hong cho khô rồi mở hũ trà sen tự tay ướp lấy – Tính tình thần thiếp không tốt nên quan viên không thích. Giờ quan gia ưu ái nên thần thiếp mới có diễm phúc được hầu trà người.

 

Than trong lò cháy đượm, thỉnh thoảng lại nổ giòn một tiếng. Qua làn hơi nóng, cảnh vật như được nhìn qua một lớp nước nổi sóng vân vân. Trông đĩa bánh gio vơi đi một chiếc, Tư Thành thuận miệng hỏi:

 

-Bánh ngọt chứ?

 

-Đương nhiên là rất ngọt! – Hải Triều đáp, không quên nhoẻn miệng cười.

 

Nước trong siêu đồng mới sủi lăm tăm đã được nhấc ra. Những búp trà khô theo dòng nước rót từ cao xuống xoay vòng trong chiếc ấm gốm không tráng men thuần sắc nâu đỏ. Nước rửa lá nhạt màu được chắt ra mang theo bụi hồng trần, người xưa gọi đấy là cao sơn trường thủy. Tiếp nước vào ấm trà giờ đã thanh sạch, nàng đậy nắp rồi dội nước tràn cả ra ngoài thành. Tấm lưng vươn thẳng trang nghiêm mà thong dong, chờ đợi đến khi trong đầu vang lên tiếng nhắc nhở khe khẽ của bản năng: “Đến lúc rồi!”.

 

-Chọn cách rót Quan Công tuần thành[20] sao?

 

Tư Thành cất tiếng hỏi khi cô gái nhón tay nhấc chiếc ấm nhỏ ra khỏi cái bát gốm miệng loe rộng. Hai đầu ngón tay ấn xuống giữ nắp, tay áo quệt thành những đường cong lên mặt bàn khi nàng xoay vòng rót liên tiếp vào những chiếc chén cao độ ba đốt ngón tay xếp san sát cạnh nhau. Hải Triều nhanh tay úp chén quân[21] lên trên, dồn nén hương thơm vào trong. Nhẹ nhàng lộn ngược cặp chén lại, dùng hai ngón tay nhấc chén thành cao lên, cột nước liền đổ xuống chén quân bên dưới. Giờ mới là lúc khói mỏng manh như tơ dệt thưa là là bay, đưa đẩy mùi sen ngan ngát trong nước trà nhuần thấm hương vị thơm tho.

 

-Quan gia, thần thiếp xin kính người!

 

Thanh âm trang trọng đậu trên nét môi không cười như một mùi hương. Nàng hơi cúi đầu, ánh mắt dừng lại trên ba ngón tay phơn phớt sắc hồng đỡ nhẹ lấy chén nước. Tư Thành hạ thấp đầu một chút để đáp lễ rồi đón lấy. Tay áo chàng đung đưa, lay động cả bức tranh phong cảnh yên tĩnh tràn ngập những tầng sắc trăng trắng, xanh xanh, tim tím chồng loang lên nhau.

 

-Kính! – Tư Thành đáp. Cánh tay thu về dứt khoát mà phóng khoáng, thanh tao. Cử chỉ đó khiến mấy sợi tóc của nàng nương gió thổi tới từ sau lưng mà quệt qua mu bàn tay Hoàng đế, vương vấn trên vải gấm trắng theo đà trượt xuống.

 

Sương sớm, khói trắng cùng hương trầm quấn quýt, len lỏi giữa đầm nước lá chen hoa vào khi mùa đã muộn. Sắc lam nhẹ nổi trên nền xám lúc trời rạng dần, nhuộm màu lên y phục trắng của những người trong đình. Thanh tân và nhàn nhã, ý nghĩ ấy khiến Đức Vượng vội cản tay hoạn quan định bước tới thưa bẩm việc chuẩn bị thượng triều.

 

-Cũng có vài phần thật lòng! – Chiếc chén vừa rời tay, Tư Thành liền đứng dậy.

 

Nhìn cây quạt xoay giữa những ngón tay chàng, Hải Triều ngước lên, cười mỉm:

 

-Tâm ý của thần thiếp với quan gia chỉ vừa bằng một chén trà cỏn con thôi sao?

 

-Ngươi đã khổ cực để vắt ra ngần ấy giọt chân tình, trẫm đương nhiên phải trân trọng!

 

Tiếng cười ý vị dần tan khi bước chân người mỗi lúc mỗi xa. Hải Triều không ngoái lại mà ngửa cổ nhìn bầu trời được tô hồng từ nơi có sợi chỉ rực lên chói mắt. Gương mặt trắng xám xoay nghiêng trong rạng đông mỹ lệ, từng khắc từng khắc được điểm trang bằng những sắc màu tươi mới dâng lên ở đằng Đông, phản chiếu lấp lánh trên nước men của những viên ngói ống hoa cúc san sát nơi mái lầu gác cung điện. Uyên ương xếp cánh. Linh thú giương cặp mắt trố lồi nghênh đón bình minh bằng vẻ an nhiên, dửng dưng muôn thuở. Đầu ngón tay lần tìm điều gì trên gò má mà chẳng thấy ngoại trừ nét cười bên đôi môi ửng đỏ.

 

 

 

***

 

 

 

-Mẹ… bế! Bế cơ!

 

Oánh Ngọc phụng phịu, giật giật gấu váy My Hoàn rồi ngước đôi mắt ngân ngấn nước lên. Trong cái đầu be bé ấy, ý nghĩ làm “chị” thật lớn lao nên cái gì con bé cũng có thể chia cho Minh Kính ngoại trừ mẹ mình. Giờ thấy My Hoàn nựng nịu một đứa nhóc khác, Oánh Ngọc không thể ngăn mình “ư… ư” bực dọc, nằng nặc đòi lại mẹ cho kì được.

 

-Vậy ta bế con nhé? – Châu Liêm cúi xuống, dang rộng vòng tay với nụ cười dịu dàng.

 

-Hông! – Oánh Ngọc phồng má, dụi đôi mắt ửng đỏ vào chân mẹ.

 

Lấy lại được My Hoàn nhưng công chúa nhỏ chẳng ngồi im được lâu. Lát sau, con bé đã tuột xuống đất, sán lại gần Minh Kính giữa một đống đồ chơi sặc sỡ. Đặt chén nước lên bàn, Sung viên họ Phùng nhìn nét mặt trìu mến của những tần thiếp khác mà không nén nổi một tiếng thở dài.

 

-Lệnh bà sao vậy? – Châu Liêm nghiêng người về phía ấy hỏi han.

 

-Ta…

 

Dù đã qua vài năm nhưng Thục Giang vẫn chưa thực quen với cái tên Diệm Quý được Hoàng đế ngự ban, càng không dám nhận tiếng gọi “lệnh bà” từ các nữ quan phẩm trật thấp hơn như Châu Liêm hay My Hoàn. Điều khiến nàng rụt rè chính là ý nghĩ bản thân thua kém những phi tần khác. Nàng không có gia thế hiển hách, khí chất xuất chúng như Nguyễn Sung nghi, chẳng được một phần thông minh, đoan trang quý phái như Tuyên vinh Ngọc Thiềm, lại không nhanh nhẹn, khôn ngoan như Phạm Uyển dung. So với cả Vũ Tài nhân, Thục Giang cũng tự thấy hổ thẹn bởi Vũ thị còn có Hoàng tử Thuyên làm chỗ dựa. Nhấc vội chén trà vừa đặt xuống lên, người con gái cười trừ:

 

-Không có gì. Chỉ là… ta thấy đố kị với Tuyên vinh và Uyển dung, ngày nào cũng có các công chúa quấn quýt ở bên.

 

Từ “đố kị” thốt ra nhẹ nhàng tự nhiên nhưng nhuốm chút buồn bã, thê lương của đàn bà nơi cung cấm. Vỗ nhẹ lên bàn tay Thục Giang, nàng trấn an bằng nụ cười chừng mực quen thuộc:

 

-Con cái do ông Trời ban, lo lắng đâu ích gì. Lệnh bà được quan gia sủng ái như vậy, sớm muộn cũng có tin vui thôi.

 

Cung thành hoa lệ biết mấy nhưng ái tình lại bạc, sầu thương, quạnh quẽ trùng trùng. Nhìn đi nhìn lại, nữ nhân muốn yên ổn đến già tất phải dựa vào con cái. Vậy nên chúc tụng những điều tốt lành cho kẻ chung chồng với mình nghe thì hay nhưng giả tạo phần nhiều chứ thật được bao nhiêu. Thế nhưng đôi mắt nhìn thẳng không chút láo liên, toan tính, nụ cười lịch sự một cách chân tình làm người ta dễ dàng đón nhận lời xã giao ấy, tự cảm thấy bên trong ẩn chứa ít nhiều thật lòng. Khoan thai rút tay về, Châu Liêm ngắm nhìn sắc hồng phớt qua gò má cô gái đối diện, khóe miệng nâng cao hơn chút nữa.

 

Cách hành xử của nàng không phải không có nguyên do. Là bởi Châu Liêm thích sự đơn thuần, chân thật của vị Sung viên họ Phùng. Diệm Quý chưa từng dựa vào việc theo quan gia từ khi người còn là thân vương để thị uy với những tần thiếp khác, bất kể địa vị họ cao hay thấp hơn nàng. Ngôi hậu chưa định, tam phi bỏ trống nên chỗ đứng của Phùng thị không phải tầm thường. Vậy mà nàng ấy luôn e dè trước sau, an phận thủ thường như người mới tiến cung, va chạm với ai cũng lấy dĩ hòa vi quý làm đầu. Kẻ không biết có thể cho đó là giả tạo nhưng Châu Liêm lại dám chắc cách sống ấy xuất phát từ nỗi sợ cùng sự khiêm nhường rất thật trong lòng.

 

Đâu ai bước vào hậu cung mà còn có thể giữ tâm thanh sạch. Có lẽ quan gia bao bọc người con gái ấy quá tốt để những nét thuần khiết nhất, trong sáng nhất không bị bụi son, bụi vàng nơi Cung thành làm mờ phai nước ngọc. Như bản thân Châu Liêm cũng đổi thay ít nhiều, đi một bước phải nghĩ mười bước tiếp sau. Tỉ như thiện cảm dành cho Diệm Quý cũng vậy, nàng cho đi để bảo đảm về sau, ít nhất sẽ có một người không làm hại đến mẹ con mình. Toan tính một cũng là toan tính, đâu phải thứ tình cảm thuần túy xuất phát từ tâm can.

 

-Vừa nãy thần thiếp thấy nội quan Đức Vượng đi truyền khẩu dụ của quan gia. – Vũ Tài nhân chẹp miệng làm bộ như ái ngại nhưng không giấu được hết sự đắc ý trong lời nói – Nghe đâu… Trịnh Lương nhân và Phan Nữ nhân lời qua tiếng lại, không giữ lễ tiết nên một người bị tước phẩm trật, một người bị phạt đóng cửa hối lỗi ba tháng.

 

Tuy lời còn chưa nói hết nhưng thấy những phi tần địa vị cao hơn tỏ ra không hứng thú với đôi ba chuyện ồn ào ấy nên Vũ Tài nhân đành im lặng, bỗng đâu tự thấy mình thành vô duyên. Ra hiệu cho Bạch Lan thu dọn đống đồ chơi Oánh Ngọc bầy bừa, My Hoàn khỏa lấp sự ngượng ngập bằng mấy lời nghe chừng vô thưởng vô phạt:

 

-Trịnh thị và Phan thị âu cũng là không biết thân phận, tự làm tự chịu thôi.

 

Họ Trịnh kia kể ra cũng có tài hát xướng hơn người nên mới được quan gia lưu tâm. Tiếc rằng mộng đẹp mới chớm đã sinh kiêu, nàng ta thấy Phùng Sung viên hiền lành liền tỏ ý khinh thường. Không hiếm kẻ từ chủ nhân đến tì nữ nghĩ người ở cung Tân Yên nhạt nhẽo vô vị, chẳng đáng để tranh giành. Quan gia lấy nghĩa mà đối đãi với Phùng Sung viên chẳng qua vì còn nhớ tới cảnh đồng cam cộng khổ khi xưa chứ nào có tình, loại quan hệ đó chẳng chóng thì chầy cũng phai nhạt. Khác chăng, đám ấy nghĩ trong bụng còn Trịnh thị thì bóng gió ra mồm.

 

Ông trời cũng khéo xếp đặt để niềm vui ngắn chẳng tày gang. Quan gia phong lưu hào hoa như thế, nhìn trúng ai không trúng lại nhắm vào cung nữ thân tín họ Phan của Trịnh thị. Chủ được phong Lương nhân trước, tớ được phong Nữ nhân sau. Tuy nữ nhân chỉ là chức nữ quan lục cấp, địa vị nhỉnh hơn cung tì một chút nhưng ai nhìn vào cũng thấy có ẩn tình, mỗi người luận mỗi phách. Nữ nhân họ Phan kia từ cung Vĩnh Ninh trở về mang theo nhiều đồ quý giá, tối đó lại được Hoàng đế triệu kiến thì trên dưới liền trở mặt. Nhẫn nhịn không làm cho rạn nứt được trám lành nên bao nhiêu lời lẽ không hay cứ thế tuôn ra. Người trong cung lúc đầu chưa biết nếp tẻ ra sao cuối cùng vỡ lẽ rằng hai kẻ đó chẳng bày mưu tính kế gì hết, chỉ là đàn bà kèn cựa lẫn nhau để rồi hỏng cả.

 

Toàn bộ sự việc là vậy. Đến giờ, có lẽ bản thân Trịnh thị vẫn cho rằng mình nuôi ong tay áo, kẻ thân tín sát sườn là loại ăn cây táo rào cây sung; còn Phan thị lại nghĩ mình đã trút bỏ được phận nô tì mà vẫn bị ức hiếp, vu oan giá họa. Trách người chẳng bằng trách mình, là hai ả đó sai trước nên mới dễ dàng thua vì một phép thử chẳng lấy gì làm lắt léo. Nguyễn Sung nghi vô tình hay hữu ý khi bày ra cuộc gặp gỡ kia? Nếu thật là hữu ý thì liệu có thuần túy bởi thói ghen tuông? Không ai dám chắc nên mấy chữ “tự làm tự chịu” của My Hoàn nghe có vẻ đúng nhưng lại khiến vài người tự nhiên ngọ nguậy trên ghế.

 

-Những chuyện không hay cứ để qua đi! – Liếc nhìn gương mặt của những người trong điện, Thục Giang ngập ngừng lên tiếng, lảng tránh sang việc khác vội vàng như sợ mếch lòng ai – Sắp tới là sinh thần của Hoàng thái hậu, người tỏ ý không muốn tổ chức xa hoa lãng phí, lễ vật cầu kì. Nguyễn Sung nghi nói nếu vậy thì chúng ta thử nghĩ xem nên làm gì cho vừa hợp lễ vừa tỏ được lòng hiếu thuận. Không biết ý các chị em thế nào?

 

Xét địa vị ở hậu cung, sau Nguyễn Sung nghi thì người nên nêu chủ ý là vị chủ nhân của cung Tân Yên. Thế nhưng Sung viên họ Phùng chỉ nói vậy rồi im lặng, rửa tai lắng nghe đề xuất của người khác nên chẳng tần thiếp nào dám tiếp lời. Có thể đám đàn bà con gái muốn giữ riêng ý tưởng của mình, sợ có kẻ chọc gậy bánh xe, hay cũng có khi họ ngại mang tiếng lộng ngôn vượt quá phẩm cấp. Suy tư nối tiếp nhau như mũi kim thêu đâm lên đâm xuống trên nền vải trắng. Vô tình, Phạm Uyển dung nhìn về phía Nguyễn Tuyên vinh. Tay áo buông rủ của nàng ấy chỉ thoáng nhăn nhưng My Hoàn đoán bàn tay ẩn bên dưới chắc vừa nắm lại. Vờ như không hay, nàng cười cười:

 

-Tuyên vinh nghĩ thế nào? Người biết nhiều chữ nghĩa nên chắc sẽ có ý tưởng hay.

 

Đôi mắt ngước lên không hề bối rối. Sự bình tĩnh đoan trang ấy trong một chốc còn khiến My Hoàn tưởng mình phán đoán nhầm. Bởi che giấu quá tài nên chẳng ai nhận ra trong lòng Châu Liêm không hề thoải mái khi nghe đến ba chữ “Nguyễn Sung nghi”. Việc ấy hết sức tự nhiên vì chưa kể đến những khuất lấp phía sau mà chỉ có hai nữ nhân ấy thấu thì tỏ thì bề ngoài, dù muốn dù không Tuyên vinh Nguyễn thị cũng mang ơn nữ nhân kia hai lần. Nhận ưu ái của người có lòng dạ khó lường như Nguyễn Thị Ngọc Huyên đâu khác mấy việc nằm trên một lưỡi dao bén.

 

Hơi cúi đầu tỏ ý mình không dám nhận lời khen, Châu Liêm rành mạch đáp:

 

-Mỗi người một ý bổ khuyết cho nhau mới thật là hay. Hoàng thái hậu quen sống thanh cao đạm bạc, đối xử với người dưới hết mực ân cần, lại cần kiệm làm gương cho chúng phi tần. Vậy nên thần thiếp nghĩ yến tiệc linh đình liệu có thể đổi thành bữa cơm thân mật của người trong nhà? Các chị em ai có tài nghệ gì thì dâng lên thứ đó làm lễ vật chúc thọ, lấy tấm lòng làm trọng. Không biết như vậy liệu có được hay không?

 

Những cô gái nhìn nhau. Ai cũng cho chủ kiến ấy có lý còn Nguyễn Tuyên vinh lại rộng rãi, không tính toán chi li với các tần thiếp khác. Quà tặng có thể không quý ở giá trị bởi ngọc ngà châu báu, của ngon vật lạ ở Cung thành vốn chẳng thiếu gì, làm không khéo lại thành khoe khoang, hợm hĩnh. Chỉ có tấm lòng chân thật mới có thể cảm động trời xanh, cảm động cả… Thiên tử. Ánh nhìn thoang thoáng qua đuôi mắt đủ để thấy những gò má ửng hồng, những cặp mắt đen lung linh khi tưởng tượng ra những điều tốt đẹp. Nhấp môi vào chén trà, My Hoàn kín đáo hướng về phía Châu Liêm, ngẫm nghĩ xem đằng sau vẻ ung dung, bình thản ấy là gì. Khó tránh khỏi mong muốn lấy lòng quan gia nhưng về đại thể, xem chừng nàng ấy thành thực muốn Thái hậu được vui, không phải nặng lòng vì những món đồ quý giá, lễ nghi rườm rà. Của biếu là của lo, của cho là của nợ, đâu mà chẳng vậy.

 

-Tuyên vinh nói thế chắc đã chuẩn bị quà mừng sinh thần Hoàng thái hậu rồi. Không biết có thể cho chị em đây được mở mang tầm mắt hay không? – My Hoàn nghiêng đầu, hướng đôi mắt mở lớn chính trực về phía người đối diện.

 

Dứt khỏi câu chuyện quanh mấy món ăn với Phùng Sung viên, Châu Liêm đánh giá nhanh thái độ của Phạm Uyển dung trong một cái đưa mắt. Sự hiếu kì trong lời đề nghị tựa hồ vuột ra khỏi miệng ấy bảo thật cũng được mà không thật cũng được. Những tần thiếp khác dừng cả những bàn tán riêng tư, đồng loạt nhìn về phía nàng chờ đợi. Chuyển nét miệng đương mím thành nụ cười khiêm nhường, Châu Liêm lấy làm thẹn khi hơi cúi đầu xuống, đáp:

 

-Thần thiếp… chỉ viết một chữ “thọ” để dâng mừng Hoàng thái hậu.

 

-Tài nghệ thư pháp của phu nhân được quan gia ngợi khen, đâu thể nói là “chỉ viết một chữ” – Vũ Tài nhân che miệng cười – Chẳng như chúng thần thiếp đây ít đọc ít biết.

 

-Ấy, Tài nhân đừng nói vậy! – Nàng vội xua tay – Tay chân ta vụng về, may biết ít chữ nghĩa nên mới chọn món quà ấy. Giả như ta có tài thêu thùa như em thì ắt đã chuẩn bị một bức tranh thêu thật tinh xảo rồi.

 

-Phải đấy, phải đấy. Tài thêu thùa may vá của Vũ Tài nhân đến nghệ nhân ở cục Bách tác cũng phải thẹn không bằng. Thần thiếp từng được nhìn họa tiết trên áo của Hoàng tử Thuyên, thấy thêu hoa như hoa đương nở, thêu chim như chim tung cánh, sinh động muôn phần! – Mấy tần thiếp khác nghe Châu Liêm nói vậy cũng tán đồng theo, chẳng mấy đã làm Vũ thị đỏ bừng mặt.

 

-Không biết Tuyên vinh có ý gì hay không? – Nàng ta ngập ngừng lên tiếng, giọng điệu thực sự cầu thị – Thần thiếp đã nghĩ rồi nhưng tự thấy ý tưởng của mình không có được sự phong nhã, tinh tế như của phu nhân. Kính xin phu nhân chỉ bảo.

 

Hơi nhổm người lên khỏi sập gỗ sơn son, Châu Liêm cười cười ái ngại:

 

-Ta không dám nhận từ “chỉ bảo” này đâu. Kỹ thuật và tâm ý Tài nhân đều có đủ, giờ chỉ cần chọn nội dung phù hợp để phô diễn tài nghệ nữa thôi. Ta từng thấy phu nhân thêu hươu và hạc rồi, thực sự rất xuất thần… Hay là em chuẩn bị một bức Hạc lộc đồng xuân? Người xưa mong mỏi gặp được hạc tiên, hươu thọ, nay thêu hai con vật ấy dưới cây ngô đồng, mượn âm “đồng” giống trong “đồng nhất” để chỉ điềm lành trường thọ.

 

Lời vàng ý ngọc tuôn ra trơn tru, diễn giải kĩ càng làm món đồ tưởng như thuần túy được tạo nên bởi sự kiên nhẫn, tỉ mỉ mang một vẻ sang trọng trí tuệ. Chiều Xuân đứng hầu bên cạnh Châu Liêm cũng thấy vẻ vang lây khi những tần thiếp khác nhìn chủ nhân của nàng bằng ánh mắt nể trọng. Hạc lộc đồng xuân ư? Đó chẳng phải là món lễ vật ban đầu Nguyễn Tuyên vinh định dâng lên Hoàng thái hậu sao? Chiều Xuân đã thắc mắc mãi khi đang thêu giữa chừng thì Tuyên vinh dỡ vải khỏi khung, sai nàng cất đi. Tiếc nuối lật qua lật lại bức tranh dang dở chẳng đi sai dù chỉ một đường kim mũi chỉ, nàng cung nữ luôn miệng nói:

 

“Tài nghệ của phu nhân hơn hẳn Tài nhân họ Vũ. Kỹ thuật chuẩn xác, màu sắc hài hòa, hình vẽ lại có thần thái. Thêm mấy câu thơ chúc thọ nữa thì ai có thể bằng? Nô tì thực sự không hiểu sao người lại bỏ dở!”

 

Châu Liêm nghe xong, chỉ cười bảo:

 

“Trong cung, khi chưa có được địa vị chắc chắn thì không nên phô diễn quá nhiều, dễ khiến người ta đố kị. Hơn nữa, điều đáng thẹn nhất là khi thứ bản thân tự coi là sở trường, dồn vào đó bao nhiêu tâm sức bị đem so sánh với kẻ khác. Ta không chủ tâm nhưng kẻ khác đâu bỏ lỡ những cơ hội như vậy để hạ bệ nhau rồi khiến người người găm hận. Đã vậy chi bằng ta tránh lối ấy mà lựa đường khác có phải hơn không?”

 

“Nhưng một bức tranh chữ… liệu có quá đơn điệu? Nô tì nghĩ lần này, các chủ nhân khác sẽ dốc hết sức mình đặng lấy lòng Thái hậu! Khi ấy giữa bao nhiêu món đồ quý giá, chẳng phải người sẽ mất mặt sao?”

 

“Lễ vật quý ở tấm lòng” – Thanh mài mực xoay tròn đều đặn khi Châu Liêm ôn tồn nói – “Huống hồ, tranh chữ là để dành cho người biết chơi!”

 

“Người biết chơi” trong lời của chủ nhân là ai Chiều Xuân đã đoán được vài phần qua nụ cười đằm thắm hôm ấy. Khóe miệng nàng cung nữ hơi đẩy lên khi thấy Vũ Tài nhân gật đầu tỏ ý tạ ơn rồi hết người này đến người khác mượn cớ dò hỏi Nguyễn Tuyên vinh, xin nàng chỉ dạy. Nói một hồi khô cả nước bọt nhưng Châu Liêm vẫn rất nhiệt tình, từ đầu đến cuối giữ nguyên vẻ bình tĩnh, đĩnh đạc trước những lời ngợi khen, nịnh hót.

 

Hậu cung cũng như một chiếu chèo lớn mà ai cũng muốn đóng làm đào thương chiếm trọn ánh sáng, ân sủng. Lánh đục về trong, biết lùi một bước nhường đường cho kẻ khác, họ sẽ tự thấy bản thân không thua kém ai nên sẽ không vì tranh giành rồi để mình vào tầm ngắm. Ở đời, không ai muốn chịu thiệt nhưng cha từng dạy Châu Liêm rằng, nếu cái thiệt đó chưa phải quá mức thì cứ nhẫn nhịn, cứ nhận cả về mình. Đó mới là kế sách dài lâu. Nay nàng bỏ chút sức lực để có đồng minh ắt phải hơn việc phô trương thanh thế cho người người ghét bỏ. Không cần làm một đóa mẫu đơn khiến trăm hoa tủi hổ, làm một cây trúc xanh vươn thẳng là được rồi. Câu này của Hoàng đế làm nàng thực sự rất thích.

 

-Không biết Nguyễn Sung nghi sẽ dâng lễ vật gì lên nhỉ? Các chị có đoán được không? – Mai Tài nhân ít tuổi nhất vừa ăn bánh vừa trò chuyện vui vẻ, chẳng màng việc câu hỏi của mình làm những người còn lại nhìn nhau, không biết đáp thế nào mới đúng.

 

Quả tình ngoài gia thế cũng tạm liệt vào hàng hiển hách cùng nhan sắc được xưng tụng tựa Ngọc nữ tiên cung râm ran khắp chốn Cung thành, chưa ai từng nghe nói Sung nghi Nguyễn thị tài cao học rộng, hay giỏi làm thơ vẽ tranh, đàn ca sáo nhị… bao giờ. Thậm chí đến cả việc nàng ấy thích gì, quan tâm đến thứ hình như cũng chẳng người nào dám quả quyết. Ậm ừ thêm dăm ba câu, cuối cùng các tần thiếp đều xin lui cả.

 

Khơi tim đèn lên cho lửa cháy sáng tỏ, Châu Liêm thoải mái nửa nằm nửa ngồi, một tay tựa lên chồng gối xếp bọc gấm màu huyết dụ giản dị còn tay kia an nhàn lật sách. Minh Kính hết tháo ra lại tết vào mái tóc nàng chán chê cuối cùng cũng lăn ra ngủ, rúc mỗi lúc một sâu vào người nàng. Vừa vỗ về con, Châu Liêm tiện tay xoay xoay chiếc vòng tết bằng chỉ ngũ sắc hồi chiều Oánh Ngọc cho con gái mình. Nhìn màu sắc tươi sáng nổi bật trên nước da trắng trẻo hồng hào, nàng chợt nghĩ đến Phạm Uyển dung.

 

Phạm My Hoàn của cung Chiêu An bề ngoài thường nói những điều vô hại, chừng mực, rõ ràng nhưng luôn chứa ẩn tình. Không phải giấu dao sau nụ cười, rắp tâm đẩy người khác vào nơi tai họa nhưng qua cuộc chuyện trò hôm nay và cả những điều từng xảy ra trước đó, Châu Liêm không thể không cảm thấy đôi lúc My Hoàn đẩy người khác vào thế tiến thoái lưỡng nan. Có kẻ lấy đó làm vui nhưng người con gái ấy lại dùng ngôn từ một cách nghiêm túc, chuẩn xác, bề ngoài làm như vô tình nhưng bề sâu lại muốn thăm dò, đoán định. Không phải để mưu lợi, cũng không phải để bày trò, ít nhất đến thời khắc này là vậy, nhưng về sau…

 

Cánh cửa vừa kèn kẹt mở ra bằng lực từ bên ngoài, Minh Kinh đã bật dậy. Châu Liêm chưa kịp định hình thì con bé đã reo lên rồi tụt xuống giường. Ôm chầm lấy chân người mới xuất hiện, đôi mắt lay láy tròn xoe ngước lên lấp lánh như bảo thạch:

 

-Cha!

 

-Thần thiếp bái kiến quan gia! – Nàng hành lễ nhưng lén nhìn con gái một cái rồi cụp mắt xuống. Hương quế trên người chàng đã nhạt, nhường chỗ cho mùi ẩm lạnh của mưa. Khoát tay ra hiệu cho Chiều Xuân chuẩn bị nước nóng, Châu Liêm đến bên bàn tròn kê chính giữa phòng pha trà.

 

Ấn Tư Thành ngồi xuống cái sập gỗ đã trải một lớp đệm gấm mỏng, Minh Kính nhìn trước ngó sau rồi len lén lôi ra một bọc giấy từ trong ngăn tủ. Cẩn thận, nhẹ nhàng mở từng lớp giấy, mắt con bé sáng lên khi thấy những miếng mứt quả đủ màu bọc trong đường trắng nằm bên trong.

 

-Thế này là sao? – Chàng mấp máy không thành tiếng vì biết Châu Liêm không bao giờ cho trẻ con ăn đồ ngọt vào lúc đêm hôm.

 

-Con giấu đi đấy! Mẹ không biết đâu! – Minh Kinh cười tít mắt, ép ngón trỏ lên môi ra hiệu đấy là bí mật. Đoạn, con bé nhét miếng mứt vào miệng chàng – Ngon không cha?

 

Chậm rãi nhai thứ quả khô ngọt lịm, Tư Thành gật đầu rồi đút một miếng mứt vào miệng con gái, không quên véo yêu cái mũi xinh xinh của con bé ửng hồng. Xoa xoa lòng bàn tay lên trán chàng, con bé ngả đầu vào bờ vai rộng, thì thầm hát một khúc dân ca.

 

-Cha mệt rồi. Con ru cha ngủ nhé!

 

Cái miệng ngọt hơn mật ấy khiến Tư Thành bật cười, thấy từng đường nét trên gương mặt mình dần dãn ra thoải mái. Nhưng bài hát chưa hết, Minh Kính đã ngủ khì trên ngực người thanh niên từ lúc nào.

 

-Quan gia lại chiều chuộng con bé rồi! – Liếc nhìn tờ giấy rỗng không trên sập, Châu Liêm phật ý nói một câu nhưng khóe miệng lại vương vấn một nụ cười mờ ảo. – Thân là công chúa, từ việc nhỏ nhặt cũng phải có quy củ, nề nếp. Hôm nay, công chúa xưng hô không đúng, thần thiếp xin quan gia thứ tội.

 

-Được rồi! – Chàng thấp giọng khi đặt con gái xuống giường rồi quay nhìn người đang khom mình tạ lỗi – Khanh là mẫu thân của công chúa, học hành cũng không ít, về sau chớ để việc không có tôn ti này lặp lại.

 

Sững người nghe những lời lẽ nghiêm khắc, lạnh lùng trái ngược hoàn toàn với sự vui vẻ nàng thoáng trông thấy, Châu Liêm cúi đầu, hít vào một hơi rồi thưa:

 

-Minh Kính tuổi còn nhỏ, hiểu biết về cung đình chưa nhiều nên không tránh được sai phạm. Thần thiếp là mẫu thân, đương nhiên có lỗi lớn nhất. Nhưng… với con bé, quan gia chỉ là phụ thân cho nên… mới gọi như vậy.

 

-Khanh đang bao biện? – Đặt chén nước xuống bàn, Tư Thành trầm giọng nói.

 

-Thần thiếp không dám!

 

Liếc nhìn người con gái cúi thấp đầu hơn nữa, chàng hờ hững tiếp lời:

 

-Vậy mà trẫm lại thấy Nguyễn Tuyên vinh dám đấy. Minh Kính coi trẫm là cha, không phải là Hoàng đế. Còn nàng coi trẫm là gì?

 

Ánh mắt xoáy sâu lấp lóa những nét hóm hỉnh làm Châu Liêm bối rối. Siết chặt bàn tay để ngăn mình thất thố, nàng đáp nửa ngập ngừng, nửa bình tĩnh như thể không biết những điều mình sắp nói ra có khiến bản thân hứng chịu cơn thịnh nộ của Hoàng đế hay không:

 

-Quan gia là Thiên tử tôn quý… và cũng là… phu quân của thần thiếp.

 

-Phu quân? – Nhẩn nha lặp lại từng chữ, nụ cười hài lòng lướt qua rất nhanh rồi tắt khi chàng chìa tay có ý đỡ người con gái đứng dậy – Đứng lên đi! Trẻ con không biết không có lỗi, từ từ dạy là được. Lời của khanh thực sự làm khó trẫm rồi. Thân là vua một nước nhưng làm chồng, làm cha cho trọn nghĩa của chữ này sợ không dễ đâu!

 

Những ngón tay ấm áp mạnh mẽ khép lại làm Châu Liêm hơi run. Nhìn nhanh long nhan trước mặt, nàng thận trọng nói:

 

-Thần thiếp thực sự mong Minh Kính có thể trưởng thành một cách bình thường, có cha có mẹ, tránh xa tranh đoạt, thị phi lọc lừa… Nhưng đây là Cung thành, trẻ con tôn quý thật nhưng sợ không bằng được những đứa trẻ ở ngoài dân gian.

 

-Không thử sao dám chắc? – Chàng cười, chầm chậm bao trọn bàn tay thon của nàng trong hai tay mình.

 

Trong khắp thiên hạ, có biết bao nhiêu kẻ ham muốn những thứ trong tay Hoàng đế: ngai vàng tôn quý, vạn dặm giang sơn, tiền tài châu báu và cả những mỹ nhân nghiêng nước nghiêng thành. Nhưng ở nơi tột cùng vinh quang ấy cũng chứa tột cùng cô độc, một gia đình nho nhỏ, đơn thuần là giấc mơ quá đỗi xa vời. Có thể không phải mọi Hoàng đế đều mang tâm tư ấy nhưng người ở trong cung Ngọc Thiềm lúc này thì chắc chắn có. Quan gia cũng thật tham lam, ý nghĩ ấy làm Châu Liêm lén cười tủm tỉm, người vừa không từ bỏ sơn hà mỹ lệ vừa mong đợi một mái nhà bình dị, ấm nồng. Trái tim đế vương vốn rất khó lường mà nay lại cầu những điều như vậy liệu có trớ trêu lắm không? Nhưng nếu Hoàng đế không ý thức được sâu sắc về sự cô đơn và vứt bỏ thì có lẽ người đã khác rồi.

 

Đùi nàng trĩu xuống khi Tư Thành trở mình, trằn trọc mãi. Ngước nhìn lên bằng cặp mắt thoáng lộ vẻ mỏi mệt, chàng nói khẽ:

 

-Mỏi chân rồi sao?

 

Nàng lắc đầu, chăm chú nhìn xuống mà không nói thêm dù chỉ một chữ. Từ lúc chàng đặt chân vào chính điện cung Ngọc Thiềm, Châu Liêm đã lờ mờ đoán Hoàng đế có ưu tư khi không thấy người cười nói như mọi ngày. Tò mò thật nhưng sự lưu tâm ấy chưa đủ thôi thúc nàng cất tiếng hỏi han. Vẫn là nên đợi, đợi Tư Thành tự mở lời thì hơn.

 

-Hôm nay trên triều, trẫm đã hạ chiếu bỏ lệ ban quốc tính – Chàng nhắm mắt lại, thủng thẳng cất tiếng – Vậy nên anh em họ gần của khanh sẽ phải cải về họ cũ. Địa vị trong hậu cung vì thế chắc sẽ bị ảnh hưởng ít nhiều.

 

Bàn tay mềm mại xoa bóp trên đầu chàng vẫn đều đều như lúc trước. Hơi thở nhè nhẹ không hề rối loạn. Giản Cung hầu Lê Hiêu là ông ngoại của Nguyễn Châu Liêm, nhờ công phò tá Thái Tổ lên ngôi nên được hưởng đặc ân ban quốc tính, nhận lòng yêu quý khác thường từ Thiên tử. Về sau dù không làm quan trong triều nữa, con cháu ruột thịt vẫn được truyền nối họ ấy lâu dài. Người ngoài vì thế có thể biết đấy là những danh gia vọng tộc, còn hậu phi dựa vào nhà ngoại như vậy nên mới có địa vị cao thấp khác nhau.

 

-Thần thiếp tuy gọi Giản cung hầu bằng “ông” nhưng nói cho cùng vẫn là nữ nhân ngoại tộc. Việc chính sự thần thiếp không hiểu nên xin vâng theo quan gia, trong lòng không hề cảm thấy thiệt thòi.

 

In trong đáy mắt Tư Thành là dung mạo đoan chính thản nhiên, bàng quan đứng ngoài vinh hoa phú quý. Chàng cười nhẹ, nắm chặt lấy tay Châu Liêm.

 

Sau khi Cao hoàng bình định giang sơn, việc chỉnh đốn triều đình khó dựa vào thân thích vì anh em thì ít mà con cái còn nhỏ. Vậy nên võ tướng có công từ ở Lam Sơn được ban quốc tính, chia nhau nắm binh mã, họ hàng liên kết chặt chẽ để giữ yên bờ cõi mới thu về. Hoàng tộc họ Lê không theo lệ tiền triều[22] cắt đất phong tước cho tất cả người trong họ, ai muốn được bổ nhiệm, thăng quan đều phải tiến công lập nghiệp. Mới đây Lệ Đức hầu trấn thủ Lạng Sơn, ở vào nơi trời thì cao mà Hoàng đế thì xa để nuôi lòng khác, vậy nên việc phân phong là không thể, phân phong là chia rẽ, nhất là với những kẻ mang huyết thống đế vương nhưng không biết an phận. Nghĩ đi nghĩ lại, bởi thế mà Tư Thành nhất quyết để Cung vương phải chịu thiệt thòi.

 

Lại nói đến công thần được ban quốc tính, cậy mình có công mà lắm kẻ không coi Thiên tử ra gì. Cha ông đã chẳng vào đâu thì khó lòng đời sau biết trên biết dưới. Nay chỉ có công thần hưởng đặc ân mới được giữ họ vua, con cháu vẫn theo họ cũ cốt tránh việc dây mơ rễ má, ỷ thế làm càn. Lê Niệm và Đinh Liệt có phần lo lắng, sợ chiếu chỉ này ban xuống sẽ làm tình cảm quân – thần rạn nứt bởi lắm người mất đi chút lợi lộc. Nhưng chẳng ai dám can gián vì ý chàng đã quyết, đây lại là việc sớm muộn cũng phải làm để củng cố vương quyền.

 

Day day nhịp nhàng vào từng điểm nhất định trên đầu Tư Thành, Châu Liêm thong thả cất lời:

 

-Được mang họ vua là vinh hạnh tột cùng, ân ban rất trọng. Nhưng làm người không thể quên gốc gác, làm mất cả họ cũ của tổ tiên, đi ngược lại chữ hiếu, lý này của quan gia thực sự khiến trăm quan cùng chúng thần thiếp tâm phục khẩu phục.

 

-Đúng là có học có hơn! – Chàng khép mắt lại, chầm chậm lên tiếng. – Hôm nay… trẫm đã đến phủ Hữu tướng quốc.

 

Trái tim trong lồng ngực Châu Liêm giật nảy khi từng chữ ấy vang dội vào. Cuối cùng Tư Thành đã nói ra rồi. Giữa hai đầu lông mày thoáng hiện nếp nhăn, nàng cắn nhẹ môi dưới, ướm lời:

 

-Sức khỏe của Hữu tướng quốc đã khá hơn chưa ạ?

 

-Tóc bạc da mồi, như đèn trước gió. – Lời lẽ nặng nề thốt ra – Ai có thể tránh được tuổi già, tránh được sinh, lão, bệnh, tử?

 

Vuốt nhẹ bờ vai người gối đầu trên đùi mình, dưới bàn tay nàng những hàng cơ căng cứng dần dần thả lỏng.

 

-Được quan gia đích thân thăm hỏi, nhận hoàng ân như vậy, Hữu tướng quốc phúc lớn mệnh lớn sẽ sớm khỏe lại thôi. Ai cũng có lúc phải già đi nhưng quan gia thì không nên nói vậy. Người là Thiên tử vạn tuế vạn vạn tuế kia mà.

 

-Hóa ra khanh cũng biết nói ngọt!

 

Nét cười gượng thoảng qua như niềm vui ngắn ngủi. Chàng nằm xuống gối, gác tay lên trán lặng im. Hai bên miệng hơi trĩu xuống khi Châu Liêm đăm đăm nhìn Hoàng đế chìm sâu vào giấc ngủ. Cảm giác cồn cào vô cớ dậy lên làm đôi mày liễu hơi cau lại. Cảm giác mất mát khôn nguôi thấm vào lòng làm nàng bất giác thở dài. Cô độc thật, thứ cô độc sánh đặc như mực lắng trong nghiên.

———————————————————————

[1] Tồn Am Bùi Huy Ích, nhóm Lê Quý Đôn trích dịch và chú thích, Hoàng Việt thi văn tuyển, NXB Văn Hóa, Hà Nội, 1958. Theo sách này, câu thơ thứ 4 có mấy chữ “độc phụ thư” tức là “đọc sách của cha” nhưng bản Ức Trai thi văn tập lại chép “độc cựu thư” nghĩa là “đọc sách cũ”. Ở đây sửa một chữ theo Ức Trai thi văn tập để phù hợp với diễn biến truyện. Dịch nghĩa (có chỉnh lý để phù hợp với phần phiên âm):

Ở trên đời khi giấc mộng hoàng lương đã tỉnh rồi

Mới biết muôn việc đều là không cả

Cho nên nay chỉ muốn trú ở trong núi

Làm nhà ở bên hoa, đọc những sách cũ

[2] Isis ghi chép theo lời của cụ ngoại.

[3] Đào liễu: tên một khúc chèo cổ. “Liễu” ở đây không phải là tên riêng mà để chỉ một cô gái trẻ. Nhạc sĩ Quốc Trung trong album world music có tên Đường xa vạn dặm đã dịch “Đào liễu” thành “The young lady” là vì lẽ này [isis chú].

[4] Sự kiện năm Thiệu Bình thứ 4 [1437], dưới thời Lê Thái Tông. Toàn thư chép vào tháng 5 năm đó, Vua theo lời bàn [của hoạn quan Lương] Đăng, yết Thái miêu bãi trò hát chèo, không tấu nhạc dâm nữa! [dâm nhạc đối lập với nhã nhạc; dâm nhạc chỉ các làn điệu dân gian]. Đây là một trong những biểu hiện đầu tiên cho việc phân hóa văn hóa dân gian và văn hóa cung đình trong lịch sử Việt Nam. Có người cho rằng Lê Thánh Tông là người khởi xướng việc ức chế văn hóa dân gian trong khi thực ra chủ trương này đã manh nha từ trước, Lê Thánh Tông chỉ là người tiếp nối mà thôi.

[5] Khúc Đào liễu dựa trên nguyên văn mấy câu thơ lục bát trên, còn lời bài chèo dài hơn khá nhiều với những đoạn lặp lại, nhấn nhá. [isis chú]

[6] “Xuân bất tái lai” nghĩa là mùa xuân (cũng là tuổi trẻ của người con gái) đã qua rồi thì không trở lại. Điệu chèo Đào liễu là một điệu chèo trữ tình, lời ca chứ đựng sự tiếc nuối của người con trai khi thấy cô gái còn son, xinh đẹp nhưng mãi chưa chịu lấy chồng, hoài phí tuổi xuân xanh.

[7] Lê Thánh Tông, Cái quạt. Trong đó: “thác” nghĩa là phó thác, “yên chi” là son phấn, “đàn” là bàn (trong bàn luận) [chú theo thivien.net].

[8] Giấy sắc: giấy dùng ghi lời ban tặng, phong thưởng… của nhà vua.

[9] Theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn và đối chiếu thêm với Hoàng Việt thi văn tuyển của Tồn Am Bùi Huy Ích.

[10] Phỏng theo bài chế phong tước cho Tế Văn hầu Lê Trãi (tức Nguyễn Trãi vì ông được ban quốc tính – họ “Lê” của nhà vua) trong Hoàng Việt thi văn tuyển của Tồn Am Bùi Huy Ích. Trong Hoàng Việt thi văn tuyển, bài chế được cho là viết vào năm Quang Thuận thứ 5 nhưng xem nội dung, đối chiếu với Toàn thư, Khâm địnhKiến văn tiểu lục thì xác định bài chế đó thực chất được viết vào thời Lê Tương Dực, năm Hồng Thuận thứ 4 (1512). Bùi Huy Ích đã nhầm lẫn khi sưu tầm, chú thích [isis chú].

[11] Chiêu tuyết (từ cổ) nghĩa là tẩy (rửa) oan.

[12] Lời phê trong Toàn thư về vụ án Lệ Chi Viên.

[13] Giờ Thân: từ 15h – 17h chiều

[14] Thành ngữ chó chui gầm trạn chỉ cảnh đi ở rể, cảnh con rể ăn nhờ ở đậu nhà vợ. Người như vậy thì không có uy quyền, địa vị của bậc trượng phu, của trụ cột gia đình [isis chú].

[15] Chú theo thivien.net

[16] Khổng phu tử: ông thầy họ Khổng, tức Khổng Tử.

[17] Hoàng lương nghĩa là kê vàng. Có tích như thế này: Lô Sinh đời Đường trú ở Hàm Đan (Trung Quốc) gặp được đạo sĩ Lã Ông. Sinh phàn nàn nghèo khổ. Lão Ông bèn lấy chiếc gối trong túi trao cho nói rằng: “Gối cái này sẽ được như ý”. Khi ấy, chủ quán đang nấu nồi kê vàng tức “hoàng lương”. Sinh kê gối ngủ, mơ thấy đỗ tiến sĩ, làm quan to, giàu sang lắm, con cháu rất đông, thọ được hơn 80 tuổi. Đến khi tỉnh giấc, thấy nồi kê chưa chín, lấy làm lạ hỏi rằng: “Giấc mộng sao?”. Lã Ông cười mà nói rằng: “Việc trên đời này cũng giống thế thôi”. [Chú theo Hoàng Việt thi văn tuyển, Tồn Am Bùi Huy Ích]

[18] Tận kỷ chi vị trung (đây là một quan điểm của Nho gia khi luận về chữ “nhân”) nghĩa là trung thực với bản thân mình, hiểu đến đâu làm đến đấy, làm hết mức bản thân có thể, chưa bàn đến hiệu quả nhiều – ít, đúng – sai. [isis ghi chép]

[19] Hóa âm là chỉ hiện tượng chân hương trong bát hương cháy âm ỷ. Hóa dương chỉ hiện tượng bát hương cháy đùng đùng như một ngọn đuốc. Cách lý giải cho hiện tượng này rất nhiều (cả khoa học lẫn tâm linh) nhưng theo quan niệm dân gian thì hóa dương là điềm tốt lành, cho thấy người chết sung sướng, hài lòng và cuộc sống của con cháu sau đó sẽ tốt đẹp hơn.

[20] Quan Công tuần thành: Cách rót trà đặt các chén sát cạnh nhau rồi rót một lượt tất cả các chén, hết một vòng lại quay lại từ chén đầu tiên. Như vậy nước trà sẽ được đậm đều.

[21] Chén quân: loại chén nhỏ dùng để uống trà, phân biệt với chén tống dùng để chuyên trà.

[22] Tiền triều ở đây ám chỉ nhà Trần.

8 thoughts on “[Độc huyền cầm] 2 – 9 (Phần 2)

  1. nguyên

    bạn dùng phần mềm gì dể viết được chữ dưới dạng thư pháp vào bức ảnh đầu chương vậy, cả banner của truyện nữa, chỉ cho mình với, thank u🙂

    1. isis-chan Post author

      mình dùng phần mềm photoshop để thiết kế banner (trong đó có việc chèn text lên ảnh) nhưng muốn chèn được text như ý thì bạn phải có font chữ, cũng như mình soạn thảo trong word thôi. Muốn có font chữ thì cứ google, font chữ thư pháp dùng trong PTS là sẽ ra 1 loạt, tha hồ download về❤

      1. nguyên

        năm nay bạn cũng tốt nghiệp à. Vậy chắc bằng tuổi mình. Bạn đã hoàn thành việc tốt nghiệp chưa? => Cho mình hỏi bao giờ có chương mới🙂

        1. isis-chan Post author

          mình vừa bảo vệ xong hồi tháng 6 rồi. Mình đang cố hoàn thành chương mới, tại dạo này hơi nhiều việc ;; A ;; Nhưng mình có thể đảm bảo không drop ĐHC :”> Sẽ hoàn thành nó trong năm nay thôi :”>

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s