[Độc huyền cầm] 2 – 1


*** Trước khi vào phần 2 Độc huyền cầm, isis có đôi lời

Lúc trước, trong phần 1, mình để cho nhân vật Lê Nhân Tông Lê Bang Cơ có một cái tên giả dùng bên ngoài cung là Lê Nguyên. Trong thời gian chuẩn bị cho phần 2, mình cảm thấy tuy cái tên này không phạm húy với tên của Lê Thái Tông Lê Nguyên Long nhưng nó có phần hơi kì quặc. Hơn nữa, isis đọc được trong tài liệu, biết rằng trong quan hệ ngoại giao với Đại Minh, Lê Nhân Tông dùng cái tên Lê Tuấn. Vậy nên isis đã chỉnh sửa toàn bộ tên Lê Nguyên thành Lê Tuấn.

Chúc các bạn đọc truyện vui, chương này có rất nhiều chú thích, khá là phức tạp, mọi người chịu khó nhé!!!

 

 

Phần 2: Sơn hà cẩm tú

 

 

“Cao sơn hồ thuỷ thiên vân sắc,
Tiên cảnh nhạc thi tuý đắc si.
Vũ trụ phóng ban nghiên bút hoạ,
Giang sơn cẩm tú nhã tình ty[1]

 

 [Phan 2] Son ha cam tu

 

 

 

Chương 1: Thiên hạ

 

 

 

 

“Nhật nguyệt đôi vầng soi trước mặt

Càn khôn một gánh nặng trên vai”[2]

 

 24

 

 

 

Vầng dương mới nãy hãy còn là vệt sáng rực như sợi chỉ kim tuyến ở phía đường chân trời, ngoảnh đi ngoảnh lại đã nhô mình lên tròn vành vạnh, xua tan sắc lam trong của đêm hè ngắn ngủi. Vuốt phẳng những nếp gấp trên áo bản thân tưởng tượng ra trong lúc căng thẳng, Ngọc Hồ gõ nhẹ lên cánh cửa bức bàn, thưa:

 

-Khởi bẩm điện hạ, nô tì là Ngọc Hồ đến dâng trà ạ!

 

-Vào đi!

 

Khác với sự hồi hộp đến mức cả đêm không chợp mắt được của nàng, giọng nói truyền ra hết sức an nhiên, tự tại, chẳng hề khác lúc Gia vương còn sống ở chùa Huy Văn chút nào. Cẩn thận từng bước chân, Ngọc Hồ hướng ánh nhìn của mình xuống dưới sao cho đủ thấy đường nhưng không nhìn thẳng vào long nhan. Những ngón tay mới rời khỏi khay trà khảm bạc bốn phía, bên tai đã nghe thấy giọng nói bông đùa:

 

-Ngô tiểu thư chẳng mấy mà đã học được lễ nghi trong cung rồi. Ngọc Hồ, ở đây không có người lạ, em cứ tự nhiên như trước. Sao, dần quen với cuộc sống ở đây chưa?

 

Dừng ánh mắt trên nụ cười của Tư Thành, nàng thoáng chau mày. Từ khi được Thái bảo Ngô Từ chọn làm người hầu hạ thân cận cạnh Gia vương, lễ nghi, phép tắc thiếu nữ học không ít, nói không theo kịp cuộc sống trong cung thì không hẳn. Chỉ là Ngọc Hồ chưa từng nghĩ con đường lúc bắt đầu giờ đã kéo dài đến đây, xa đến thế này, muốn rút lại cũng không được nữa rồi. Chẳng mấy bận tâm đến sự im lặng của thiếu nữ, Tư Thành gác đũa, tự rót nước cho mình mặc ánh mắt sửng sốt của Đức Vượng. Thưởng thức thứ trà để mộc không ướp hương hoa tan vị chát trên đầu lưỡi, cuối cùng, chàng mới lên tiếng:

 

-Không nói chuyện quân – thần, em và anh trai là họ hàng của ta, gắn bó không phải một hai năm. Giờ bắt em làm cung tỳ, thực sự ta rất khó nghĩ. Tuổi xuân của em… chắc chú thím ở quê sẽ bận lòng lắm!

 

-Ngọc Hồ chưa từng hối hận vì theo điện hạ! – Nàng nghe thấy lời ấy vội quỳ xuống – Trong cung có nhiều việc em không hiểu nhưng sẽ cố gắng hết sức để học, quyết không phụ lòng người.

 

-Không phải ‘không hiểu’. – Chàng cười, ánh mắt nhìn xuống chứa sự trìu mến hiếm hoi – Là ‘chưa hiểu’. Sau này còn phải nhờ đến em nhiều. Ta đã hứa với Ngô Quân sẽ chăm lo cho em rồi gả em vào một nơi tử tế. Từ nhỏ đến giờ ta chưa từng thất hứa với Ngọc Hồ, đúng không?

 

Ngước mắt nhìn, đôi môi cô gái vẽ thành một nụ cười rạng rỡ. Lạy tạ ân điển xong, nàng nhanh nhẹn đứng dậy, thu dọn bát đũa trên bàn rồi lặng lẽ đứng sang bên. Từ nhỏ, Ngọc Hồ và Ngô Quân không lớn lên trong những câu chuyện cổ tích. Nàng quen với những trận đánh từ Đông sang Tây, từ Lam Sơn trải đến Đông Quan theo vó ngựa của Hoàng đế cùng các tướng lĩnh ai nấy đều như chiến thần qua lời kể của ông, của thầy. Những chiến tích oai hùng có cả tang thương, có cả vinh quang ấy kết lại trong đại lễ đăng cơ của Thái Tổ tại đất thượng kinh này. Thái bảo Ngô Từ từng nói hình ảnh Thái Tổ Cao hoàng đế vận trang phục cổn miện bậc nhất của đế vương muôn đời, bước lên ngự tọa là điều suốt kiếp này ông không thể nào quên được. Bấy nhiêu hồi ức hoàng kim đó khiến thiếu nữ từ ngày thơ bé đã không khỏi tò mò.

 

Lắc lắc đầu xua đi những ý nghĩ quẩn quanh, Ngọc Hồ mở lớn mắt, dỏng tai nghe bà trưởng cung nữ sai bảo, không dám để người ta phải nhắc đến lần thứ hai. Cung tỳ từng tốp, từng tốp theo hai hàng tiến vào, trên tay bưng khay gỗ lót gấm vàng long vân đại hội đựng nào đai lưng, ngọc bội, tất son, giày tích[3] đỏ nơi mũi cong lên còn nạm cả ngọc biếc… Nàng hồi hộp, phấn khích khi thấy những món đồ quý giá, tinh xảo ấy bao nhiêu thì vị chủ nhân của nàng lại lạnh lùng, dửng dưng bấy nhiêu.

 

Viên quan của Tư lễ giám đúng giờ xuất hiện, tâu xin Gia vương đội mũ, đeo đai của Thiên tử, ngự lên kiệu rồng. Vừa bước chân qua ngưỡng cửa, ông ta không giấu được sự ngạc nhiên khi thấy người của Lỗ bộ ty còn đến sớm hơn mình, đích thân mang dâng y phục rồi quỳ trước rèm châu. Thỉnh thoảng, người ấy còn lấm lét đưa mắt nhìn Đức Vượng như có ý nhắc nhở, xin xỏ điều gì. Đón lấy đai kim long đính những miếng vàng to bằng ba ngón tay, đúc nổi hình rồng chân năm móng cầm ngọc, tên hoạn quan khom người, thắt quanh eo Tư Thành ra ngoài áo cổn. Hắn nhỏ giọng thưa:

 

-Lỗ bộ ty xin có lời giãi bày với điện hạ. Vì đại lễ gấp rút nên không chuẩn bị kịp cổn phục mới, đành tạm dâng lên lễ phục dự trữ của Đại hành hoàng đế. Các vị đại nhân bên đó cúi xin điện hạ đại lượng châm chước cho.

 

-Có gì đâu mà phải quá lời như vậy? – Chàng nói khẽ cho mình Đức Vượng nghe. Vuốt phẳng vạt áo cổn bên ngoài áo trung đơn[4] bằng là trắng, Tư Thành ngoái lại, mỉm cười – Ta rất vừa ý bộ lễ phục này. Các khanh đã vất vả rồi!

 

-Thần đội ơn quan gia ban khen! – Vừa nghe thấy thế, người đang ông đang quỳ trên nền gạch mừng húm, thở phào rồi vội vàng lạy tạ.

 

-Lễ lên ngôi chưa diễn ra, ta chưa phải là Hoàng đế, đừng xưng hô tiếm vượt như vậy. Lui ra đi.

 

Hàng mi rủ xuống tạo thành bóng đen mờ trên nước da trắng trẻo của người thanh niên trẻ. Ánh mắt chàng dừng lại trên chiếc mũ bình thiên bao đời hoàng đế Đại Việt từng người, từng người đội lên, chính thân phận để cai quản sơn hà xã tắc. Mười hai chuỗi lưu[5] rủ xuống trước sau miện bản[6], mỗi lưu lại dùng dây tơ ngũ sắc xâu đủ mười hai viên ngọc châu bằng nhau chằn chặn, ánh màu xà cừ. Người phương Bắc tự coi mình là Trung quốc, là Hoa, là Hạ, là quốc gia trung tâm cao quý hơn hẳn di, địch tứ phương[7], xem mũ miện mười hai lưu là trang phục cao quý bậc nhất của riêng Hoàng đế thiên triều. Lịch sử đứt đoạn, lúc Thái Tông Văn hoàng đế hạ lệnh phục hồi quy chế cổn miện cho Thiên tử phương Nam, hẳn cũng có ý nối lại truyền thống đế vương, xét đến sự ngạo mạn, độc tôn của triều đình phương Bắc[8]. Khóe môi nhếch lên thành nụ cười ẩn giấu sự tán đồng, thán phục lẫn trong sự lạnh nhạt, vô tình.

 

-Sắp đến giờ lành rồi ạ, xin điện hạ để thần giúp người đội mũ. – Đức Vượng thấy viên quan của Tư lễ giám có ý thúc giục liền lễ phép cất lời, trong mắt thấp thoáng một làn nước mỏng. – Đại hành hoàng đế trên trời nhìn thấy điện hạ thế này nhất định có thể mỉm cười được rồi.

 

-Ngươi cùng từng hầu hạ hoàng huynh ta như vậy? – Chàng hỏi, mắt nhìn qua tấm rèm buông rủ xuống cửa sổ chạm nổi hình long phượng sum vầy, không khó để nhận ra kiệu rồng, nghi trượng, đoàn người đón rước đã đứng đợi bên ngoài.

 

Buộc sợi dây hoằng màu đỏ son giữ mũ bình thiên thành một nút thắt đẹp mắt dưới cằm Gia vương, Đức Vượng lắc đầu, mím môi lại hồi lâu rồi mới nói:

 

-Ngày trước, mỗi lần đại lễ đều là quan thị hậu phó chưởng đích thân hầu hạ Đại hành hoàng đế, thần chỉ đứng cạnh nhìn thôi ạ.

 

-Xem ra Đào Biểu đã dạy dỗ ngươi rất tốt! – Chàng đứng dậy, ra hiệu cho cung tỳ vén rèm ngọc – Biết nhìn gương người trước để học lấy cái hay thì mình sẽ được tốt lành. Đi thôi, không nên để bá quan phải chờ.

 

Kiệu gỗ vuông sơn đỏ, đặt ghế rồng bên trên, lan can bốn phía chạm nổi hình cửu long rước Gia vương từ điện Vạn Thọ đến điện Tường Quang, trước sau đều có cấm quân vũ trang tề chỉnh, hàng ngũ tăm tắp hộ giá. Cờ tán đủ màu nương mình theo gió, tung bay dọc con đường lát gạch Bát Tràng được quét tước sạch sẽ từ hôm qua. Những sắc màu phấp phới kia không sánh được với cái bề thế, hoành tráng của đồ hành nghi cao vượt lên hẳn khỏi đoàn người đưa rước. Nào phủ, việt[9], cờ, phướn, quạt vả[10], lọng che lớn tán tròn… không phải gấm lụa ngũ sắc thêu rồng uốn khúc, phượng hoàng dang cánh thì cũng là đồ gỗ sơn son uy nghi, thếp vàng lóa mắt. Theo bước chân người, trầm hương tan giữa nắng hạ, đung đưa trong chiếc lư đồng hoa sen treo dưới cán gỗ đầu phượng trên tay cung tỳ, vẽ thành những vệt trắng mờ hư ảo phía trước kiệu rồng. Cổn phục cũng được xông hương nhưng Tư Thành hiểu rõ, chẳng có thứ hương liệu nào trên đời có thể xóa nhòa đi mùi máu tanh thấm đẫm tấc đất, ngọn cỏ Cung thành. Chẳng cứ chính biến của họ Lê chàng, từ xưa đã định đất đế đô – nơi cấm địa bậc nhất này – vinh hoa bao nhiêu, tôn quý bao nhiêu thì cũng nghiệt ngã, bi thương ngang bằng chừng ấy.

 

Và giờ, chính chàng chọn lấy ván cờ này, ván cờ dù Lê Tư Thành có là người thông minh đến mấy cũng không thể đoán hết những nước đi của đối phương, những biến hóa của dòng đời cuồn cuộn.

 

“Phải làm sao mới xứng với tổ tiên, phải làm sao để bản thân không hổ thẹn, phải làm sao cho xứng với cả nghìn năm sách sử cùng bao vị hoàng đế trông xuống… Hoàng huynh, tâm trạng của anh… cuối cùng, em cũng đã có thể hiểu rồi!”. Siết ngọc khuê[11] lạnh ngắt trong tay, chàng thanh niên hướng ánh mắt cương nghị về phía trước. An nhiên như không, thậm chí còn chứa ba, bốn phần tự tin đến mức cao ngạo trong phong thái bởi mọi việc đến cùng đều đúng như dự liệu của chàng.

 

Vừa thấy mao tiết đi đầu đoàn rước với đầu rồng cong xuống, miệng ngậm sợi dây đính những chùm tua kết bằng lông trắng thả chùng xuất hiện từ khúc ngoặt, điện Tường Quang liền vang tiếng chuông đồng, không trầm như chuông chùa mà mang âm cao, sáng, vang vọng tứ bề. Xen vào hồi chuông trên lầu gác là tiếng bốn cây roi da như con rắn đen mềm mại vụt vào không khí, từng tiếng, từng tiếng nổ giòn như pháo, kinh hồn động phách.

 

-Đến giờ lành rồi các vị! – Thiếu bảo Nguyễn Xí vừa nghe thấy chuỗi thanh âm ấy liền cất lời, ánh mắt không hiểu vô tình hay hữu ý lại dừng trên gương mặt Lê Lăng.

 

Bá quan lập tức dừng chuyện của mình, xếp vào hàng ngũ ngay ngắn theo hai ban văn võ, thứ bậc từ cao đến thấp rồi tiến vào Cung thành qua Đoan Môn[12]. Sân gạch trước điện Tường Quang không rộng bằng sân rồng trước điện Kính Thiên, giờ được lấp đầy bởi quan viên, bởi nghi trượng, cờ tán, lọng che bày biện hai bên trái, phải theo đúng lễ cổ. Sắc đỏ của chu phục[13] trên người quan lại ngời lên rực rỡ, trang sức vàng, bạc phân định phẩm trật đính trên thân mũ lương quan tỏa ánh lấp lánh dưới nắng hạ mỗi lúc một gắt.

 

Vượt lên những tán cây sum suê xanh mướt, hồi chuông đầu tiên rền vang ấy xuyên qua những bức tường thành vòi vọi, báo hiệu cho quan ngoài kinh về triều yết đợi ở cửa Càn Nguyên cũng theo hàng lối tiến vào đứng chầu trước Đoan Môn. Từng hàng người áo đỏ lay động trong cơn gió lồng lộng nom tựa như một biển hoa đang kì nở rộ. Cảnh tượng trang nghiêm, hoành tráng mà quy củ ấy có thể khiến người tầm thường nhất trong thiên hạ phải sững sờ. Và, sẽ càng đáng sợ hơn nếu người ta biết rõ đại lễ đăng cơ này chỉ sau cuộc chính biến lật đổ Lệ Đức hầu Lê Nghi Dân có hai ngày.

 

Sắc đen thẫm của áo long cổn bên trên đối lập với màu đỏ rực của thường[14] bên dưới, trang trí đủ mười hai chương[15] tinh xảo vô cùng. Trên vai áo người sẽ trở thành Hoàng đế thêu hai chương nhật, nguyệt, còn tay đương nhiên phải là chương thìn. Rồng vàng trong thế bay lên có mũi lớn, mắt sáng, răng sắc, thân tròn, vảy xếp đều như vảy cá, lại thêm chân thú với năm móng nhọn, khỏe khoắn quắp ngọc. Thần long được thêu nổi bằng chỉ kim tuyến óng ánh đẹp đẽ nhưng không che đậy cái dữ dội, uy nghi khiến người ta kính sợ lại càng sinh động hơn khi gió thổi tới, cuốn tay áo Tư Thành bay bay. Là do y phục, do khung cảnh biến đổi con người, hay thực ra vị thân vương đang bước trên ngự đạo[16] giữa trăm quan đến lúc này mới lộ rõ khí chất bẩm sinh? Người ta nín thở, lén đưa mắt nhìn rồi tự hỏi mình như thế.

 

Từng bước đi vững vàng, ung dung khiến những chuỗi ngọc châu rủ xuống chỉ khẽ đung đưa. Trên gương mặt sáng sủa, nghiêm nghị của chủ nhân, đôi môi hơi mím lại. Hàng lông mày đậm xuôi theo nét mặt ôn hòa làm đôi mắt đen thẳm bớt đi vài phần lạnh lẽo. Tư Thành nhìn nhưng chỉ thấy từng hàng, từng hàng người áo đỏ hai bên trôi lướt qua chẳng hề lưu lại dấu vết. Mỗi bước về phía trước là mỗi bước ngai báu hiện lên thêm rõ ràng sau làn khói mờ tựa sương sớm tỏa ra từ hương án bày trước cửa chính của điện Tường Quang. Những đường gân xanh nổi lên rõ ràng trên mu bàn tay khi chàng siết chặt ngọc khuê, lưng giữ thẳng, tiến từng bước đường hoàng.

 

“Thái Tông hoàng đế, người có thấy chuyện này thực sự rất nực cười không? Hoàng thái tử người chọn, con trai trưởng người phế đều đi cả rồi. Ngai vàng này cuối cùng lại đến lượt đứa trẻ người chưa từng màng đến sống chết ngồi lên. Chắc người không tính đến. Thần cũng chưa từng lường trước sẽ có ngày phải đi những nước cờ này”.

 

Trước ánh mắt chăm chú dõi theo của trăm quan, đôi giày tích đỏ đặt lên một bậc cấp là nụ cười trong lòng nhiều người lại tươi thêm một chút. Ánh mặt trời giữa hạ mất hút sau vành ngói ống hoa sen tráng men lục, nhường chỗ cho những chân đèn lớn thắp sáng nội điện, nhường chỗ cho thứ ánh sáng phản chiếu lại từ những chi tiết mây cuộn bằng vàng trang trí trên cột chống, vì kèo sơn son. Yên lặng sánh đặc. Cái yên lặng đến mức nghe được cả tiếng cờ phướn phần phật tung bay, tiếng côn trùng rinh rích kêu núp sau cành lá đổi thành thứ yên lặng để nghe được âm vang của tiếng bước chân, của hơi thở cùng tiếng dòng huyết nóng căng đầy trong từng mạch máu, thớ thịt. Và, Tư Thành biết trái tim mình không hề đập mau hơn dù chỉ là một nhịp.

 

“Thần xưa nay luôn cầu sống. Từ khi chưa ra đời, từ khi mới lên ba. Người ép người, người dồn đẩy người, và cũng là người buông tha người. Tranh đoạt? Mưu mô? Đế vị? Tình thân? Nếu mong muốn được sống của kẻ bị dồn vào chân tường đã đưa thần đến đây thì thần sẽ trở thành chủ nhân của giang sơn cho người xem. Không phải một Hoàng đế bình thường mà là minh quân thánh chúa lưu danh sử sách ngàn đời!”.

 

Đôi mắt đen thẳm như màn đêm không sao nhìn xoáy vào chín con rồng mình tròn lẳn, răng sắc, móng nhọn, sinh động uốn mình trên ngự tọa bằng vàng. Những chuỗi ngọc châu rủ xuống khẽ va vào nhau tạo thành những tiếng đinh đang trong vắt khi Tư Thành dứt khoát xoay người, chậm rãi, đường hoàng ngồi xuống long ỷ. Đáy mắt bao quát cảnh tượng trăm quan tề tựu xưng thần ngoài sân điện Tường Quang hàm ẩn sự ngạo nghễ, thách thức của một người hãy còn ít tuổi. Trên đôi môi kia lướt qua nụ cười rất nhạt, nhanh như cánh bướm mỏng chấp chới trong nắng hè.

 

-BÁCH QUAN GIAI QUỴ![17]

 

Viên thông tán xướng lên từng âm rành rọt, vang vang tứ bề. Quan trong ngoài nghe thấy hiệu lệnh đều nhất loạt quỳ xuống. Nguyễn Xí và Đinh Liệt đã có lời trước với Tư Thành rằng, sau khi nhận đại lễ năm lạy ba vái theo thể chế đã định từ xưa, Lê Niệm sẽ thay mặt bá quan văn võ dâng biểu xin chàng nhận đế vị. Vì Gia vương không phải Hoàng thái tử, lại đăng cơ sau chính biến cung đình, không có di chiếu truyền ngôi nên mới đặt ra việc ấy. Lễ nghi thế nào, chàng vốn không bận tâm vì bên Tư lễ giám xưa nay rất biết cách thu xếp cho chu toàn. Điều khiến Tư Thành tò mò chính là Lê Niệm. Ai nhìn vào cũng biết đây là một võ tướng tiến thân từ việc tập ấm cha mà làm quan dưới thời hoàng huynh chàng. Xét xa xôi hơn, Lê Niệm cũng vào hàng con cháu công hầu khanh tướng khi có ông nội chính là Lê Lai đã xả thân cứu Thái Tổ Cao hoàng đế năm xưa mà danh vang thiên hạ. Cũng có lời đưa đến tai Tư Thành nói con người này không những võ lược mà còn văn thao, thực sự hiếm có, khiến chàng không thể không để mắt đến.

 

Nheo mắt nhìn người đàn ông chậm bước, hai tay nâng tờ biếu lên cao quá đầu đến quỳ trên ngự đạo, Tư Thành không trông rõ vẻ mặt người ấy ra sao, chỉ nhìn thấy dáng điệu đường hoàng, bình tĩnh, nghe được giọng nói sang sảng tâu lên rằng:

 

-Hạ Vũ truyền ngôi cho con, từ đó lập ra quy chế ngàn đời cha mất thì con nối, anh mất thì em nối. Mạnh Tử nói: “Noi theo phép của tiên vương mà có lỗi thì chưa có bao giờ”. Đại Việt ta từ khi lập quốc, phàm hiểu đạo lý của tiền nhân đều theo lệ cũ, noi theo tam vương[18] để được vững bền, quy củ. Bản triều ta gia pháp rất đúng, tuân theo thể chế tổ tiên, kén chọn người tài để chính ngôi Thiên tử, trải đời Thái Tổ, Thái Tông yên vui, vẻ vang. Mà nay Lệ Đức hầu bất tuân di chiếu của Thái Tông Văn hoàng đế, khinh nhờn Thái miếu, không để quy chế ngàn đời vào đâu. Đang đêm y cả gan bắc thang trèo tường, bức tử con nối của Tiên đế, hại lây đến cả Quốc mẫu. Lòng người ly tán, trăm họ như mất cha mẹ, đau thương không bút nào tả xiết.

 

Chúng thần sinh trưởng trong buổi gian nan nhưng ai cũng được hưởng ân điển trời bể của các đấng Tiên đế, nhìn cảnh ấy không khỏi đau lòng, không khỏi oán giận. Nghĩ mình trên được Thiên tử trọng thị, dưới được bách tính cậy nhờ, không thể ngồi yên, an nhàn hưởng lạc, bèn họp nhau lại xướng nghĩa trừ bỏ nghịch thần tặc tử.

 

Cuộc trung hưng đã thành, lại bận lòng vì ngôi Thiên tử hãy còn bỏ trống. Gia vương thân là con trai của Thái Tông Văn hoàng đế, tuy một lòng tiêu dao ở chỗ chu để nhưng khí chất hơn người đã sớm bộc lộ, thiên tư sáng suốt, hùng tài đại lược không ai sánh bằng. Trộm nghĩ, ngôi trời khó khăn, thần khí rất trọng, nếu không phải bậc đại đức, khó có thể kham nổi. Nay bề tôi trên dưới một lòng tôn phò Gia vương điện hạ đăng cơ kế vị, nối lại quốc thống. Cúi xin điện hạ soi xét đến lời xin đó, để giang sơn quy về một mối, trăm họ trong thiên hạ được hưởng thái bình”.

 

Lê Niệm cúi đầu, kính cẩn dùng hai tay nâng tờ biểu lên cao ngang trán, trăm quan phủ phục xung quanh. Khẽ nhắm mắt lại, Tư Thành nói với viên quan hầu đứng cạnh:

 

-Nhận biểu!

 

Trong điện Tường Quang ngoài ngai rồng nơi Hoàng đế ngự, hương án bày phía trước, hai bên tả, hữu còn đặt án gỗ sơn son thếp vàng, che lọng vàng. Một bên đặt ấn báu truyền quốc, là kim ấn Thuận thiên thừa vận chi bảo, một bên đặt chiếu thư bố cáo thiên hạ. Chàng cho tuyên đọc chiếu chỉ ấy, về đại ý cũng không khác tờ biểu của Lê Niệm dâng là bao. Khi tiếng hô “cúc cung bái, hưng, bình thân” của viên thông tán dõng dạc vang lên, quan lại trên dưới, trong ngoài lại hành đại lễ lạy tạ Thiên tử mới của họ. Cuối cùng, khi dàn đại nhạc của Thái thường tự tấu lên khúc nhã nhạc rộn ràng, ca ngợi giang sơn phồn vinh, thái bình thịnh thế, những tiếng tung hô “muôn tuổi” vang động khắp Cung thành.

 

Thực ra, Lê Tư Thành chẳng mấy quan tâm đến việc đó, bởi hơn ai hết, chàng hiểu rõ những tiếng hô “muôn tuổi” hôm nay là điều người ta phải làm, phải nói cho hợp lễ nghi, địa vị. Trong mắt họ, chàng chỉ là thiếu đế mà thôi, một thiếu đế đăng cơ như một hệ quả tất yếu của những rối loạn họ tộc chẳng lấy gì làm vẻ vang với đời. Phất tay áo khi đứng dậy khỏi long ỷ, chàng ra lệnh cho Đức Vượng:

 

-Truyền khẩu dụ của trẫm, các quan đại thần từ tứ phẩm trở lên của hai ban văn võ chưa được xuất cung, lập tức đến Văn Minh điện nhận lệnh.

 

 

 

Nhằm ngày mùng tám tháng sáu năm Canh Thìn (1460), Gia vương Lê Tư Thành – con trai út của Lê Thái Tông, mẹ là bà Sung viên Ngô Thị Ngọc Dao – lên ngôi ở điện Tường Quang, trở thành vị Hoàng đế chính thống thứ tư của nhà Lê Sơ, hiệu là Thiên Nam động chủ. Vua tôn mẹ đẻ trở thành Quang Thục Hoàng thái hậu. Năm ấy đổi niên hiệu, tính là Quang Thuận năm thứ nhất, đại xá thiên hạ.

 

 

 

 

***

 

 

 

 

-Quan gia có việc gì mà vừa xong đại lễ đã triệu chúng ta đến? – Lê Thọ Vực băn khoăn cất lời.

 

-Hay có điều gì thiếu sót khiến quan gia không hài lòng? – Có người không kiềm được mà nói thẳng.

 

-Ngài đừng nói vậy! – Đinh Liệt gạt đi – Từ khi còn là phiên vương, quan gia đúng là rất kĩ tính nhưng không phải là người xét nét, không tính đến hoàn cảnh của người khác. Tôi nghĩ có việc gì cấp thiết nên quan gia mới yêu cầu gặp chúng ta gấp như vậy.

 

Tiếng viên hoạn quan lanh lảnh truyền vào qua cửa điện Văn Minh rộng mở làm những người đàn ông mình vẫn còn mặc nguyên triều phục nóng bức vội vàng hành lễ. Trái với dự liệu của họ, Hoàng đế cất giọng vui vẻ, thân tình khi khoát tay bảo:

 

-Trẫm miễn lễ. Các khanh đứng dậy cả đi. Đức Vượng, ban ghế, ban nước cho các vị đại nhân!

 

Thong thả để những bậc đại quan trước mặt mình nghỉ ngơi trong chốc lát, Tư Thành đan hai tay vào nhau, nghiêm túc cất lời:

 

-Hôm nay trẫm xuống hai đạo chiếu chỉ. Một là tờ chiếu đã được tuyên đọc trong lễ lên ngôi. Hai là tờ chiếu về việc phát tang cho Đại hành hoàng đế và Nguyễn Thái hậu. Tuy đây là việc trong nhà nhưng nhẽ ra trẫm nên nói trước với các khanh mới phải. Chỉ vì… từ khi hoàng huynh cùng thái hậu qua đời đến giờ đã quá lâu, đại lễ đăng cơ lại là việc vui, trẫm không muốn vì mình mà để việc của hoàng huynh bị chậm trễ, qua loa, đại khái nên mới làm gấp như vậy.

 

Cái nhún nhường của Tư Thành cùng chút chua chát trong lời nói khiến quần thần lặng đi trong chốc lát. Đưa mắt nhìn vị chủ nhân ngồi sau án thư như có ý ước đoán thâm ý bên trong, Thiếu úy Lê Lăng chắp tay, bẩm:

 

-Quan gia tính thế phải lắm ạ! Chúng thần với việc này không dám bàn nhiều, xin theo ý người.

 

Đặt chén trà xuống, chàng mềm mỏng đáp:

 

-Tuy là người kế vị nhưng xét tuổi đời, xét kinh nghiệm, trẫm tự biết mình còn non kém, việc gì cũng nên bàn bạc với các khanh cho kĩ rồi mới quyết định. Chuyện trong triều về sau đều phải dựa vào những huân cựu đại thần như các khanh cùng trẫm cáng đáng mới được. Nay với việc của hoàng huynh và Tuyên Từ Hoàng thái hậu, theo thể chế từ xưa quân thần phải cùng nhau họp lại, xét tài đức của người khi còn tại thế mà dâng tôn hiệu cho xác đáng. Các khanh có ý gì không?

 

Đón nhận những ánh mắt trao đổi của những quan lại dưới quyền mình bằng một vẻ kiên nhẫn, ung dung, Tư Thành để yên cho họ bàn thảo rồi mới cất lời:

 

-Vậy đi, dù sao hôm nay các khanh cũng đã mệt mỏi rồi, việc này ta giao cho Thái bảo Đinh Liệt, Thiếu úy Lê Lăng bên võ giai, Trung thư lệnh Nguyễn Trực, Trung thư lệnh thị lang nhập thị kinh diên Nguyễn Bá Ký bên văn giai chủ trì. Buổi thượng triều ngày mai, các khanh cho trẫm lời hồi đáp. Lệnh cho Tư thiên giám chọn ngày lành để làm lễ rước bài vị của Đại hành hoàng đế và Nguyễn Thái hậu vào Thái miếu, đồng thời chọn đất có phong thủy tốt ở sơn lăng tại Lam Kinh để an táng cho hoàng huynh.

 

-Chúng thần xin vâng mệnh!

 

Liếc nhìn Nguyễn Xí, hàng râu quanh miệng Đinh Liệt hơi nhếch lên khi ông mỉm cười. Cái gì là nhún nhường, cái gì là xin ý kiến, thực ra Hoàng đế đều có dự liệu cả rồi, chỉ chừa lại cho đám lão thần cái danh, cái tiếng mà thôi.

 

-Khởi bẩm quan gia, còn Lê Đắc Ninh sẽ xử lý sao ạ? – Lê Niệm thưa.

 

-Giữ cấm binh mà không biết bảo vệ xã tắc, lại đem binh giúp kẻ phản nghịch, hãm hại Đại hành hoàng đế và Quốc mẫu. – Tư Thành thong thả đáp – Tội trạng đã quá rõ ràng, khanh và hình quan cứ chiểu theo luật pháp mà xử cho nghiêm. Riêng với các vị đại thần có công xướng nghĩa, trừ bỏ loạn đảng, trẫm lệnh cho Thiếu bảo Nguyễn Xí tâu trình tên họ từng người cho rõ ràng, đầy đủ để định công ban thưởng. Còn Đào Biểu tuy chỉ là một viên nội quan nhưng đáng được nêu gương tử tiết, cho người trong thiên hạ rõ bản triều ta biết trọng người hiền.

 

Trao đổi ánh mắt với mấy vị đồng liêu, Lê Thọ Vực liền đứng dậy, chắp tay nói:

 

-Chúng thần hưởng ơn của các vị Tiên đế, có chút việc này mà không biết đem thân trâu ngựa ra khuông phù xã tắc thì mặt mũi bản thân, thể diện họ tộc còn biết để vào đâu. Đây là bổn phận của chúng thần, thẹn không dám nhận ân điển của quan gia.

 

Xoay chén nước trong tay, chàng nghe những lời ấy mà trong lòng không khỏi thấy chán ngán. Hai bên đều phải diễn cho đạt vai của mình, một câu cũng không được nói thiếu. Người thì trọng tình, trọng nghĩa, kẻ thì vì nghĩa diệt thân, không hề vụ lợi. Rời ngón tay khỏi miệng chén ngọc, Tư Thành ngẩng lên:

 

-Có phạt thì có thưởng, việc gì cũng phải minh bạch, công bằng. Đây là lẽ từ xưa, có liên quan đến thể diện của bản triều, cũng là để khuyến khích người ta làm việc đúng đắn, tránh việc sai quấy. Ý trẫm đã quyết, cứ y vậy mà làm. Nhân có các trọng thần hai ban văn võ ở đây, trẫm muốn các khanh cho ý kiến luôn mấy việc hệ trọng khác. Thời Đại hành hoàng đế còn tại vị, hạn hán, sâu bệnh xảy ra liên miên, lương thực thiếu thốn, dân đói kém tất sinh loạn. Các khanh xem nên xử lý thế nào. Trẫm mới coi chính sự nhưng thấy có tấu dâng lên nói án tồn đọng tại các địa phương còn rất nhiều. Dân chúng gặp oan khiên thì cậy nhờ quan phụ mẫu, giờ để việc ra như vậy, quan lại có dám ngửa tay nhận bổng lộc của triều đình không, có dám nhìn dân chúng không? Các khanh đều là đại thần đầu triều, việc này nên suy nghĩ cho thấu đáo.

 

Ra hiệu cung tỳ không cần châm thêm trà, Lê Lăng dễ dàng nhận ra không khí trong điện Văn Minh thoắt cái đã thay đổi. Từ chỗ hiếu kì, người ta dần nghiêm túc với từng lời thiếu đế nói ra. Cái gì mà tiêu dao, cái gì mà không màng chính sự, chỉ vui với sách vở, từ lúc Gia vương đặt chân lên ngự đạo, ông đã biết con người này thực sự không tầm thường. Chẳng trách Nguyễn Xí, Đinh Liệt lại tận tâm tôn phò người thanh niên này đến vậy. Biết việc nặng nhẹ, lời nói có trọng lượng mà vẫn mềm mỏng, dễ nghe, lại cầu thị, khiêm nhường, với kẻ làm bề tôi, có một Hoàng đế như vậy chính là phúc phận. Nhưng trong lòng Lê Lăng vẫn cứ canh cánh một dự cảm không rõ lành dữ. Ông mơ hồ thấy con người kia trông vậy mà chưa chắc đã phải vậy. Thực sự người ấy mới chỉ sắp tròn mười chín tuổi thôi sao?

 

-Quan gia thứ lỗi cho hạ thần nói chuyện tiếm vượt! – Thiếu úy Lê Lăng đứng dậy, nhận ra những ánh mắt hướng về phía mình có tò mò, có cả những cái nhìn chòng chọc – Việc nước là việc lớn, từ đây sẽ còn trăm mối bề bộn. Thần trộm nghĩ, cổ nhân có câu “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”… Quan gia…

 

Vừa nghe đến đấy, Tư Thành lập tức cười lớn, sảng khoái vô cùng khiến vài người trong điện Văn Minh giật mình, chột dạ. Vui vẻ nhìn người đàn ông đang có chút ngỡ ngàng hiện rõ trên mặt, chàng gật đầu tỏ ý tán đồng:

 

-Trẫm hiểu điều Thiếu úy khó nói ra lời. Đó cũng là ý của mẫu hậu, muốn trẫm sớm lập hậu cung. Chuyện này đúng là rất hệ trọng. Thế này đi…

 

Thu lại nụ cười, Tư Thành ngồi thẳng trên ghế, đưa mắt nhìn khắp lượt quần thần. Đó là một ánh mắt ôn hòa, đơn giản, thành thực. Chàng nói, giọng thân tình là nhiều:

 

-Trẫm không rành chuyện nữ nhân, nữ nhân kén chọn vào cung lại càng không hiểu rõ. Theo lệ từ xưa, chỉ cần là con gái gia đình lương thiện, đủ tứ đức tam tòng, các khanh biết ai thì cứ tiến cử, trẫm sẽ chọn lấy vài người. Từ đời Thái Tổ Hoàng đế đã định se duyên người của hoàng tộc với nữ nhân xuất thân từ những gia đình không phải công hầu khanh tướng thì cũng dòng dõi thư hương, trẫm thấy rất hay. Việc hôm nay chỉ có vậy thôi, các khanh lui được rồi.

 

Nhìn từng bóng triều phục đỏ lần lượt khuất sau cửa điện Văn Minh, những ngón tay lười nhác tháo sợi dây hoằng màu son rồi trao chiếc mũ bình thiên cho Đức Vượng. Tư Thành ngả lưng ra sau ghế, vờ như chợp mắt chốc lát. Chàng đã nhiệt tình một, quần thần còn năng nổ mười. Thăm dò, kết thân với tân Hoàng đế đâu có đường nào nhanh hơn hôn nhân. Ngôi vị hoàng hậu, tam phi cao quý từng ấy sớm thành miếng mồi ngon cho các đại thần xâu xé, giành lấy cho con gái mình. Cha càng quyền cao chức trọng, con cái sẽ càng được cậy nhờ. Sa vào những mối liên hệ chen giữa quân – thần, con rể – bố vợ ấy, sao tránh khỏi việc vuốt mặt nể mũi, vị nể tình thân. Huống hồ từ xưa, mối quan hệ giữa chàng và quan lại trong triều thực sự vô cùng hạn chế, cái lợi việc cưới xin này mang lại cho chàng e rằng chẳng mấy.

 

Đầu ngón tay gõ nhịp đều đều lên góc án thư trang trí những đóa hoa cúc màu vàng kim bung nở, diễm lệ muôn phần. Hôm nay Lê Lăng chủ động mở lời, thái độ kính cẩn, chừng mực, những người theo phe ông ta sẽ biết nhìn thế mà nương theo, thực bụng đến đâu Tư Thành chưa rõ. Trong tay Hoàng đế có kim ấn, có kiếm báu, có cả một cán cân lúc nào cũng phải giữ ở thế cân bằng. Với người của mình thì không được bạc, không được để mất lòng. Với người không thuận theo mình, càng phải trọng hơn nữa, thậm chí phải ưu ái mà nâng lên cao hơn vị trị thực sự một chút. Lẽ này chàng rất hiểu.

 

Vươn người về phía trước, Tư Thành tiện tay mở cuốn sổ ghi chép về gia thế, xuất thân của các công thần đương triều hôm qua đang đọc dở. Bỏ qua những trang viết về Nguyễn Xí, Đinh Liệt, Lê Lăng, ánh mắt chàng dừng lại ở cái tên Nguyễn Công Duẩn – Bình Ngô khai quốc công thần được Thái Tổ ban đến tước Hoành Quốc công. Khi ông nội chàng dựng cờ ở Lam Sơn, Nguyễn Công Duẩn đã đem 3.500 thạch lương đến tụ nghĩa. Nguyễn Xí kể người đàn ông này còn có tài đánh giặc, khiến quân Ngô kính sợ mà gọi là Hổ đầu tướng quân. Thái Tổ từng dụ ban khen: “Không lười điều binh, tiến lương, vào ra nguy hiểm không quản sống chết, nhớ công ngươi bẻ gãy ngọn giáo, làm quằn lưỡi gươm quân thù, thừa thắng đánh giác, ngăn sông phá núi lo cho nạn nước”. Trải ba đời Hoàng đế, các con trai của Hoành Quốc công đều vào triều làm tướng, một lòng trung trinh báo quốc. Trong số đó nổi bật nhất chính là Nguyễn Đức Trung.

 

-Đức Vượng, có phải ngươi từng nói chức vụ Điện tiền ty đô chỉ huy là do Thiếu úy Lê Lăng tiến cử Nguyễn Đức Trung với hoàng huynh trẫm? – Tư Thành không rời mắt khỏi trang giấy, thờ ơ hỏi.

 

Ngơi tay buông mấy tấm mành tre kết bằng dây vàng xuống, ngăn bớt ánh nắng hắt vào trong nội điện, viên hoạn quan ngoảnh lại:

 

-Thưa vâng. Tuy Hoành Quốc công lúc còn tại thế địa vị rất lớn, con cái được tập ấm cũng nhiều nhưng thần nghe láng máng đâu, ngài Đức Trung chỉ là con thứ nên lúc đầu chưa được trọng dụng mấy. Về sau nhờ Thiếu úy Lê Lăng cất nhắc nên mới có thể thăng tiến đến vậy, nổi trội hơn hẳn những người khác.

 

-Một người thú vị đây! – Chàng cười nhẹ. – Thay áo cho trẫm rồi đến cung Long An.

 

Đưa trả chiếc khăn thấm nước để lau mặt cho tên hoạn quan, ánh mắt Tư Thành quay về vẻ xa cách, thăm thẳm cố hữu, loại ánh mắt ở đây nhưng lại trôi nổi đi đâu rất xa trong ý nghĩ. Nay vẫn cần dựa vào những thế lực đại thần trong triều nhưng về lâu về dài, để cho những người ấy thao túng tất cả, sắp đặt tất cả, thoải mái bè cánh thì cuối cùng ai là vua? Lẽ sinh tử không người lường tính hết, tre già măng mọc có gì lạ đâu. Nghĩ phải xa, tính phải kĩ. Lệ Đức hầu ắt cũng từng nâng lên đặt xuống như vậy, còn Tư Thành vốn chẳng khác gì. Có điều, chàng không vội, chưa cần phải vội.

 

 

 

Ngay sau khi kế vị, ngày Tân Mùi, Hoàng đế làm lễ cáo miếu, rước bài vị Đại hành hoàng đế vào thờ ở Thái miếu. Ngày Quý Dậu, rước kim sách dâng tôn hiệu cho vua trước là Khâm Văn Nhân Hiếu Tuyên Minh Hoàng đế, miếu hiệu Nhân Tông; dâng tên thụy cho bà Thái hậu họ Nguyễn là Tuyên Từ Nhân Ý Chiêu Túc Hoàng thái hậu.

 

 

 

Gió mang hơi mưa thổi tới làm ngọn lửa trên giá nến khẽ cong mình, rạp xuống như một chiếc lá mỏng. Gác bút, Tư Thành xoa xoa hai hốc mắt, hỏi:

 

-Canh mấy rồi?

 

-Bẩm, canh hai[19] rồi ạ! – Đức Vượng thưa, lén đánh mắt ra hiệu cho Ngọc Hồ.

 

Đón lấy ánh mắt nhắc nhở ấy, nàng liếm bờ môi khô, không tự tin lắm khi cất lời:

 

-Quan gia thiết triều, xử lý tấu chương đã mệt lại thêm việc làm lễ rước bài vị của Nhân Tông Hoàng đế vào Thái miếu hồi sáng nữa… Nô tỳ xin quan gia đi nghỉ sớm, bảo trọng long thể.

 

-Trời mưa? – Tư Thành lật bản tấu đặt trên bàn, chấm bút vào mực son.

 

-Là cơn mưa đầu tiên từ mùa xuân đến giờ đấy ạ! Việc của Tiên đế xong xuôi trời liền đổ mưa, đúng là điềm tốt. – Đức Vượng nhanh nhảu cái miệng.

 

Đầu bút lông hạ xuống cách mặt giấy chỉ vài li liền ngừng lại. Hoàng đế đứng dậy, buông gọn mấy chữ:

 

-Đến điện Trường Xuân.

 

 

 

 

Mưa lớn.

 

Mưa như chưa bao giờ được mưa. Nước nhảy nhót, vỡ tan trên tán ô thành muôn vạn những giọt tròn, trong veo như hạt ngọc. Nước để lại trên đôi hài gấm, trên vạt áo bào những chấm li ti. Chỉ là một trận mưa rào bình thường đổ xuống mặt đất bị rang dưới nắng hè, tỏa mùi ngai ngái. Mưa rộn ràng, ồn ào mà ảm đạm. Rũ tay áo, đưa cái ô ướt sũng cho viên hoạn quan đứng cạnh, Đức Vượng khẽ rùng mình. Cả tấm lưng ướt đẫm nước mưa vì lúc nãy hắn phải quýnh quáng guồng chân theo cho kịp chủ nhân. Vừa nhác thấy cung tỳ định bưng trà vào hầu hạ, viên nội quan lắc đầu:

 

-Đứng ngoài hết cho ta. Khi nào quan gia cho gọi hẵng vào.

 

Nước đổ xuống mái ngói rào rào từng đợt, hết thưa lại dày, tiếng nào cũng đanh, cũng trong. Đôi giày gấm thêu rồng chầm chậm bước tới chiếc sập vàng để giữa điện. Vén tay áo lên một chút, Tư Thành khom lưng, nhấc bàn cờ đặt xuống sàn rồi ngồi lên bậu cửa cao, tự mình pha trà. Mùi nước đun sôi sung sục trong siêu đồng tan trong không khí ẩm ướt, mát lành. Tựa lưng vào khung cửa, ánh mắt chàng dừng lại trên những viên ngói âm dương xếp đè lên nhau san sát, dừng lại trên những hình khắc nổi long phượng, tiên nữ dâng hoa trên vì kèo, trên đầu những cây cột chống. Màu đỏ son, màu vàng kim, đâu đâu trong Cung thành cũng thấy tràn ngập hai sắc ấy, đẹp giữa ban ngày, đẹp giữa cả mưa đêm. Có điều, hình như chàng nhớ một khung trời khác, một điện Trường Xuân khác lớn hơn, bề thế hơn, đáng sợ hơn. Tự cười bản thân, Tư Thành rót nước vào ấm gốm, nhẹ lắc đầu. Nhân gian trong mắt một đứa trẻ lên bốn, lên năm, ngối xếp bằng trên nền đất, ngửa cổ nhìn trời, nhìn mái hiên cung điện đương nhiên phải khác lúc này.

 

Ngón tay đã chạm đến những viên mứt sen vàng tươi bọc trong lớp đường trắng xốp chỗ dày, chỗ mỏng rồi lại chần chừ. Xưa nay chàng vốn không phải người hảo ngọt, với loại mứt này cũng vậy, với món bánh đa kê kia cũng thế nhưng vẫn ăn như một thói quen.

 

 

 

“Anh em mình chia nhau nốt miếng bánh này đi!” – Bang Cơ từng thì thầm như vậy rồi ép vội ngón tay lên miệng, chau mày lại như muốn ngăn chàng lớn tiếng ngăn cản. Đôi mắt trong veo, hau háu nhìn lớp kê vàng tươi óng ánh nằm giữa hai miếng bánh đa giòn tan không khác gì ánh mắt của tụi trẻ con ngoài phố.

 

 

 

“Đào Biểu sẽ không đồng ý đâu. Sâu răng đấy! Mà anh ăn mấy miếng rồi? Để phần cho ông Biểu đi!”.

 

 

 

“Thế cũng được!” – Bang Cơ xị mặt, rõ ràng không chút hài lòng nhưng vẫn ngoan ngoãn vâng lời. – “Em toàn bắt nạt anh thôi. Anh là vua đấy nhé!”.

 

 

 

“Thế vua có sợ Hoàng thái hậu không?” – Chàng tròn mắt, “thơ ngây” hỏi lại.

 

 

 

Ngày trước, cứ thấy anh em Tư Thành lê la chơi trên nền đất, bày trò nghịch phá từ trèo cây, trèo nóc đình hóng gió đến bắt chim, buộc đuôi mèo… kiểu gì Đào Biểu cũng thở ngắn than dài, làu bàu mãi không thôi, thậm chí còn dọa sẽ mách với Tuyên Từ Hoàng thái hậu và Ngô Sung viên nữa. Chỉ khi giơ miếng bánh đa kê ra, tội lỗi nào của hai đứa trẻ cũng được bỏ qua hết.

 

Lúc ấy hình như chàng sáu tuổi. Qua năm sau cũng là lúc Đinh Liệt dạy cả hai đứa bé chơi cờ. Cũng tại bậu cửa này, đã có lúc Tư Thành mải ngắm mưa rơi từng dòng tí tách rồi ngủ lăn kềnh ra đấy vì Bang Cơ nghĩ nước đi lâu quá. Thậm chí ngủ đẫy mắt rồi tỉnh dậy, anh trai quý hóa vẫn đang khoanh tay trước ngực, chăm chú nhìn bàn cờ như thể chúng đắc tội gì.

 

 

 

“Nếu anh đi vào đây, nhất định em sẽ chống đỡ thế này. Nếu anh đi vào đây, sẽ rơi vào bẫy của em. Nhất định anh sẽ nghĩ ra nước đi khiến em tâm phục khẩu phục!” – Bang Cơ quả quyết, chau khít đôi mày lại. Dáng vẻ đó thực sự rất nghiêm túc và cũng rất buồn cười, lớn lên rồi chẳng mấy đổi thay. Trông ván cờ dang dở được niêm phong lại từ hồi mùa đông năm ngoái, Tư Thành chợt nhớ ra nước cờ cuối cùng hạ xuống là của Bang Cơ. Khẽ mỉm cười, chàng liền tiến mã.

 

 

 

“Nếu anh là quân tướng…”

 

 

 

“Anh là quân tướng thật mà. Nếu gì chứ!”

 

 

 

“Ờ, quên mất!” – Bang Cơ cười hì hì – “Vậy em sẽ là quân gì nhỉ? Mã? Tượng? À không, phải là xe mới đúng, tự do tự tại, tung hoàng khắp nơi”.

 

 

 

Hít vào một hơi, chàng trai nhặt quân tướng bên phía mình lên, ngắm nghía những đường khắc sắc sảo trên quân cờ tròn rồi đặt lại nó vào vị trí cũ. Chàng đợi, đợi rất lâu trên bậu cửa điện Trường Xuân. Không phải đợi trà ngấm, càng không đợi mưa tạnh. Là đợi một ván cờ tàn. Xoay chiếc chén nhỏ trong tay, nước trà nóng trôi xuống cổ họng làm Tư Thành cau mày, nhăn mặt:

 

-Thứ trà thế này mà có thể khiến anh thích đến vậy sao?

 

Hạt sen rất bùi. Mứt sen rất ngọt. Hoa sen rất thơm. Chỉ có tâm sen là đắng, đắng vô cùng. Hàng mi khép xuống khi chiếc chén rời khỏi tay. Khóe miệng mím lại của Hoàng đế hơi nhếch lên, đến bản thân ngài cũng chẳng rõ đó liệu có phải là một nụ cười. Ánh sáng đậu trên bờ vai trượt xuống chẳng hề níu kéo.

 

 

Nép mình sau cây cột gỗ, Đức Vượng xuỵt xoạt đám hoạn quan, cung nữ đang hì hục đứng đập muỗi sau lưng. Hắn chăm chú nhìn Hoàng đế, tự thấy chạnh lòng. Toàn bộ điền sản tích góp từ lương bổng bao năm làm hoạn quan của Đào Biểu bị Lệ Đức hầu tịch biên giờ đã được quan gia trả lại cho vợ con quan thị hậu phó chưởng. Người lại còn ban thêm năm mẫu ruộng công để thờ cúng. Đức Vượng còn nhớ những đêm đứng hầu ngoài điện Trường Xuân, hắn đã nói rất nhiều chuyện với người đàn ông hắn cho là vô cùng đáng kính ấy. Ông bảo mỗi người vào cung làm hoạn quan đều có những lý do riêng, những nỗi khổ riêng. Như ông tuy đã có gia đình nhưng vì nghèo túng quá nên mới đành làm cái việc ấy, vừa có một mái nhà che mưa che nắng, cơm ngày hai bữa lại thêm được chút tiền. Tuy chỉ là phận tôi đòi thấp kém nhưng nếu tìm được chủ nhân tử tế, thực ra là một may mắn, nếu đã may mắn thì phải cúc cung tận tụy cho đến cuối cùng.

 

Hồi hôm, quan Trung thư lệnh Nguyễn Trực xin ý chỉ về miếu hiệu cho Đại hành hoàng đế, quan gia không đáp, chỉ viết độc một chữ “nhân” lên giấy. Đức Vượng không biết nhiều chữ nhưng hắn chắc chắn con chữ quan gia hạ bút xuống có ý nghĩa gì. “Nhân” ấy là yêu thương con người.

Thân hình cao gầy đổ một bóng đen mờ trên hành lang lát những viên gạch hoa cúc dây mềm mại, tinh tế, thu gọn mình trong một vòng tròn. Hoàng đế cứ đứng vậy dưới hiên rất lâu, rất lâu, lâu đến nỗi lúc người tiến lại gần đám hoạn quan, cung nữ đã có kẻ to gan gà gật ngủ mất. Tư Thành đi lướt qua chúng, nói mà không ngoảnh lại:

 

-Đức Vượng, cắt cử người thường xuyên dọn dẹp điện Trường Xuân, tuyệt đối không được trễ nải.

 

Sự ưu ái Tư Thành dành cho cung điện ấy thực sự hơn hẳn những nơi khác, hơn hẳn những tòa kiến trúc xa hoa sau này chàng cho xây dựng lên. Có điều, không bao giờ chàng nghỉ lại tại điện Trường Xuân. Người thì nói Hoàng đế có cả trăm bông hoa xinh đẹp nở rộ khắp hậu cung, vốn không thiếu chốn để dừng bước. Người thì lại bảo có khi Hoàng đế ngại vận khí của điện Trường Xuân. Nơi ấy từng là nơi ở của Nhân Tông Tuyên hoàng đế, ngài ấy lại chết tức tưởi như vậy, thực sự là điềm không lành.

 

Tin đồn mãi chỉ là tin đồn. Thật cũng được. Không thật cũng được. Cung thành trở nên sinh động, thần bí chính bởi có những lời thất thiệt như thế. Nơi ấy trong mắt người đời có thể chứa kho báu của cả nhân gian, quyền uy tột đỉnh, sang trọng bậc nhất, cái gì cũng thừa thãi chỉ thiếu mỗi tình người chân thật mà thôi.

 

Kể ra nói thế cũng không hẳn sai đâu!

 

 

 

 

***

 

 

 

 

-Chị!

 

Tiếng gọi lanh lảnh như tiếng chim non cùng một vòng tay ôm siết qua eo khiến thiếu nữ giật nảy người. Hải Triều ngoảnh lại thầy gương mặt tươi tắn, rạng rỡ của Tô Mộc ló ra từ sau lưng mình. Mới sáng sớm đã mò đến giáo phường, ngoài ăn chực thì còn có thể là việc gì khác. Lườm con bé một cái, nàng thuận tay ấn cái mẹt đựng mấy chiếc đĩa gốm vẽ hình sơn thủy vào tay Tô Mộc, ra hiệu cho con bé đi theo mình.

 

-Con lạy cô ạ! – Chị nhà quê vội cởi chiếc nón quai thao xuống, chùi tay vào vạt áo tứ thân, khom lưng cúi chào – Cô lại ăn quà, vẫn như mọi khi chứ ạ?

 

Nàng gật đầu, vén váy ngồi xuống. Trông đôi mắt sáng rực như khoảnh trời sau trận mưa rào không vương dù chỉ một gợn mây của Tô Mộc, lòng Hải Triều nhẹ đi một chút. Hôm rồi quan gia bố cáo thiên hạ chuyện tang sự cho Đại hành hoàng đế, ai cũng bảo thế là phải. Còn nàng, nàng chỉ nghĩ cuối cùng Lê Tuấn đã có thể yên nghỉ được rồi. Người chết đi là coi như xong, chỉ có người còn đang sống mới thật là chật vật. Chuyện của người ấy với Tô Mộc, nếu có thể quên đi thì là tốt hay xấu đây?

 

-Cổ họng của chị thế nào rồi? – Cô gái cất lời, ánh mắt dán vào bàn tay của cô hàng thoăn thoắt bóc từng lớp bánh cuốn trắng muốt tráng thật mỏng như tờ giấy, xếp chồng lên nhau thành từng tập lớn, đặt trong cái thúng lót lá chuối xanh tươi.

 

Nghe đến đấy, Hải Triều chỉ nhún vai, thoải mái đón nhận ánh mắt ái ngại của chị bán hàng. Ấn ý trong lời của Tô Mộc, không phải nàng không hiểu. Chỉ có mình con bé, chị Kim Oanh và Hoàng Cầm biết nàng giả câm. Với hai đứa con gái của quan ngự y Dương Đán, Kim Oanh khéo miệng xin sự giúp đỡ, bày ra chuyện có tên công tử nhà giàu cứ đeo bám Hải Triều mãi không thôi, sợ vạ lây đến cả giáo phường nếu hai bên cứ ồn ào mãi. Còn sự thật chính là bởi nàng sợ cả Tuyên Từ Hoàng thái hậu và Lạng Sơn vương chú ý đến mình. Họa ở ngay mồm, chỉ cần nàng không nói nữa thì may ra tránh được.

 

Giờ bình tĩnh suy xét, đó chỉ là cách nảy ra trong lúc đâm đầu vào đường cụt. Ngay sau cái lần Nguyễn Thị Anh giữ nàng lại trong cung nói chuyện bóng gió xa xôi, đột nhiên quan phủ cho người đến xét sổ hộ khẩu, xuất thân của từng đào hát, kép đàn, viện cớ giáo phường thu nhận nhiều người, sợ có kẻ thân mang trọng tội đến lẩn trốn, phương hại đến an nguy của kinh thành. Cô Đào Thịnh đã rất cẩn thận che đậy thân phận cho Hải Triều nhưng cũng không dám chắc liệu Nguyễn Thái hậu có tra ra hay không. Vậy nên nàng với Kim Oanh mới đành bày ra cái kế ấy. May mắn ở chỗ sau đợt truy xét nọ, đột nhiên mọi việc lại yên ắng như không, tựa như vì kẻ giật dây đằng sau phải đối phó với người khác nguy hiểm hơn, không rảnh đâu xét đến một ả đào cỏn con giữa đất Đông Kinh. Kim Oanh sau lần ấy cứ luôn miệng bảo phúc đức nhà Hải Triều hãy còn dày lắm. Giờ sự việc yên ắng đã lâu, lời của Tô Mộc thực sự cũng là điều nàng đang tính đến.

 

-Chị từ trước đã rất kiệm lời rồi nhỉ? Em thực sự phục ai có thể ở bên cạnh chị đấy! – Tô Mộc tựa lưng vào cái chạn gỗ, lau lau mấy cái bát rồi sắp lên mâm đồng. Nhận ra cô gái đang nhìn mình chăm chăm, con bé lập tức cười hi hi – Hẳn là em rất giỏi rồi. Em cũng đang tự phục mình đây.

 

Lắc đầu tỏ ý không thèm đôi co với cô nàng, Hải Triều nghiêng đầu, cẩn thận chia số đồ ăn vào từng mâm cho đều nhau, xếp đặt đâu ra đấy, tỉ mỉ từng li từng tí. Nàng không biết nấu ăn, cũng chẳng phải nấu ăn bao giờ nhưng lại rất thích làm việc này. Bánh cuốn Thanh Đàm là thứ bánh chay, mặt bánh có màu trắng thanh tân, ăn cùng với rau sống nào húng, thơm, kinh giới, kèm thêm miếng chả quế một mặt vàng cam, mỡ màng thì còn gì bằng. Thả nổi mấy lát ớt chỉ thiên đỏ rực vào liễn nước mắm chua ngọt có ngâm cả một con cà cuống lớn, Hải Triều ngắm nghía thành quả của mình rồi sai con Lê, con Mận bưng mâm lên nhà trên. Thú ăn chơi của đất thượng kinh dù chỉ là thức quà sáng cũng cầu kì như thế, sống lâu rồi thành ra quen, quen thì khó bỏ.

 

Lúc ánh sáng mặt trời mới chạm vào đầu mái hiên liền nghe thấy tiếng chân bèn bẹt của đám thanh niên bước như chạy trên cầu thang, trên hành lang gỗ. Họ ngồi cả xuống những chiếc chiếu trải trong sảnh lớn, vui vẻ nhìn những mâm đồng được sắp xếp tươm tất. Nhanh nhẹn xách mấy thang thuốc tới đưa cho bà trùm, Tô Mộc liến thoắng:

 

-Thầy con bảo mang thuốc đến cho ông bà. Sáng sớm con đã quấy quả rồi, con về đây!

 

Nàng biết tỏng kiểu gì bà trùm Tuân cũng kéo tay bắt ngồi xuống, ăn xong mới cho về nên mới bày trò nói vậy. Nhìn ánh mắt long lanh tự đắc của Tô Mộc, Hải Triều mím chặt môi để không bật cười, cúi xuống cái bát của mình. Tấm bánh được bóc ra, cuộn lại giờ thả vào bát nước chấm vàng nâu trong veo lại nở bung như tấm lụa. Cảm giác mềm mại, mượt mà khi cắn nhẹ một miếng ve vuốt đầu lưỡi. Cái vị thanh thanh nổi trên nền nước mắm đủ chua, cay, mặn, ngọt trôi xuống cổ họng nhẹ tênh, êm như không. Chẳng thế mà thức quà nhà quê chỉ làm độc bằng gạo, rắc thêm hành phi vàng giòn rụm của đất Thanh Đàm mới nức tiếng khắp hang cùng ngõ hẻm của Đông Kinh này.

 

-Trời oi bức được một miếng bánh cuốn thật mát lòng mát dạ! – Ông Tuân lim dim mắt, buông lỏng đôi đũa son trên tay ra chiều hài lòng lắm.

 

-Con Phượng, con Oanh đâu? Sáng bảnh mắt ra mà còn ngủ trương xác phỏng?

 

Bà trùm đặt bát xuống, đôi mắt tinh tường, sắc bén đảo một vòng. Quẳng cái tăm trong miệng xuống đất, bà vuốt hai bên mép đỏ màu trầu thuốc, đứng bật dậy. Chẳng mấy chốc đã nghe vọng lại tiếng mấy miếng ván lót kèn kẹt, rền rĩ dưới thân hình đẫy đà của người phụ nữ. Người trong giáo phường ai cũng biết ngài Tuấn Ngọc sắp kết hôn. Kẻ tường tận hay chỉ nghe hơi nồi chõ cũng đều nhận ra chuyện này ảnh hưởng đến Đại Kiều thế nào. Nhưng ấy là việc riêng, chẳng ai dám bàn ra tán vào công khai. “Chẳng ai” đó tiếc là không bao gồm bà trùm Tuân. Trong cái nhà này, bà là người kị nhất với chuyện yêu đương, cứ cô đào thất tình rồi khóc lóc sầu thảm, kiểu gì cũng được nghe bà đay đi nghiến lại duy nhất một bài ca có phần cay nghiệt.

 

-Mợ cũng thật là… Tụi con lớn rồi, cũng hiểu biết cả, mợ không cần cứ hở ra lại nói này nói nọ! – Cô Phượng xị mặt xuống, lỉnh lỉnh ra phía cửa khi thấy người đàn bà bước vào.

 

-Vâng, các chị lớn! – Bà ngoa ngoắt nói – Bằng tuổi các chị người ta một nách hai con rồi đấy chứ chả phải để tôi khổ thế này đâu. Con Oanh, mày có xuống nhà ngay cho bà không thì bảo đây!

 

Nụ cười gượng nở ra trên đôi môi nhạt màu son của Kim Oanh. Cái lược sừng Hải Triều định đưa cho chị để chải đầu, vấn tóc bị những ngón tay múp míp của người đàn bà giành lấy. Đưa từng nhát lược thô bạo, kéo giật suối tóc dài đến thắt lưng của cô đào ra sau để chải bới, bà nói, mặc xác vẻ mặt ngán ngẩm của đào Phượng, mặc xác vẻ mặt nhăn nhó vì đau của Kim Oanh:

 

-Giờ chúng mày còn trẻ, nghĩ yêu mấy lị được yêu là nhất, không thì chết ngay, chết luôn. Bà truyền đới báo danh cho mà biết, không có ăn thì mới chết nghe chửa. Có làm thì ấm vào thân, tuy không mang lại cảm giác à thì tim đập thình thịch rồi thì mặt mũi đỏ bừng nhưng mà no cái bụng. Các cụ đã bảo rồi, nhất nghệ tinh nhất thân vinh. Ai nói gì mặc ai, chúng mày có nghề có nghiệp, không ăn không ăn hỏng của ai cái gì, so ra còn hơn chán vạn đám cậu ấm cô chiêu ăn trên ngồi trốc. Thay vì nằm đấy sầu thảm, mày đứng lên cho bà xem, đứng lên thì muốn làm gì mới làm được chứ!

 

Bà nói, nói một hồi không cần nghỉ lấy hơi. Ngắm nghía Kim Oanh cúi gằm mặt vo vo dải thắt lưng màu điều, bà Tuân chẹp miệng:

 

-Tôi thời chẳng hiểu các anh các chị nghĩ cái gì trong đầu. Yêu mới chả đương. Rặt toàn ăn cho lắm vào rồi rửng mỡ. Như bà đây lấy ông chúng mày cũng là thầy mẹ đặt đâu con ngồi đấy, có biết mặt nhau đâu. Ấy thế mà sống với lão già ấy đến tận bây giờ, có với nhau bốn mặt con. Thôi thì các anh các chị tài hoa, giao du nhiều, tôi là hạng đàn bà tầm thường chỉ biết quanh quẩn với bếp núc, nhà cửa, tôi bảo thế các chị nghe thì nghe.

 

Đón lấy miếng trầu têm từ tay cô đào, gương mặt bè bè của người đàn bà giờ mới nở một nụ cười phúc hậu. Oanh khẽ khụt khịt mũi, xoa đầu Hải Triều rồi ngước lên:

 

-Con vẫn không hiểu nổi sao người như bà có thể lấy được ông.

 

Vuốt chùm chìa khóa nào cái lớn cái bé đeo trên sợi xà tích bên hông, mỗi bước đi là một chuỗi những âm thanh leng keng đường bệ, uy quyền, người đàn bà chầm chậm nhai miếng trầu, lim dim mắt, gật gù:

 

-Ông chúng mày chả được cái gì ngoài cái đức sợ vợ, biết nhất vợ nhì giời. Thế là đủ. Chứ không thì sao bà dám theo một lão quản lý cả một giáo phường mà con nào con nấy cứ phây phây ra như thế này hửm? Không tán hươu tán vượn nữa, đứng lên cả đi, chẳng còn sớm sủa gì nữa đâu.

 

Cánh cửa gỗ mới kèn kẹt đóng lại, Phượng quệt vôi lên lá trầu, nói mà chẳng ngẩng lên:

 

-Lúc mợ chửi con mà được một nửa dịu dàng như thế thì thật tốt! Mà con nhớ hồi xưa mợ từng bảo chị Oanh với đại nhân Tuấn Ngọc rất đẹp đôi cơ mà. Mợ đã biết có ngày này sao không cản luôn từ lúc ấy?

 

-Tôi cản các chị có nghe không? – Bà dí ngón tay lên trán Phượng, hẩy nàng một cái ra sau, cong vành môi lên đanh đá – Nói như ông trùm, giữ chúng mày quá cũng không hay. Biết là đau nhưng có tí kí ức tốt lành cũng đâu phải là xấu. Mà tao bảo mày đứng lên cơ mà. Con cái Huyên xong việc thì đi lễ chùa được rồi đấy. Nhìn mày tao nẫu lắm. Ông giời cũng thật là…

 

-Sao mợ không bảo thẳng vì Huyên như thế nên cậu mợ mất một khoản thu, mất đi tí danh tiếng! – Phượng ra đến cửa rồi vẫn cố ngoái lại nói đế vào một câu.

 

-Lại chả. Nó là cục vàng, cục bạc của giáo phường Khán Xuân này chứ có phải như cái thứ mày chỉ là cục đất đâu cháu.

 

-Em thấy chưa. Mợ ruột của chị đấy!

 

Cô Phượng khoác vai Hải Triều, méo mặt cười đau khổ. Đi hết hành lang, nàng liền buông thiếu nữ ra, chạy về phía đám đào hát đang túm tụm trên sân vườn. Nhìn mỗi người dang tay ôm lấy một cái chum sành rỗng, thò cổ vào trong tự hát tự nghe, nụ cười trên môi thiếu nữ nhạt đi. Thanh âm vang vang của những khúc ca buổi sớm hòa trong tiếng cười lanh lảnh, trong veo như chuông ngân khiến nàng có chút… chạnh lòng. Chắc vậy. Đúng là con cá mất là con cá to, đến khi không được hát nữa mới ngộ ra điều ấy có ý nghĩa với mình thế nào.

 

-Chị đến Đông Kiều tự hả? Cho em đi với! – Tô Mộc kéo tay Hải Triều, lôi đi trên con đường trải bóng mát của những hàng dâu da xoan xanh mượt. Thỉnh thoảng con bé tiện tay hái một quả, chùi lên áo rồi bỏ vào miệng. Chỉ đến khi vì chua quá mà mặt mũi nhăm nhúm hết cả cô nàng mới chịu nhổ ra làm Hải Triều bật cười. Từng chùm dâu da xoan có quả mới ương ương vàng, có quả đã chín đỏ trĩu xuống nổi bật trên nền lá xanh non, trông thôi cũng đã đủ vui mắt, đáng yêu hệt như Dương Tô Mộc vậy.

 

-Lần này em đi lễ Phật để xin cho chị Bách Diệp mẹ tròn con vuông. – Cô gái cười, đuôi mắt cong xuống – Khoảng hai tuần nữa chị ấy sinh. Em lại có cháu gọi bằng dì rồi. Chị Bách Diệp hơn chị có bốn tuổi thôi. Huyên à, cũng nên nghĩ đến việc kết hôn rồi đấy. Sinh mấy đứa bé đáng yêu để em trông cho. Chơi với Địa Du mãi chán lắm rồi.

 

Nhìn vẻ háo hức thành thực vẫn còn chứa nhiều sự ngây thơ của Tô Mộc, Hải Triều phải cố sức nuốt trở vào trong câu hỏi đã đến đầu môi. Nói đến lấy chồng, chẳng phải cô nàng mười tám tuổi kia cũng nên suy nghĩ nghiêm túc sao? Cuộc sống vui vẻ, đơn thuần, yên ả nàng muốn lắm chứ. Tiếc rằng, Hải Triều chưa từng nghĩ xa đến vậy, cũng chưa từng nghĩ mình có thể sống lâu đến thế.

 

-Ầy, cái miệng của em… nói gì không phải, chị bỏ qua nhé! – Sực nhớ ra mình lỡ lời, Tô Mộc so vai, nhăn mặt ngại ngùng. Đứng trước mặt đào hát luyên thuyên những chuyện gia đình, chồng con đúng là vô duyên hết sức. Cái tật nói trước khi nghĩ Lê Tuấn bảo sẽ có ngày rước họa vào thân cấm có sai mà.

 

Tròn mắt nhìn vẻ hối lỗi kia, cuối cùng mới hiểu ra ý tứ của cô nàng, Hải Triều cười xòa, bước xuống cây cầu đá. Nói chuyện của người bằng vẻ giản đơn, vô ưu vô lo không phải bởi vô tâm, cũng chẳng phải vì thấy mình là bất hạnh nhất, còn ai ai trên đời cũng đều sung sướng. Người nào cũng có những dự định riêng, cũng có những khoảng tối không thể để người ngoài trông thấy, Tô Mộc chắc chắn không phải ngoại lệ. Những lời nói nhẹ tênh kia cuối cùng để gió cuốn đi thôi.

 

-Huyên, chị nhìn gì vậy?

 

Cái giật giật tay áo của Tô Mộc khiến nàng sực tỉnh, chợt nhận ra hai chị em vẫn đang đứng giữa cây cầu bắc qua sông Tô. Vị công tử mặc áo trắng lướt qua khi nãy làm Hải Triều chợt nhớ đến Gia vương. À không, giờ người ấy đã trở thành Hoàng đế rồi. Việc của cha nàng tưởng như quá chín phần đã rơi vào ngõ cụt, cuối cùng xem ra vẫn còn chừa lại một đường. Vị Sung viên sống ở chùa Huy Văn cùng con trai của người ấy mang ơn cha nàng và tam phu nhân, nay người con trai kia đã trở thành vua của Đại Việt. Đình thượng hầu và Thiếu bảo Nguyễn Xí không dưới ba lần nhắc đi nhắc lại với Hải Triều rằng để lật lại vụ án Lệ Chi Viên, dưới gầm trời này, chỉ Hoàng đế là có thể. Đế vị ba lần đổi chủ, cuối cùng cũng đến tay người khả quan nhất.

 

Nàng với chủ nhân Cung thành nói có giao tình sâu đậm thì quá nực cười. Nàng cũng chẳng ngây thơ đến nỗi tin chắc chắn rằng người ta chịu ơn cha mình thì giờ sẽ phải sẵn lòng báo đáp. Huyết án Lệ Chi Viên ồn ào thế nào, dính dáng đến bao nhiêu người, Hải Triều biết đủ để xác định rõ: nếu không được lợi, chẳng ai trên cõi đời này lại muốn dính vào dù cho người đó có là Hoàng đế đi nữa. Nhưng ít nhất, nàng cảm thấy mình có thể thử, như trước đây nàng từng muốn một lần mặt đối mặt với Tuyên Từ Hoàng thái hậu. Huống hồ mấy ngày trước, Thiếu bảo Nguyễn Xí từng có lời rằng:

 

“Ta đã bàn với Đình thượng hầu và phu nhân Minh Nguyệt, muốn nhận cháu làm con gái nuôi. Nói thế nào ta với Ức Trai tiên sinh là chỗ đồng liêu, tình cảm cũng gọi là sâu đậm. Những việc khác ta khó giúp cháu nhưng trả lại cho cháu thân phận của một thiên kim tiểu thư thì ta có thể. Hơn nữa… giờ Gia vương điện hạ đã đăng cơ, nếu cháu vẫn muốn lật lại vụ án tại Trại vải thì phải có một danh phận tương xứng!”.

 

Lời đề nghị ấy thực sự vượt quá sự kì vọng của Nguyễn Hải Triều nhưng nàng vẫn xin hai vị đại nhân cho mình thời gian suy nghĩ. Vì cần thời gian nên nàng mới đến Đông Kiều tự, mượn nơi cửa Phật để tĩnh tâm nghĩ chuyện thế tục hồng trần của mình. Vỗ vỗ lên bàn tay Tô Mộc, nàng nhẹ mỉm cười, gương mặt trong ánh sáng rực rỡ lộ vẻ ôn hòa, trầm tĩnh dịu dàng rất khó miêu tả bằng lời.

 

Phía Đông của kinh thành có Đông Hoa môn, có đền Bạch Mã, có các phường nghề số một Đại Việt quanh năm ồn ào, sầm uất người qua kẻ lại bán bán buôn buôn. Giáo phường Khán Xuân cũng nằm trong khu ấy, đi bộ từ nhà đến Đông Kiều tự rất gần, thế nên Hải Triều mới gửi bài vị của gia quyến trên chùa để quanh năm có người hương khói, nhang đèn, không lo thầy mẹ phải vất vưởng. Đông Kiều là tên chữ. Số là dân ở đây góp tiền dựng một cây cầu đá xanh bắc qua sông, chẳng đặt tên gì mà cứ thuận miệng gọi là cầu Đông. Một đồn mười, mười đồn trăm, chẳng biết từ lúc nào cả chợ, cả chùa đều có tên nôm là Cầu Đông[20] như thế. Bước chân qua tam quan là bốn cột trụ lớn, trên đỉnh đặt hình phượng hoàng xếp cánh hướng lên trời nom như cây bút vừa lúc điểm một tiếng chuông ngân. Thanh âm trầm vang xóa mờ đi những ồn ào mặc cả mặc lẽ phàm trần, để lại cái tịch mịch lọt thỏm trong những náo nhiệt đời thường dân dã. Từ xưa đã có câu: Cầu Đông vang tiếng chợ chùa là vì lẽ ấy.

 

Dâng hương cúng Phật chỉ là một việc, Hải Triều nhẩm tính tháng sau là tháng cô hồn, lại đến ngày rằm xá tội vong nhân, nàng muốn có lời trước để xin các thầy chùa làm cái lễ phả độ gia tiên cho nhà họ Nguyễn. Đón lấy hai bát nước vối từ tay bà vãi, nàng đưa cho Tô Mộc một bát, còn mình lặng lẽ nhìn những cây na, cây bòng trong vườn chùa, để suy nghĩ xa xôi về ngày rằm tháng tám len vào những toan tính của bản thân mình.

 

-A di đà Phật! – Sư cụ chống gậy trúc bước lại, hàng lông mày đã điểm bạc xuôi theo nụ cười – Thí chủ lại đến dâng hương hoa cúng Phật sao?

 

Hải Triều đứng dậy, chắp tay chào. Lần lần tràng hạt gỗ ánh lên nước nâu bóng trong tay, nhà tu hành nhìn thiếu nữ rồi chầm chậm cất lời, giọng như nước chảy len qua kẽ đá, không nhanh, không chậm.

 

-Thí chủ đến chùa Cầu Đông đã lâu, một lòng hướng Phật. Hôm nay ta có lời này, có gì không phải mong thí chủ thứ cho. Ta thấy sắp tới cuộc đời thí chủ sẽ có biến cố lớn. Đời người thì không tránh khỏi những chuyện đổi thay, nhưng biến cố này ứng lên thí chủ khác hẳn người thường.

 

Chăm chú nhìn người đàn ông già cả trước mặt, nàng lắng tai nghe nhưng sự ngạc nhiên lóe lên trong đáy mắt nhanh chóng tắt ngấm. Với dự tính nàng đã quyết, những lời này của sư cụ hẳn nhiên đúng cả. Tô Mộc nghe đến đấy không đè được sự háo hức trong lòng xuống, hết nhìn Hải Triều lại nhìn thầy chùa, đánh bạo nói:

 

-A di đà Phật, vậy cụ có thể cho chị con biết, biến cố đó là tốt hay xấu không?

 

-Thí chủ có muốn biết không? – Ông cụ mỉm cười, đôi mắt mờ chăm chăm nhìn những biểu cảm như gợn nước lăn tăn rồi mất hút trên mặt hồ của thiếu nữ, không chút ngạc nhiên khi nàng lắc đầu. – “Xấu”, “tốt” không phải điều có thể nói ngay. Ta chỉ có lời khuyên này cho thí chủ: Đời vạn biến, tâm bất biến[21] thì không khổ. Chuyện trong nhân gian phức tạp đến đâu cũng như lẽ nắng mưa ở đời. Tự nhiên đến, tự nhiên đi, trong nhân có quả, trong quả tất có nhân, vạn đời vạn kiếp vận hành. Nhìn thấu cái biến đổi đương nhiên ấy thì để lòng vui buồn theo lẽ trời mưa, nắng làm gì.

 

Lắc lắc cái đầu đã ong ong lên, Tô Mộc ngáo ngơ hết nhìn cô gái đứng cạnh lại nhìn ông cụ đầu trọc lốc, mặc áo nâu sồng. Trông điệu bộ ấy, sư cụ chỉ cười trìu mến:

 

-Đức Phật tọa thiền dưới gốc cây bồ đề mà thấu tỏ cả nhân gian. Thí chủ theo Phật thì là Phật tử, là con của Phật, sẽ có ngày giác ngộ được ít nhiều điều tinh diệu trong đó.

 

Cúi thấp người tỏ ý biết ơn, hai tay Hải Triêu bất giác xoắn chặt lấy dải dây lưng nhuộm thâm của mình. Nhẹ nhàng thở ra, những ngón tay đặt lên tràng hạt dừng lại trong chốc lát, sư cụ cân nhắc rồi nói thêm vào:

 

-Bản tính thí chủ như nước, hiểu biết cũng không ít, những điều ta nói chắc đều đã tường tận cả rồi. Có điều ở đời, nhìn thấu lẽ biến đổi nông sâu khó hơn, hay học cách chấp nhận, học cách buông xả cảm xúc của bản thân trước lẽ tự nhiên vô thường khó hơn đây?

 

 

 

 

***

 

 

 

 

Hàng mi khẽ rung lên theo nụ cười của người phụ nữ. Vỗ nhẹ bàn tay xương xương lên đôi tay đang xoa bóp bờ vai cho mình, Ngọc Dao ngoái lại, dịu dàng:

 

-Quan gia cả ngày bận bịu rồi mà vẫn còn sức khỏe làm việc này sao?

 

-Mẹ đừng coi thường con thế chứ! – Tư Thành cười tươi đáp lại, vén vạt áo bào rồi ngồi xếp bằng xuống chiếc sập gỗ, ngay bên cạnh Quang Thục Hoàng thái hậu.

 

-Mẹ thấy mới có hơn nửa tháng nhận đế vị mà con gầy đi rồi đấy. Giờ không còn như lúc trước, phải biết tự chăm lo cho mình, hiểu không? Nếu không tự lo được thì tốt nhất…

 

-Là lập hậu cung. Con biết rồi, biết rồi mà! – Chàng đáp một lèo, ê a, nhạt nhẽo như trẻ con trả bài thầy đồ. – Thực sự mẹ nghĩ kết hôn, lấy một cô gái về làm dâu hoàng thất thì sẽ tốt sao?

 

Nhìn ánh mắt tinh quái của chàng trai trẻ, Ngọc Dao không khó khăn gì để nhận ra ẩn ý bóng gió xa xôi trong lời của Tư Thành. Gạt bàn tay đang đấm bóp cho mình ra một bên, nàng nhìn trực diện vào nụ cười cợt nhả trên môi người thanh niên, nghiêm khắc:

 

-Thành, mẹ không nghĩ đây là chuyện có thể đùa được. Hôn nhân ở ngoài dân gian đúng là chuyện tốt. Hôn nhân trong cung đình chỉ toàn chính trị mà thôi. Con đâu phải không hiểu chuyện liên hôn là để củng cố quyền lực của đế vương, để trả nghĩa hoặc trói buộc quần thần. Lấy vợ, sinh con là nghĩa vụ của Hoàng đế với Thái miếu, với dân chúng. Nếu đã vậy, chọn người mình biết rõ vẫn tốt hơn.

 

Ngả người trên chiếc gối gấm, Tư Thành mải mê bóc nhãn đặt vào chiếc đĩa men ngọc rồi đưa tới trước mặt Ngọc Dao. Dáng vẻ của chàng thực sự làm người ngoài hoài nghi không biết từ nãy đến giờ, có lời nào Hoàng thái hậu nói lọt vào tai thiếu đế hay không. Cần mẫn lau những ngón tay vào chiếc khăn dấp nước Thụy An dâng lên, chàng nói:

 

-Ý mẹ là…

 

-Trần đời chưa thấy ai có quyền chọn vợ lại đẩy hết cho mẹ đẻ như con! – Ngọc Dao cau mày, coi như bất lực trước vẻ phớt đời của con trai. – Danh sách con gái nhà thế gia được tiến cử mẹ đã xem kĩ. Con muốn sách phong cho bao nhiêu người, mẹ không quản được. Ngôi vị Hoàng hậu, các chức phi đều là những tước vị lớn, nắm nhiều quyền lực, nên để cho con gái của những người con hiểu rõ ngồi vào. Mẹ thấy ái nữ của Thiếu bảo Nguyễn Xí rất ổn, cháu gái của Thiếu úy Lê Lăng cũng không tệ…

 

-Mẹ không thấy nếu làm vậy sẽ giống hệt năm xưa khi hai vị đại thần phụ chính, quyền khuynh thiên hạ là Lê Sát, Lê Ngân đưa con gái mình vào hậu cung của Thái Tông hoàng đế, đặt lên những ngôi vị vinh hiển nhất sao? Lúc đó quyền lực, sức ảnh hưởng của công thần còn bành trướng đến thế nào nữa? – Tư Thành uể oải ngồi dậy, nụ cười đã tắt trên môi từ lúc nào. Đặt tay lên đầu gối, chàng suy nghĩ một lúc rồi mới nói tiếp – Tuy rằng Thiếu bảo Nguyễn Xí không phải người như vậy nhưng con không muốn vì chuyện đàn bà cỏn con mà quân – thần trở mặt, càng không muốn củng cố quyền lực của mình như thế. Ơn nghĩa có thể trả theo cách khác, không nhất thiết cứ phải trở thành hậu phi, ăn đời ở kiếp với nhau.

 

Liếc nhìn bàn tay đã siết chặt của con trai, Ngọc Dao chầm chậm phe phẩy chiếc quạt, ra hiệu cho Thụy An rót một chén nước lớn. Nàng biết Tư Thành đã có dự định riêng, đẩy đưa mãi cuối cùng chỉ để kiếm chuyện với nàng, buộc nàng đồng ý trở thành hậu thuẫn cho nó trong cuộc chiến ngấm ngầm này mà thôi.

 

Xỏ chân vào đôi hia rồng, chàng thở dài, nói:

 

-Nói là chọn lựa, thực ra cả con, cả mẹ đều chưa từng có quyền chọn thê thiếp, chọn con dâu. Đều có người khác sắp xếp cả rồi, chỉ là bước từ con đường vạch sẵn này sang con đường vạch sẵn khác. Như trò chơi của người ta vậy.

 

-Mẹ mong con có thể chọn được người mình thực sự yêu thương, thực sự sủng ái mà không phải đắn đo, tính toán điều gì. Như phụ hoàng con từng rất yêu Dương thị và Tuyên Từ Hoàng thái hậu vậy. – Buông con dao chuôi vàng dùng để dọc lá trầu vào chiếc cơi son, nàng ngẩng lên. Đôi mắt nâu đen trong trẻo chỉ chứa duy nhất sự chân thành của người làm mẹ. Nơi đáy mắt phản chiếu lại nụ cười nhạt không rõ tán đồng, biết ơn hay đang châm biếm, mỉa mai của Tư Thành.

 

Níu lấy bàn tay dưới áo hoàng bào bằng gấm vàng dệt ẩn những tầng mây, nàng cau mày, mím môi một thoáng rồi mới nói:

 

-Con lên ngôi khác với phụ hoàng, khác với Nhân Tông Tuyên hoàng đế. Con không phải đứa bé được người ta đặt lên ngai rồng nhưng cũng kẹp giữa rất nhiều phe phái, rất nhiều hỗn loạn, tranh giành. Tuổi đời là lợi thế và cũng là điểm yếu chết người. Trẻ con không hiểu rõ chuyện nông sâu thì không chống đối, bảo một là một, nói hai là hai. Còn với con… mẹ không sợ điều gì ngoài bồng bột tuổi trẻ, ngựa non háu đá. Người nên thân thì thân, kẻ cần sơ thì sơ. Phải biết giữ mình, con hiểu không?

 

Quỳ xuống nền đất, đôi lông mày đậm dãn ra khi chàng ngước nhìn, vỗ nhẹ lên bàn tay Ngọc Dao tỏ ý trấn an:

 

-Con hiểu. Gương Lệ Đức hầu còn đó, con tuyệt đối không dại dột đối đầu với bất kì phe phái nào lúc này đâu. Con đã hạ chiếu bố cáo thiên hạ lấy ngày sinh của mình là Sùng Thiên thánh tiết. Tháng sau con tròn mười chín tuổi, nhất định sẽ mang một nàng dâu hoàn mỹ đến gặp mẹ.

 

-Con thích là được! – Nàng phì cười khi thấy vẻ mặt hứa hẹn pha lẫn háo hức của Tư Thành. Những trò bất ngờ là điều đứa con này của nàng rất giỏi, việc của nàng chỉ là chờ đợi mà thôi.

 

-Đương nhiên là con phải thích rồi! Về sau con muốn xin mẹ đích thân dạy bảo phi tần, quản lý hậu cung để những cô nàng ấy biết thân biết phận mà không gây ra chuyện thị phi, rắc rối nữa kia! – Chàng nháy mắt rồi chuyển qua giọng trầm trầm, nghiêm túc hơn – Từ trước đến nay chỉ có việc nhận đế vị là con không bàn trước với mẹ. Lên ngôi rồi buộc mẹ quay lại Cung thành, con thực sự xin lỗi!

 

Siết chặt những ngón tay mình quanh bàn tay con trai, Ngọc Dao hơi cúi đầu, hàng mi rủ xuống che đi đôi mắt loang một làn nước mỏng. Từng lời, từng lời nói ra tuy không dài nhưng như một dòng nước ấm len lỏi trong tim, trong thoáng chốc làm những sợ hãi, kinh hoàng, lo lắng chưa từng nguôi ngoai suốt gần hai mươi năm qua hóa thành bọt bể.

 

-Mẹ từng thề cả đời này sẽ không quay lại đây nữa. Nhưng đúng là người tính không bằng trời tính. Đã vậy thì cứ thuận theo tự nhiên đi. Thành, con lớn rồi, về sau còn phải quyết định vận mệnh của giang sơn xã tắc. Chỉ cần con chắc chắn thì mọi việc cứ làm theo ý con. Mẹ chỉ muốn nhắc chúng ta mang ơn cố Nhập nội hành khiển Nguyễn Trãi và bà Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ. Lúc trước lực bất tòng tâm đã đành, giờ nhất định phải nghĩ cách báo đền cho xứng đáng, đừng để mang tiếng với người, với mình.

 

-Nhi thần hiểu rõ ý chỉ của mẫu hậu. Chuyện này người cứ để con lo. Giờ nhi thần xin cáo lui vì còn có việc phải nghị sự ở Kinh Diên. Mẫu hậu bảo trọng ngọc thể! – Chàng cúi đầu chào rồi đứng dậy. Lưu lại trong mắt người phụ nữ là một dáng lưng thẳng, đường hoàng, một phong thái ung dung nhàn hạ nhưng mỗi cử chỉ nhỏ đều toát ra hơi lạnh, toát ra cái ẩn tình đến người làm mẹ cũng không dò đoán hết.

 

Đôi hia rồng vừa bước qua ngưỡng cửa điện Thừa Hoa, Tư Thành ngoảnh nhìn xung quanh rồi nói với Đức Vượng:

 

-Ngươi bảo bọn hoạn quan, cung tỳ hầu hạ Hoàng thái hậu bỏ bớt mấy cây hoa lan hương rất nồng này đi, thay bằng hoa cúc, hoa nhài là được rồi. Nói đến chuyện lập phi của trẫm, ngươi nghĩ sao?

 

Ngước nhìn lên rồi vội vàng cụp ngay mắt xuống, tên hoạn quan mím môi, suy nghĩ rất lâu. Tuy mới hầu hạ Hoàng đế nhưng hắn biết một khi ngài đã hỏi tức là muốn nghe câu trả lời thay vì những lời đưa đẩy đại loại như “thần không biết”, “thần không dám”… Đó cũng là một điều khó nghĩ bởi Đức Vượng không đoán trước được tâm tư của Tư Thành. Hắn còn cảm thấy giả như mình có nói trúng cũng chưa chắc đổi được sự hài lòng của ngài ấy. Ậm ừ một hồi, tên hoạn quan đành thật thà nói hết suy nghĩ nảy ra trong đầu mấy hôm nay:

 

-Thần chỉ nghĩ đến duy nhất vị tiểu thư họ Phùng ở cung tiềm để thôi ạ. Tiểu thư ấy từng hầu hạ quan gia, được quan gia ưu ái, so với người mới thì có nhiều điểm hơn hẳn.

 

-Cũng biết tính toán cho bản thân mình rồi đấy! – Chàng cất tiếng cười, chắp tay sau lưng, ánh mắt quét sang bên khiến Đức Vượng hoảng hốt – Thục Giang tiến cung, với quan hệ từng có với ngươi, lại thêm lời tiến cử này thì sao có thể không ưu ái, không mang ơn, nhỉ?

 

-Thần không dám, ngàn lần vạn lần không dám! – Tên hoạn quan run rẩy phủ phục cạnh chân Tư Thành, lắc đầu quầy quậy – Thần nguyện cả đời này hầu hạ quan gia, trung thành với quan gia, tuyệt đối không có ý khác, tuyệt đối không đứng hai chân hai thuyền.

 

-Trẫm đã làm gì ngươi đâu mà phải cuống lên như vậy? – Chàng nhướn hàng lông mày, bông đùa – Những lời thề thốt kia là tự ngươi nói ra. Đã nói ra rồi thì cố mà nghĩ cách thực hiện. Đứng dậy đi. Lúc nãy ngươi bẩm với trẫm là Thừa chỉ viện Hàn Lâm Nguyễn Cư Đạo đang đợi trẫm ở tòa Kinh Diên đúng không?

 

 

 

 

Chút chần chừ mờ nhạt tan biến rất nhanh khi Tư Thành bước vào bên trong tòa nhà bảy gian, nhận cái vái lạy theo đúng lễ nghi của người đàn ông. Phẩy tay ra hiệu cho Cư Đạo có thể ngồi, Hoàng đế nhẹ cất lời:

 

-Kinh Diên mới chớp mắt đã thay đổi rồi. Chúng ta cũng thế.

 

-Tệ chức vì có quan gia ưu ái mà được sung vào làm quan tại Kinh Diên, trong lòng vô cùng cảm kích. – Người đàn ông đứng dậy, chắp tay, cúi đầu.

 

Buông cuốn sách trên tay xuống, Tư Thành nhìn lên:

 

-Trẫm với khanh bên ngoài là bạn vong niên, giờ là vua tôi. Cái ưu ái kia chính bởi trẫm trọng tài học của quan Thừa chỉ. Quan trường lắm lời bàn ra tán vào, mối quan hệ lúc trước của trẫm và khanh chắc chắn sẽ mang đến không ít phiền toái. Chỉ cần khanh dốc sức tỏ rõ năng lực thì trẫm dùng được người tài mà khanh cũng được vinh hiển. Trong triều, văn thần có tiếng nói thực sự đâu được mấy ai.

 

Luận về học vấn, những bậc danh nho như Chuyết Am tiên sinh, Cúc Pha tiên sinh đều là những lão thần triều trước, người thì quy ẩn, người đã qua đời. Những kẻ có đôi chút tiếng tăm lúc này tính ra chỉ có Lương Như Hộc, Nguyễn Bá Ký, Nguyễn Trực, Nguyễn Như Đổ mà thôi. Xét người tuổi còn trẻ nhưng chưa được trọng dụng thì phải kể đến Nguyễn Cư Đạo. Lúc Tư Thành còn là phiên vương, Cư Đạo chưa có tiếng tăm gì, tuổi đời tuy hơn kém nhau hai mươi năm nhưng nói chuyện, luận bàn có nhiều điểm dễ dàng, thuận tiện hơn hẳn những người khác. Mối quan hệ này có lẽ bắt nguồn từ sự cảm phục của Hoàng đế khi năm xưa, dưới thời Nhân Tông, vì đàn hặc đám quan lại ở Viện chính sự mà Nguyễn Cư Đạo bị giáng xuống làm trực giảng tại Quốc Tử Giám.

 

-Khanh thấy kẻ muốn ra làm quan có mấy đường để đi?

 

Hoàng đế đột ngột chuyển đề tài từ chỗ thảo luận quy chế của tổ tiên sang chuyện triều chính khiến người đàn ông trẻ có đôi phần lúng túng. Gập cuốn sách đang giảng dở cho vua nghe lại, Cư Đạo suy nghĩ một hồi rồi mới nói:

 

-Theo thần thì có ba đường. Lúc mới lập nước thì thông qua quân công, thông qua công trạng khai quốc, phò tá minh chủ mà định phẩm trật. Sau là qua tập ấm, đề bạt. Đường thứ ba mới đến khoa cử luận học vấn.

 

-Ba đường ấy, đường nào nên theo? – Chàng gật đầu tán đồng rồi hỏi tiếp ngay, đôi mắt đen ánh lên những tia nhìn sáng rực dừng lại trên gương mặt điềm đạm, cẩn trọng của quan Hành khiển.

 

-Thần nghĩ nên theo cả bởi mỗi đường lại có những ưu điểm riêng. – Cự Đạo đáp, đón lấy ánh mắt thăm dò của Hoàng đế rồi tiếp lời – Đó là thần nhìn từ khía cạnh của kẻ làm thần tử. Quan gia lại nhìn từ vị trí của quân vương, ắt sẽ thấy những điều sâu xa hơn.

 

Đặt chén trà xuống bàn, Tư Thành mỉm cười thoải mái đáp lại, không ngạc nhiên khi một văn thần như Nguyễn Cư Đạo lại tỏ thái độ trung dung như vậy. Cũng biết thời thế lắm, biết rõ không thể dựa vào sức của mình để đối diện với bên võ giai trùng trùng những trọng thần quyền lực không nhỏ, có người còn có công tôn phò thiếu đế đăng cơ, cha con đều đang làm quan lớn trong triều.

 

-Một quốc gia mà việc thăng tiến, bổ dụng quan lại chỉ dựa vào quân công thì vua chưa chắc đã hiền khi đẩy con dân, xã tắc vào vòng chiến loạn, binh đao. Các bậc tiên đế, tiên vương Nam chinh Bắc chiến mong đổi lấy thái bình thịnh trị. Tập ấm, tiến cử xưa nay cũng kén được nhiều người tài, kế thừa được tinh hoa họ tộc, điểm này cả trẫm và khanh đều phải thừa nhận. Nhưng không thể bỏ qua việc có những kẻ vô tri vô năng nhờ tổ tiên có công mà được dự vào việc triều chính, gây ra rối loạn. – Chàng thong dong cất lời, nói việc học thuật vẻ như xa xôi nhưng từng lời Cư Đạo đều biết là nhắm thẳng đến chuyện triều chính lúc này. – Ỷ vào công trạng cha ông để ra làm quan thì không có nhiều phấn đấu, dễ tự cho mình hơn người, coi mọi bổ dụng, ưu ái đều là đương nhiên. Vậy thì còn đâu cái nghĩa nguyên thủy của trung quân ái quốc nữa. Thế nên tiền nhân mới đặt ra khoa cử để kén chọn hiền tài là vì lẽ ấy.

 

Những điều quan lại bên văn giai xưa nay than vắn thở dài, ái ngại cho cảnh học thuật nước nhà im ắng, đìu hiu giờ đều được nói ra trong mấy lời của Hoàng đế. Chắp tay hướng về phía Tư Thành, Cư Đạo thưa:

 

-Quan gia anh minh. Khoa cử là con đường buộc ai muốn tiến thân thì phải dựa vào tài năng cá nhân, cần cù dùi mài kinh sử. Không luận xuất thân, không luận sang hèn, không luận tuổi tác, chỉ căn cứ duy nhất vào chiều rộng bề sâu của học vấn mà thôi.

 

Gật đầu đồng ý, Tư Thành nhàn nhạt cười, vẻ như lo âu không dứt:

 

-Khoa cử hay thật nhưng muốn lấy đỗ được người tài thì phải có người học vấn vượt trên sĩ tử để ra đề, chấm thi. Việc ấy trẫm chỉ có thể trông chờ các khanh mà thôi. Đánh giặc khi chiến loạn thì dùng quan võ. Trị nước, an dân lúc thái bình thì phải dùng quan văn. Lẽ này, khanh hiểu đúng không?

 

Khi Nguyễn Cư Đạo dời khỏi Kinh Diên, nụ cười tin tưởng, vẻ mặt tha thiết, chờ mong của Hoàng đế nhanh chóng chuyển sang vẻ điềm đạm, lạnh nhạt lúc chơi cờ. Chàng biết sẽ sớm thôi, những lời bàn hôm nay sẽ lan đến tai quan lại bên văn giai, nhắc họ nhớ đến phận vị của mình mà hào hứng với việc nước. Bị chèn ép quá lâu, bị bỏ quên quá lâu, giờ đã đến lúc thức dậy rồi. Kẻ được tiến cử, tập ấm, quân công tuy đều xưng “thần” với vua nhưng thực ra chưa chắc đã phải. Trước nhất là co kéo vì lợi ích của họ tộc, của phe cánh, sau là cha truyền con nối, gắp miếng ngon lành cho kẻ thân thiết mà đẩy cái xương xẩu cho kẻ không ưa. Trong những toan tính đấy, Hoàng đế ở đâu, mối quan hệ này liệu có thực bền chắc?

 

Khoa cử nói là chọn người hiền tài cho quốc gia nhưng cũng là chọn người phụng sự cho Hoàng đế, thực sự thuộc về Hoàng đế. Sĩ tử ứng thí đương nhiên đơn thuần hơn con cháu dòng dõi thế gia, chỉ có một lòng muốn tiến thân làm bề tôi của quân vương. Tự mình lấy đỗ thì tự mình thăng, giáng, cắt đặt, sử dụng mà không cần xem vẻ mặt của ai, ấy mới là cục diện Tư Thành hướng đến. Huống hồ người mới được việc thì kẻ cũ vô dụng phải đi, để cho tre già măng mọc, mọi sự được mới mẻ đổi thay. Sức ép khoa cử chính là để nhắc nhở đám quan lại chớ dựa vào tuổi tác, công trạng mà nghĩ mình có thể ngồi mãi trên một cái ghế, muốn làm gì thì làm, không cần tiến bộ. Dùng ai, thay ai Hoàng đế đều có thể, chỉ cần nắm trong tay nhân tài mà thôi.

 

Trong thế gian này, một người hiền tài đáng giá hơn trăm ngàn bạc vàng, trân châu, bảo ngọc chính là vì lẽ ấy. Muốn ăn quả ngọt thì phải trồng cây, phải kiên nhẫn xem thời thế mà uốn nắn, ra quyết sách có lợi cho mình, bài học Tuyên Từ Hoàng thái hậu dạy Tư Thành đã đến lúc dùng đến rồi.

 

 

 

 

 

 

 

 


[1] Cẩm tú sơn hà của tác giả Vũ Cố

 

Dịch thơ của Trần Tuấn Đạt:

“Núi cao hồ nước giữa trời mây
Thơ nhạc cảnh tiên say ngất ngây
Vũ trụ ban ta nghiên bút vẽ
Non sông gấm vóc thắm tình thay”

 

Đôi nét về tác giả (theo thivien.net): Vũ Cố 娬故 (1395-1446) là danh sĩ đời Lê, văn võ song toàn. Ông sinh tại thôn Ao Cá, xã Vũ Xá, huyện Thanh Liêm, phủ Lý Nhân, đạo Sơn Nam (nay là xã Thanh Thuỷ, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam). Khi Lê Lợi tiến đánh giặc Minh, ông đã tham gia cùng vua đánh đông dẹp tây, lập được nhiều chiến công lớn, được Lê Lợi cho làm tham tướng trong Bộ chỉ huy nghĩa quân Lam Sơn và được mang quốc tính là Lê Cố. Ông là người có công trong trận đánh chém Liễu Thăng trên đỉnh núi Mã Yên. Sau khi chiến thắng, năm Kỷ Dậu Thuận Thiên 2 (1429), vua Lê Thái Tổ phong Vũ Cố làm chức Ái Châu mục, ông dâng biểu không nhận, chỉ xin lấy ba xã quê nhà làm dân thần tử. Ông qua đời năm Bính Dần (1446) thọ 52 tuổi. Thơ Vũ Cố hiện còn hơn 20 bài.

[2] Vịnh Lưỡng Kiên sơn của Phan Thúc Trực (1808-1852). Trước đây bài thơ này từng bị lầm là tác phẩm của Lê Thánh Tông, nay sửa lại theo kết quả nghiên cứu của nhà nghiên cứu Trần Thị Giáng Hoa đăng trong Thông báo Hán Nôm học năm 2009 (trang 412 – 416).

[3] Giày tích: giày có hai lớp đế, lớp trên bằng da hoặc gai, lớp dưới làm bằng gỗ, đến khi tế lễ nếu gặp trời mưa cũng không bị ướt. Tại Trung Quốc, giày thường được dùng trong tế lễ, triều hội, tức là lễ phục. Loại giày thể hiện trong bức phù điêu Ngô thị gia bi và bức tranh chân dung Nguyễn Trãi chính là giày tích (các chú thích về trang phục ở chương nay đều theo cuốn Ngàn năm áo mũ – Trần Quang Đức)

[4] Áo trung đơn: áo mặc lót bên trong áo long cổn, có cổ giao lĩnh (cổ áo bắt chéo trước ngực).

[5] Lưu: chuỗi ngọc châu.

[6] Miện bản: miếng ván hình chữ nhật đặt trên mũ bình thiên.

[7] Quan điểm Trung Quốc (tên gọi quốc gia ngày nay, trong Độc huyền cầm là nước Đại Minh) coi mình là quốc gia trung tâm, có văn minh, lễ giáo, tinh hoa hơn hẳn những vùng khác. Họ gọi người ở bốn phương xung quanh là Bắc địch, Nam man, Tây nhung, Đông di với ý khinh miệt (isis ghi chép).

[8] Sự kiện năm Thiệu Bình thứ 4 (1437)

[9] Phủ: búa nhỏ, việt: búa lớn, một dạng nghi trượng, đồ nghi vệ (Chú theo Lịch triều hiến chương loại chí).

[10] Một dạng quạt lớn, có hình lá quả vả

[11] Ngọc khuê: Miếng ngọc hình chữ nhật, nhọn một đầu, vua cầm trong các buổi đại lễ. Thời xưa, ghi trên ngọc khuê, hốt ngà (một dạng tương tự với ngọc khuê) là lời tâu bày… để người cầm (vua hoặc quan lại) khỏi quên. Về sau, ngọc khuê, hốt ngà chỉ còn mang tính chất trang trí.

[12] Cửa chính để vào Cung thành.

[13] Chu phục: trang phục màu đỏ. Ở đây, triều phục của trăm quan nhà Lê dự đại lễ gồm mũ lương quan, chu phục (gồm áo bào đỏ và thường đỏ cùng một số chi tiết đi kèm khác như giày, đai lưng…)

[14] Thường: một dạng váy quây, quây ra ngoài chiếc quần hai ống. Là một phần của bộ lễ phục cổn miện.

[15] Chương: là hoa văn thêu trên lễ phục của Hoàng đế, tượng trưng cho trời đất, vạn vật. Chương gồm mười hai loại với kích thước, hình dạng cụ thể, cách bố trí trên áo cổn và trên thường mỗi thời kì, mỗi quốc gia là khác nhau. Cũng như lượng dây lưu trên mũ miện, số lượng chương trên cổn phục tương ứng với thân phận người mặc. Với Hoàng đế Đại Việt, trang phục cổn miện luôn đủ 12 lưu, 12 chương, thể hiện vị thế của Hoàng đế phương Nam ngang hàng với Hoàng đế phương Bắc.

[16] Con đường ở giữa dẫn thẳng vào nội điện, dành cho vua đi.

[17] Các quan quỳ xuống

[18] Tam vương: Chỉ ba vua sáng lập ra ba nhà Hạ, Thương, Chu là Hạ Vũ, Thành Thang, Chu Vũ vương. Ở đây được coi là chuẩn mực mà các hoàng đế của các quốc gia phong kiến phương Đông (như Việt Nam, Trung Quốc) hướng đến.

[19] Khoảng thời gian từ 21h đến 23h

[20] Nhắc đến chợ Cầu Đông (trong câu ca dao “Bà già đi chợ Cầu Đông…”) và chùa Cầu Đông, nay nằm ở số 38B phố Hàng Đường, Hà Nội.

[21] Lấy ý từ câu: Tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến

One thought on “[Độc huyền cầm] 2 – 1

  1. isis-chan Post author

    * Lỗ bộ ty: “Lỗ bộ” theo Lịch triều hiến chương loại chí (LTHCLC) chú thích là xa giá của vua. Lỗ bộ ty theo isis tổng hợp từ ĐVSKTT, LTHCLC có thể là cơ quan đảm trách trang phục, đồ nghi trượng, xe kiệu cho vua.

    * Tư lễ giám: Cơ quan lo việc thực hành lễ nghi trong cung.

    * Tư thiên giám: Cơ quan xem thiên văn, ngày giờ lành dữ… phục vụ cho việc tổ chức lễ nghi, cúng bái trong cung.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s