[Độc huyền cầm] 1 – 22 (Phần 2)


Chương 22: Gió Đông

 

 

.II.

 

 

 

“Hỡi cô thắt dải lưng xanh
Ngày ngày thấp thoáng bên mành đợi ai?
Trước đường xe ngựa bời bời
Bụi hồng mờ mịt, ai người mắt xanh?[1]

 

 22 (3)

 

 

 

 

 

Hai vị thân vương đã rời đi nhưng các đại thần vẫn nán lại nghị sự thêm chút nữa. Mặt trời chuyển dần lên chính giữa bầu trời rồi ngả về Tây, ánh sáng chênh chếch lọt vào qua song cửa thành từng sợi long lanh. Bình trà cứ cạn lại được châm thêm nước, hương vị vì thế cũng nhạt nhòa.

 

-Thiếu bảo, Cung vương và Gia vương đã đồng tình, kế hoạch của chúng ta vẫn như cũ chứ? – Lê Niệm hướng ánh mắt đĩnh đạc của mình về phía người đàn ông từ nãy đến giờ im lặng, có ý dò hỏi.

 

-Đương nhiên phải dẫn quân vào cung, bắt trói tên nghịch tặc ấy lại! – Lê Lăng siết thanh kiếm trong tay, gay gắt nói. – Đường đường là trọng thần, ta mong không có vị nào ở đây thoái chí. Loạn từ trong nhà bây giờ khác gì nhà Lý trước đây có loạn tam vương? Thân là thần tử, hưởng ân trạch của các vị Tiên đế, chẳng nhẽ chúng ta lại không biết học theo tấm gương của Lê Phụng Hiểu[2]?

 

Giơ tay ra hiệu cho mọi người ngừng bàn tán, Nguyễn Xí vuốt chòm râu, lim dim mắt nói:

 

-Lúc trước, đúng là chúng ta có yếu tố bất ngờ. Nhưng sau vụ đảo chính bất thành của Lê Thụ, giờ trong cung sẽ tăng cường bảo vệ hơn. Chưa kể vừa đây, nội bộ quan lại bị thay đổi không ít, tình hình thế nào các vị và ta cũng chưa nắm hết được. Chúng ta vẫn còn nằm trong sự theo dõi gắt gao của Lạng Sơn vương, rất khó cho việc liên kết để cùng hành động, thắng bại không dám nói chắc. Nếu để thương vong quá nhiều, thực sự không đáng. Chi bằng trong thời gian sắp tới, chúng ta tạm thời giữ thái độ như trước, có thể thêm đôi phần hữu hảo để dần dần lấy được lòng tin của Lạng Sơn vương.

 

Nghe ra lý lẽ của Nguyễn Xí, Lê Lăng gật đầu đồng tình, áp chế lửa giận trong lòng xuống, bình tĩnh nói:

 

-Chắc chắn hắn sẽ nhắm vào ông, tôi và Thái bảo Đinh Liệt, nên ba chúng ta phải tuyệt đối cẩn trọng. Binh quyền là thứ đảm bảo cho thắng lợi của việc xướng nghĩa nên tuyệt đối không thể để lọt vào tay kẻ khác. Đức Trung, ngài là người phụ hợp nhất, giúp ta thăm dò xem các vệ Thiết đột đã có tay chân của Lạng Sơn vương dính dáng vào hay chưa. Nếu có thì cắt cử người của chúng ta theo dõi thật sát hành tung của những kẻ ấy. Quân lính bao năm nay do mấy người chúng ta huấn luyện, cùng ăn, cùng ở, vào sinh ra tử cũng không ít nhưng không được vì thế mà sinh chủ quan. Việc thao túng cấm binh để mưu việc bất chính của Lê Đắc Ninh còn lù lù ra đó nên tuyệt đối không được để lòng quân lung lạc, để binh sĩ nghe theo sự xếp đặt của người ngoài.

 

Vừa mới quay trở lại phòng trà, nghe nhắc đến tên mình, Nguyễn Đức Trung liền đứng dậy, chắp tay hướng về phía các vị đại thần quyền cao chức trọng nhất:

 

-Hạ quan xin vâng. Vậy kế hoạch của chúng ta vẫn được chia theo hai mũi đúng không ạ?

 

-Phải! – Lê Niệm gật đầu – Việc nắm cấm binh trong cung thành, không để người ngoài điều động làm cản trở đại sự, các vị cứ an tâm giao cho anh em chúng tôi. Còn việc giải quyết mấy kẻ tai to mặt lớn, xin các đại nhân làm tiên phong, đã có binh hùng tướng mạnh phía sau yểm trợ.

 

“Mấy kẻ tai to mặt lớn” vừa được nhắc đến chính là Phạm Đồn và Phan Bang – cánh tay trái, phải của Lê Nghi Dân. Từ phản tặc vô lại, hai tên ấy nghiễm nhiên được cất nhắc, xếp vào những vị trí quan trọng, nghênh ngang ngồi cùng bàn với các đại thần ở tam sảnh và Nội mật viện để nghị sự những việc lớn bé trong nước. Muốn làm gì cũng phải bắt đầu bằng việc trừ khử hai tên đó trước.

 

-Đầu tiên diệt hai kẻ ngáng đường ấy, rồi chúng ta sẽ xuất binh tiền hô hậu ủng, ngay lập tức phong tỏa toàn bộ Cung thành. Cấm binh đã nắm trong tay, Lạng Sơn vương có chạy đằng trời! – Nguyễn Xí cười dài, tiếng cười rất lạnh – Ta muốn để hắn thử một lần trải qua cảm giác bị vây khốn trong hoàng cung, tiến không được thoái chẳng xong giống như những gì hắn từng làm với Đại hành hoàng đế. Cảm giác đó liệu có thú vị hay không?

 

Bàn tay những người đàn ông nắm chặt lại thay cho sự đồng tình. Cân nhắc thiệt hơn một hồi, Trịnh Văn Sái cẩn trọng cất lời:

 

-Đây là chủ ý của hai điện hạ, chúng ta có cần thường xuyên thông báo cho hai vị ấy biết tình hình hay không?

 

Những ngón tay thô ráp xoay xoay cái chén rỗng, Đinh Liệt tựa một cánh tay lên thành ghế, đôi mày rậm hơi chau lại. Một cách hết sức mơ hồ, người đàn ông tự nhiên cảm thấy những việc này dường như đều nằm cả trong sự xếp đặt của đứa cháu là thân vương của mình. Nhưng giờ chưa phải lúc để cho tất cả mọi người tập trung sự chú ý vào vị thế cũng như năng lực, ý đồ thật sự của Tư Thành, biết thế nên người đàn ông bèn tắng hắng lấy giọng, nói:

 

-Ban nãy, hai vị thân vương đã giao toàn bộ việc này cho chúng ta. Hai điện hạ đối diện với huynh trưởng không thể tránh được xót thương mà mềm lòng, thành ra lỡ dở kế hoạch. Việc đại sự, càng ít người biết thì càng ít sơ xảy. Mấy người chúng ta vẫn theo cách cũ để liên lạc: hoặc là dùng bồ câu hoặc là dùng bọn ăn mày thân tín.

 

-Việc xướng nghĩa này cuối cùng là để bảo vệ huyết mạch hoàng thất nhà Lê, nối lại đại thống, không phải để đoạt thiên hạ về tay mình, thay đổi chủ nhân của sơn hà xã tắc. Để tránh lời ong tiếng ve, tôi nghĩ chúng ta nên tính xem vị chủ nhân nào sẽ đăng cơ kế vị. – Một người đề nghị.

 

Chắp tay sau lưng, Nguyễn Xí chầm chậm đi qua đi lại vài bước rồi mới nói:

 

-Ngài nói đúng. Qua chuyện này, chúng ta đều đã thấy rõ tài đức của Gia vương. Điện hạ thiên tư sáng suốt, hiểu biết hơn người, lại quyết đoán tinh tường. So với các thân vương khác, không ai hơn được. Vị minh chủ này thực sự rất đáng để quần thần tôn phò, để bách tính đặt sự thành kính vào đó.

 

Lời này nói ra, những người xung quanh đều cho là phải. Có người thực sự đã nhìn thấy bản lĩnh của Lê Tư Thành. Có người lại vì không muốn làm phật lòng cả Đình thượng hầu lẫn Thiếu bảo – hai vị khai quốc công thần có uy tín lớn nhất trong triều hiện nay. Quan lại thấp cổ bé họng đương nhiên không dám ho he vào những chuyện tày đình. Còn những người từ tứ phẩm trở lên, lời nói có chút trọng lượng đều thấy rõ, Gia vương có hậu thuẫn vững chắc hơn hẳn Cung vương. Nhà ngoại của ngài ấy là dòng họ Ngô với Thái bảo Ngô Từ, có thêm cả người họ hàng vai vế là Đình thượng hầu Đinh Liệt. Vương lại theo học Thiếu bảo Nguyễn Xí nhiều năm. Những người theo phe hai vị đại thần này đương nhiên cũng sẽ tận tụy phò tá Gia vương. Ai nhìn vào chẳng đoán được người thanh niên ấy chính là cây cao tất bóng cả, đến kẻ ngu cũng biết nên chọn chỗ nào để gửi gắm tiền đồ.

 

-Thiếu bảo nói vậy là sai rồi. Tiếng tăm của Gia vương xưa nay chỉ ở chỗ Kinh Diên. Giữa học hành và trị nước thực sự rất khác nhau. – Lê Lăng đột nhiên cười nhạt, đưa ánh mắt có phần thách thức về phía Nguyễn Xí – Những lời tán tụng kia giờ nói ra e rằng quá sớm. Tôi tuy không học qua nhiều sách thánh hiền nhưng cũng biết đến lẽ trưởng – thứ. Ngài phải đồng ý với tôi rằng, từ thời Thái tổ đến nay, chuyện phế con trưởng lập con thứ gây ra rất nhiều phiền phức, rối ren không đáng có. Chẳng nhẽ giờ chúng ta lại lập lại như vậy? Tôi nghĩ cứ theo lẽ thường, ai là người lớn tuổi nhất trong số những hoàng tử còn lại của Thái Tông hoàng đế thì người đó đương nhiên trở thành Thiên tử kế thừa đại thống. Chưa kể, Cung vương tính tình nhân hậu, ôn hòa, đó chính là phúc của Đại Việt.

 

Lời Thiếu úy Lê Lăng nói ra không khác gì sấm giữa trời quang, khiến những vị đại nhân xung quanh im re không dám bàn tán nửa lời, đến đưa mắt nhìn nhau cũng ngại ngần, sợ làm mất lòng cả hai vị đại thần cốt cán. Mỗi người nói đều có cái phải riêng nhưng một khi đã chia phe, người ở ngoài theo bên nào cũng dở. Trong lòng, người đàn ông biết rõ Lê Tư Thành xuất chúng hơn Cung vương Khắc Xương rất nhiều. Có điều, người đó dù còn trẻ tuổi đã tỏ rõ sự không an phận cũng như tham vọng thâu tóm bá quyền rất lớn của bản thân. Có chăng, Gia vương khôn ngoan hơn tân đế bây giờ mà thôi. Người như vậy tuyệt đối không phải kẻ ngoan ngoãn nghe theo xếp đặt của người khác, tương lai sẽ xếp những vị lão thần vào đâu thực ra rất mịt mờ. Cái Lê Lăng lo chính là tránh vỏ dưa lại gặp vỏ dừa, hạ được Nghi Dân nhưng lại khơi lên một cái họa khác khó dẹp yên hơn nhiều.

 

Mối quan hệ thân tình của Gia vương Tư Thành với những người thuộc phe Nguyễn Xí, Đinh Liệt chính là mối đe dọa với những đại thần khác. Nếu để người ấy đăng cơ, vây cánh bên ấy sớm muộn sẽ không ai địch nổi. Ngoài miệng nói rất hay, nhưng nào có phải ai cũng dễ dàng theo được cái lẽ công bằng, không chút vị nể tình thân? Đã vậy chi bằng phò tá một người trung lập, có phải dễ dàng uốn nắn theo hướng có lợi cho mình hơn không?

 

-Lê Lăng, quân vương trị thiên hạ phải dựa vào tài đức, vào đầu óc. Ngài chỉ nhăm nhăm bám vào mấy quy định cứng nhắc ấy, liệu có phải thiển cận quá không? – Nguyễn Xí nheo nheo mắt, đổi giọng ngờ vực, rõ ràng không hề có thiện chí.

 

-Vậy tôi xin thỉnh giáo Thiếu bảo đại nhân, có điểm nào Cung vương tỏ ra không tài đức, không có tầm nhìn xa trông rộng? – Người đàn ông cự lại, đập mạnh chén nước xuống.

 

-Hai vị có thôi đi không? – Đinh Liệt lớn tiếng, nhanh chóng đứng vào giữa để can ngăn hai người đàn ông lửa giận đã bắt đầu cháy đượm – Chuyện chưa đến đâu mà đã bàn tính đến những thứ xa xôi. Thiên hạ phải về tay tôn thất nhà Lê hẵng. Còn việc đăng cơ kế vị ra sao thuộc về việc riêng của hai vị thân vương, chưa đến lượt chúng ta bàn vào. Thiếu bảo, muộn rồi, người mù thì nên về nhà sớm đi!

 

Là bằng hữu lâu năm, lợi đã cùng hưởng, chuyện trầm luân đã cùng nếm qua, nhưng thái độ của Đinh Liệt vẫn làm người đàn ông tức mình. Đẩy cửa đưa Nguyễn Xí ra ngoài rồi ấn cây gậy trúc dò đường vào ông, Đình thượng hầu thở dài:

 

-Dù cuối cùng ai đăng cơ, tấm lòng của ông điện hạ nhất định sẽ hiểu. Có điều, nói những việc ấy lúc này thì sớm quá, lại để người ngoài dị nghị những lời không hay. Bây giờ không phải lúc để kèn cựa mấy chuyện lợi ích. Lê Lăng nói không sai, khi Lạng Sơn vương đã có ý nhắm vào mấy lão già chúng ta, đoàn kết, giữ thân mới là quan trọng. Nếu không, đại sự chưa bàn đến nhưng tính mạng Gia vương cùng người nhà chúng ta chắc chắn sẽ mất.

 

Chuyển cây gậy trúc từ tay này sang tay kia, Nguyễn Xí biết lời Đinh Liệt nói ra đều phải cả nên dù trong lòng không mấy thoải mái cũng không tranh luận gì thêm.

 

-Ngài nghĩ Lạng Sơn vương có ngay lập tức đụng đến các võ quan hay không?

 

Vuốt chòm râu điểm bạc, đôi lông mày chau lại làm những nếp nhăn nứt nẻ nơi đuôi mắt hiện lên thêm rõ rệt. Đinh Liệt lắc đầu:

 

-Vừa qua một cơn sóng gió, tôi nghĩ kẻ đó cũng chưa ngu ngốc đến mức tiếp tục động chạm đến bên võ giai. Chưa kể, quan văn giỏi lắm cũng chỉ làm ra những việc như cáo bệnh không vào chầu, dâng sớ nói này nói kia, thực ra không quá đáng đề phòng. Tay chân của hắn có được bao nhiêu người? Giờ muốn lấy lại binh quyền mà không làm trong quân náo động sợ rằng quá hoang đường.

 

Nắng xuân làm bóng người in trên nền đất mờ nhạt. Ngước mắt nhìn bầu trời xanh nhàn nhạt, cất sự bực bội trong lòng sang bên, Thiếu bảo cất lời:

 

-Đình thượng hầu, ngài có thấy từ đầu tới cuối, Gia vương mặc nhiên để cho chúng ta lo liệu hết mọi việc không? Nhìn bề ngoài thì đúng là thế, nhưng… tôi cứ thấy dường như chẳng phải. Như thể điện hạ cố tình làm vậy, đã lường hết trước cả rồi.

 

-Ngài cũng nghĩ thế? Chúng ta gần gũi với Gia vương ngần ấy năm còn thấy mơ hồ. Mấy người kia chắc khó nhìn ra. Là do điện hạ không chắc chắn nên mới giao việc lập kế hoạch và hành động cho đại thần nhiều kinh nghiệm; hay ngài đang muốn xem đám lão thần tự thể hiện bản lĩnh và lòng trung? Hay… ngài muốn đứng ngoài, được việc thì ngư ông đắc lợi, thất bại thì chẳng thiệt thân?… Tôi chịu!

 

Câu chuyện ấy diễn ra giữa nơi thanh tịnh, người thường không thể bén mảng lại gần. Không phải là tin. Tất cả những người đàn ông bên trong đều chắc chắn rằng, nếu không phải tự họ nói ra, người ngoài tuyệt đối không thể nào hay biết.

 

Thế nhưng, sự thật là những lời luận bàn ấy vẫn lọt đến tai người khác.

 

 

 

 

***

 

 

 

 

Ngô Quân nói cứ nói, còn Tư Thành tựa tay lên chiếc kỉ[3] chạm hình hoa mai xung quanh, vô cùng tinh xảo, thanh nhã đặt trên sập gụ, lật giở từng trang sách. Ánh nến từ bốn góc phòng tỏa sáng rực làm người ngoài có thể nhìn rõ gương mặt cương trực, nghiêm túc đến khô cứng của Ngô Quân. Đặt thêm một chân đèn lên mặt bàn gỗ, người thanh niên cân nhắc mãi rồi mới mở lời:

 

-Điện hạ thực sự cho rằng tân đế không sai trong việc triều chính?

 

-Sai lầm chung quy chỉ nằm trong bốn chữ. – Tư Thành nhìn lên, khóe miệng nhếch thành một nụ cười –  Là dục tốc bất đạt. Huyết án Lệ Chi Viên qua chưa thể gọi là lâu, mà nay hắn lại tạo ra một cuộc chính biến gợi lại sự hỗn loạn của những năm tháng ấy. Lòng người đâu dễ quên chuyện xấu nhanh như vậy. Dân gian thì thôi đi, xưa nay họ vẫn sống theo kiểu an phận thủ thường. Có điều, Hoàng đế lại đối xử với quan lại như với dân đen, không thèm quan tâm đến tâm tình của đám lão thần quyền cao chức trọng. Đã leo đến những vị trí ấy, họ đâu phải người chỉ Đông thì sẽ đi Đông, chỉ Tây thì sẽ đi Tây. Làn gió mới nhưng thổi không khéo sẽ thành gió độc, hại mình thân bại danh liệt!

 

-Ý người là, tân đế nóng lòng muốn thay đổi tất cả, thể hiện quyền uy, tầm ảnh hưởng của mình?

 

-Ngươi lớn tuổi hơn ta, vốn rất nhanh nhẹn và sắc bén. Đã hiểu thấu hết sao vẫn muốn hỏi ý kiến của ta làm gì? Phải chăng… ông ngoại vẫn không yên tâm, coi ta chỉ là đứa trẻ bốc đồng, nhìn đời quá đơn giản? – Chàng nheo nheo mắt, không có ý bóc mẽ nhưng cũng khiến Ngô Quân lúng túng.

 

Đón lấy chén nước từ tay Gia vương, chàng nhấp một ngụm rồi mới thận trọng nói tiếp:

 

-Nếu điện hạ đã nhìn thấy rõ như vậy, sao không bẩm báo lên trên. Có phải sẽ đổi lại được sự tin tưởng của tân đế hay không?

 

-Ngô Quân, ngươi nghĩ người như Lê Nghi Dân sẽ nghe lời ta nói chắc? – Chàng đột ngột cắt lời, thiếu điều cất tiếng cười sắc lạnh – Ngươi báo với ông ngoại rằng, ta biết người cũng như mẫu thân không muốn ta dính thêm vào những chuyện thị phi đầu rơi máu chảy của Cung thành. Nhưng Gia vương ta không nhún xuống nữa. Dù ta có làm gì, hắn vẫn cứ muốn giết ta thôi. Kẻ đó vốn không phải là hoàng huynh, đâu đáng để ta phải trung thành. Với cả… Ngươi không thấy đứng ngoài nhìn kẻ khác tự đào hố chôn mình, rồi tiện tay đẩy nhẹ một cái rất thú vị sao?

 

Lời nói thoắt từ cười cợt lại sang nghiêm túc, thoắt lại mỉa mai, cay độc thật làm người đứng nghe lạnh hết sống lưng. Ngô Quân theo hầu Tư Thành không phải đôi ba ngày, từng thấy trí tuệ, từng thấy sự kiên trì của của vị chủ nhân này, từng thấy cả những trò nghịch phá thuở nhỏ. Chỉ đến hôm nay khi trốn bên ngoài nghe ngóng việc luận đàm, chàng trai áo lam mới biết miệng lưỡi của chủ nhân mình đáng sợ đến thế nào. Không phải chỉ biết nói lời hay ý đẹp, đạo lý thánh hiền ngay thẳng, đến cả trò đổ dầu vào lửa, thuận nước đẩy thuyền, Tư Thành cũng đều rất giỏi.

 

-Điện hạ, ngay từ khi người đến gặp Thiếu bảo… À không, ngay từ khi bị truy kích ở An Bang mới đúng… Ngay từ lúc đó, điện hạ chưa từng muốn chừa cho kẻ đang ngự trên ngai vàng một con đường sống?

 

Những lời lặng lẽ vốn cất kĩ trong đầu cuối cùng lại nói ra nơi đầu môi. Mỉm cười nhẹ bẫng, Tư Thành lật trang sách, nhạt giọng nửa đùa nửa thật bảo:

 

-Xem ra ngươi học được cái bạo gan của Ngọc Hồ rồi đấy. Ngô Quân, ngươi nghĩ thế nào?

 

Riêng câu này, dù uống mật gấu, ăn gan hùm, người thanh niên cũng không dám trả lời. Chàng cúi đầu nói khẽ thêm một câu:

 

-Theo như thần điều tra được, Nguyễn Đức Trung có qua lại khá mật thiết với Thiếu úy Lê Lăng. Từ chuyện định ngôi, Thiếu úy đã tỏ ý đối nghịch với điện hạ. Thần nghĩ sau này người nên cẩn trọng.

 

-Ngươi thấy Đức Trung là người thế nào? – Chàng ngẩng lên, hỏi một vấn đề thực sự không mấy liên quan.

 

-Việc này… – Ngô Quân ngập ngừng – Tạm thời thần chỉ dám nói đó là một người cẩn trọng trong mọi việc. Dường như không có tâm địa bất chính.

 

-Làm gì có ai ở chốn quan trường không có tâm địa này khác kia chứ. Là chưa có chứ không phải không có. Được rồi, ngươi lui đi!

 

Những lời đầy hoài nghi ấy vang lên không biết đã bao nhiêu lần nhưng lúc nào cũng khiến người thanh niên sững sờ pha lẫn cả nặng nề. Đến cả người thường xuyên nhìn người khác bị giết, rồi đi giết người khác như chàng cũng chưa bao giờ hoài nghi điều gì sâu đậm đến vậy. Cúi đầu từ biệt, chàng đu mình trèo qua cửa sổ, thoắt cái vạt áo lam đã khuất sau tán cây bưởi mọc ken thật dày. Nhờ Đức Vượng thu nhận được vài hoạn quan, cung nữ tin tưởng được nên việc ra vào cung tiềm để của Ngô Quân cũng dễ dàng hơn. Dù chàng võ công cao cường đến mấy cũng chưa luyện được màn phi thân, bay nhảy như đám bồ câu nhàn rỗi của Gia vương.

 

Người đã đi khuất, ánh mắt vô định rơi xuống trang giấy nhưng lại không đọc được thêm dù chỉ một chữ. Day day thái dương, chàng ngồi lặng trên sập gỗ để trơn, không chạm khắc. Đến khi Đại Vệ cào cào hai chân trước lên cửa, Tư Thành mới nhận ra là có người đến, nếu không phải Thục Giang thì sẽ là Đức Vượng. Quả nhiên, người vừa bước chân qua bậu cửa cao là thiếu nữ xinh đẹp, phía sau nàng là một dải ánh sáng vàng nhạt của những ngọn đèn lồng treo dưới mái hiên.

 

-Đêm đã khuya, xin điện hạ đi nghỉ. Cô Thụy An có dặn dò thần nữ phải nhắc nhở điện hạ chú ý sức khỏe. Xin người…

 

-Tiểu thư ngồi xuống đây đi hẵng, sao cứ đứng mãi thế? – Nhẹ nhàng ngắt lời Thục Giang, chàng không ngẩng lên nhưng bấy nhiêu thiếu kiềm chế trong giọng nói đủ để nàng biết trong lòng vị chủ nhân đang rất không vui.

 

Mím môi lại, nhẹ nhàng đặt khẽ ấm trà xuống bàn, thiếu nữ không nói thêm dù chỉ một tiếng. Từng khắc trôi qua, nước trong ấm dần nguôi lạnh, còn dáng vẻ của Tư Thành vẫn y như lúc đầu: bình thản, suy tư, dường như quên luôn cả sự có mặt của cô gái. Ngô Sung viên bị mệt nhưng Hoàng đế lại ra lệnh không cho phép Gia vương xuất cung, bởi vừa qua có xảy ra vụ mưu sát bất thành. Việc như vậy, dù chàng có lạnh lùng đến mấy, bình tĩnh đến mấy có khi cũng đều là giả, người chứ nào phải gỗ đá đâu. Lặng lẽ đứng hầu bên, ánh mắt thiếu nữ dừng lại trên gương mặt trầm tĩnh, tuấn tú nọ, tự hỏi thực sự trong lòng Gia vương đang nghĩ gì. Chàng khi thuận tiện vẫn cho phép nàng về thăm nhà hay gửi thư cho phụ mẫu. Nhưng giờ trên đời, ai có thể cho phép Tư Thành làm điều chàng muốn?

 

Sợi bấc cháy đen, cong xuống trong đĩa dầu đèn, chàng ngẩng lên định hỏi sao Thục Giang chưa cắt đi, ai dè lại thấy nàng đang gà gật tựa đầu vào cây cột gỗ. Khẽ hắng giọng, người thanh niên lên tiếng:

 

-Nếu tiểu thư cứ khăng khăng muốn vâng lời Thụy An thì lên giường ta mà nằm. Chợp mắt một chút đi rồi muốn đợi đến lúc nào thì đợi. Không phải đứng đây đâu.

 

-Thần nữ không buồn ngủ. Không sao cả đâu ạ! – Thục Giang giật nảy mình, vội vã phân bua. Đôi má bầu bầu đã thoắt hiện lên màu hồng thẹn thùng.

 

-Đi ra! – Chàng nghiêm giọng nói nhưng không chứa dù chỉ một chút bực bội – Bóng của tiểu thư đổ lên trang sách, sao ta đọc được nữa.

 

Dù không muốn nhưng Thục Giang không có gan cãi lại Tư Thành. Đằng khác, có cho vàng thiếu nữ cũng không dám ghé lưng nằm xuống tấm đệm gấm trải trên cái sập đặt trong buồng ngủ của Gia vương. Tự tát vào má mình cho tỉnh táo, nàng ngoan ngoãn đặt hai tay lên đầu gối, căng mắt ngồi đợi. Im lặng, tịch mịch, chỉ nghe tiếng lá cây xao xác một chập trong gió rồi lại lặng đi. Đứng dậy xỏ chân vào đôi giày gấm, người thanh niên hãy còn rất trẻ nhưng lại có sự trầm lặng toan tính không khác mấy những người đàn ông lăn lộn chốn quan trường lại gần án thư, chầm chậm mài mực, chầm chậm trải giấy đỏ lên mặt bàn.

 

Bản thân Lê Tư Thành hiểu rõ, vì những sơ xuất chí mạng của Nghi Dân nên chàng mới có đường tiến công, nắm trong tay ít nhất năm phần chắc thắng. Giả như người anh ấy bình tĩnh, nhẫn nại hơn một chút, thâu tóm được binh quyền, lấy lòng các vị đại thần cốt cán, chàng thực không dám nghĩ kế sách bày ra sau vụ đầu độc sẽ trụ vững được đến bao giờ, càng không dám tính đến kết cuộc của bản thân. Mong muốn ban đầu mãi mãi chỉ là mong muốn. Ở đời, đâu phải cứ cố gắng hết sức mình thì sẽ được mãn nguyện đâu. Nếu không đã chẳng có câu mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên. Giờ câu ấy ứng vào ai, vào chàng hay vào Lê Nghi Dân? Ván cờ đã đi đến đây thì buộc phải chơi đến cùng, nào còn đường quay lại.

 

Cái ‘bình an’ mà mẫu thân mong muốn, dù là chàng tự chọn hay bị ép buộc thì giờ cũng mỗi lúc một xa vời. Đứa trẻ năm xưa chỉ chứa một sự hận thù, ấm ức; chứa thêm một sự nghi kị, đề phòng Tuyên Từ Hoàng thái hậu hình như vẫn là đứa trẻ biết cầu trời trong gió nhẹ, vạn sự bình yên. Nhưng Lê Tư Thành đâu thể mãi mãi là đứa trẻ năm ấy. Cũng như Bang Cơ cũng đâu thể mãi mãi là vị quân vương nhân từ sống trên đời. Nếu như người ấy có thể tại vị, ắt sẽ là một vị vua hiền. Nếu như người ấy không lên ngôi từ một vị thế có xung đột, ắt sẽ có thể yên vui sống hết thọ mệnh của mình. Giá như Lê Nghi Dân an phận một chút, giá như Nguyễn Thị Anh nhẫn tâm thêm một chút…

 

Nhưng đời làm gì có hai chữ “giá như” đâu.

 

Bấc đèn cháy lèo xèo, tỏa vào không khí một sợi khói mờ khen khét. Đặt cây bút lông trong tay xuống, Tư Thành ngồi thừ người trên ghế, nhìn những nét mực dần khô đi trên tờ giấy thắm. Mực đọng trong nghiên quẩn quanh, tù đọng, mỗi lúc một sánh, mỗi lúc một trầm. Ngực áo gấm hơi nhô lên khi Tư Thành hít vào một hơi thật sâu. Cuối cùng, chàng cũng đứng dậy, bước về phía buồng ngủ ở đầu bên kia của căn phòng rộng, đối diện với nơi đọc sách.

 

Ánh sáng từ những chiếc đèn lồng treo dưới hiên nhà hắt vào qua song cửa chạm trổ tinh tế trên ô cửa tròn, in những bóng mờ nom giống họa tiết lên chiếc áo khoác của thiếu nữ. Nàng đợi, đợi không nổi nên không biết đã ngủ gục từ lúc nào, ngả nửa thân người lên giường của chàng trong khi hai chân vẫn giữ tư thế như lúc ngồi. Gương mặt say ngủ nghiêng nghiêng trên tấm đệm gấm không chút ưu tư, trong sáng và đơn thuần đến nỗi khiến chàng ngẩn ra, tự cười cuộc đời phiền toái của chính bản thân mình.

 

-Tiểu thư… – Gia vương gọi khẽ.

 

Thục Giang không nghe thấy, vẫn thoải mái ngủ say khiến người thanh niên thở dài, miễn cưỡng lay nhẹ bờ vai nàng.

 

-Điện hạ… thần nữ… thần nữ… – Hốt hoảng mở choàng mắt, hai gò má nóng bừng, cô gái cuống quýt thưa gửi không đầu không đũa – Điện hạ thứ tội!

 

-Nàng cầm lấy!

 

Chàng nói đơn giản, ngắn gọn bằng một giọng trầm ấm đủ để mình cô gái đang ngồi trên giường nghe thấy. Cơn ngái ngủ trong chớp mắt bay sạch khỏi đầu óc, những ngón tay thoáng run run đón lấy cuộn giấy trong tay Tư Thành. Nhìn một hồi, nàng cất giọng không mấy chắc chắn, hỏi lại:

 

-Điện hạ cho thần nữ chữ “nhẫn”?

 

-“Nhẫn” là nhẫn nại… – Chàng đưa tay cởi một lượt áo ngoài, thong dong tiếp lời – … cũng là nhẫn nhục. Muốn thành người của ta, nhất định phải hiểu điều này.

 

Nét bút phóng khoáng, mạnh mẽ, tươi đẹp vừa phảng phất cái mênh mông, khoáng đạt của người đọc sách, lại chứa cả sự dũng mãnh của của đấng nam nhi đột nhiên làm Thục Giang hơi co mình lại. Con chữ này nói không hiểu thì không đúng, chỉ e không hiểu được sâu như những gì người đối diện kì vọng. Phụ thân Thục Giang rất thích tranh chữ, nói rằng nhìn chữ có thể đoán được người chấp bút là kẻ sang hay hèn, ngay hay gian. Nàng theo phụ thân ngần ấy năm cũng học được đôi chút, nên đối diện với người tâm tư không dò nổi như Gia vương điện hạ, thực sự vừa ngưỡng mộ, vừa sợ hãi.

 

-Chữ “nhẫn” này… điện hạ… có thể để thần nữ từ từ học được không? – Nàng đứng dậy hầu hạ chàng thay đồ, ấp úng đề nghị.

 

-Nàng có chữ “nhẫn” rồi, chỉ là hơi khác chữ “nhẫn” của ta thôi. Nhưng chúng ta có thời gian, từ từ học cũng chưa muộn.

 

Giọng nói êm ái, ấm áp và dịu dàng chừng ấy vang lên gần và nhanh đến nỗi khiến nàng không kịp thoái lui, trong chớp mắt đã bị ôm gọn trong cánh tay của Gia vương. Mùi trầm hương phảng phất trên chiếc áo lụa trắng hòa cùng thân nhiệt của chàng khiến Thục Giang luống cuống, cố sức đẩy ra nhưng không được, mặt mũi bỗng chốc đỏ bừng. Hàng mi chớp chớp liên hồi nhưng không dám ngẩng lên, nàng vội quay đầu đi hướng khác, vừa thuận thế để Tư Thành cúi xuống, thì thầm bên tai:

 

-Giờ đến cả Hoàng đế cũng đã biết ở cung tiềm để này, ta sủng ái nữ nhân nào nhất. Ta không muốn mang tiếng dối trá chút nào. Nàng nói nếu không phải khi vạn bất đắc dĩ, ta sẽ không hy sinh người bên cạnh mình đúng không? Người ở cạnh ta nhất định phải có danh phận rõ ràng. Ta cũng chưa thảm hại đến mức phải dùng một người con gái để giữ lại mạng sống. Bây giờ cũng vậy, sau này cũng vậy. Phùng Thục Giang, câu xuất giá tòng phu của nàng, ta tính được không?

 

Người rất nhẹ nhàng, rất mềm mỏng nhưng vòng tay ôm chặt quanh eo lại rắn chắc như sắt đá, không thể dễ dàng thoát khỏi. Từng lời vang lên thực sự rất ép người. Sau mấy lớp áo mỏng, trái tim nàng đập như trống trận làm mắt hoa cả lên. Cuối cùng, đôi môi run rẩy cũng cất thành lời, ánh mắt tán loạn, phần sợ hãi, phần hồ nghi, phần lại tự ti cũng ngước lên nhìn gương mặt tuấn tú khiến bao thiên kim tiểu thư tại Đông Kinh tương tư, thương nhớ.

 

-Thần nữ… thực sự rất sợ. Thần nữ không hiểu được điện hạ. Dường như người thần nữ quen bên hồ cá trong Cung thành, người dạy thần nữ học và… người ở cung tiềm để là hai… hai thái cực hoàn toàn đối lập. Người như thần nữ sao có thể ở bên điện hạ?

 

Ánh nhìn sâu thẳm toát ra từ đôi tròng mắt đen thẫm làm từng lời Thục Giang để vuột khỏi môi nhỏ lại, nhỏ lại, rồi tắt ngấm. Vòng tay ôm quanh thân thể đang không ngừng run lên kia cũng nới lỏng. Tư Thành ung dung mỉm cười:

 

-Nàng thực sự thấy ta là hai người khác biệt? Kiểu như… sống hai mặt?

 

Ngẩn ra nhìn dáng điệu chấp nhận sự thật ấy của chàng, nàng không ngăn được mình lắc đầu:

 

-Không phải hai mặt… Là… điện hạ quá phức tạp… Thần nữ không hiểu được.

 

-Hiểu ta như nàng bây giờ là được rồi! – Chàng lại cúi xuống, hơi thở ấm áp vuốt nhẹ qua vành tai khiến cả người Thục Giang không còn chút sức lực phản kháng. – Thục Giang, trả lời ta: Nàng có muốn ở bên ta hay không?

 

-Thân nữ không thể, thần nữ không thông minh, không…

 

-Ta hỏi nàng có muốn hay không? – Chàng trầm giọng, kiên quyết nhắc lại từng từ.

 

Bờ môi mấp máy. Mắt nhìn bóng lá dệt thành tấm thảm trải trên sàn nhà. Vầng trán thiếu nữ cọ nhẹ hai cái lên vai Tư Thành khi nàng rụt rè gật đầu. Nhẹ nhàng rút cuộn giấy trong tay cô gái, đặt lên chiếc bàn nhỏ kê cạnh giường, chàng nghiêng người thổi tắt ngọn nến gần đó, thì thầm ra lệnh:

 

-Mẫu thân nàng chắc chắn đã dạy khi nến tắt, rèm buông phải làm gì rồi chứ?

 

-Điện hạ, thần nữ có thể hỏi người một điều được không? – Bàn tay đặt lên cổ áo của chàng chợt dừng lại, những ngón tay hơi níu xuống.

 

-Là gì?

 

-Tại sao… lại là thần nữ?

 

-Vì nàng đã dám ăn miếng bào ngư ta gắp. Vì nàng đã thay ta chôn cất Đông Phong. Lý do thì rất nhiều, từ từ ta sẽ nói hết cho nàng biết!

 

Khi tấm rèm nhẹ buông xuống, dưới ánh sáng nhạt nhòa hắt vào từ ô cửa sổ, in trong đôi mắt mở lớn trong suốt của cô gái là nụ cười thực sự vô cùng dịu dàng điểm trên môi người ấy, nam nhân duy nhất của cuộc đời nàng.

 

 

 

 

***

 

 

 

 

Những người ngồi trên ngai vàng chỉ có hai dạng: hoặc là dùng cơ mưu, trí tuệ mà đoạt được giang sơn, đàn áp phe phái đối nghịch; hoặc là nghiễm nhiên lên ngôi theo sự xếp đặt của người khác. Lê Nghi Dân đương nhiên không phải loại Hoàng đế thứ hai. Khí trời lưu chuyển theo cơn gió, cuốn tung những cánh hoa mai trắng cuối cùng còn vương vấn trong vườn Thượng uyển. Chàng khoan khoái vươn vai, trong lòng không thể không vui khi một số đại thần đầu bạc dần dần tỏ chút ý định quy phục.

 

-Việc Gia vương từ chối nhận chức tước, tham gia vào quan trường, thần không biết nên nghĩ là việc tốt hay xấu. Xin quan gia chỉ dạy. – Phạm Đồn cau mày, bước chầm chậm phía sau Hoàng đế, trong lời nói không thiếu sự ngờ vực.

 

-Hắn giờ này ngoài đọc sách, tiêu dao ở cung tiềm để, hình như còn đang mê đắm vị tiểu thư họ Phùng đúng không? Quả nhiên đúng là tuổi trẻ. Xem ra ta cũng nên xuống chiếu ban hôn cho đứa em này rồi. Nó đã cố tình né tránh khi biết các đại thần không còn đứng về phía mình nữa thì ta cũng sẽ nương tay. Được rồi, tạm thời ngươi cho người giám sát Đinh Liệt, Lê Lăng cho ta. Còn riêng với lão già đã công khai đối đầu ta…

 

-Quan gia không tin Nguyễn Xí bị mù?

 

-Ta đâu phải trẻ lên hai mà dễ dàng tin cái trò vớ vẩn ấy của lão. – Chàng nheo mắt, cười nhạt – Ta dám chắc, đó không phải chiêu làm mình làm mẩy thông thường. Sau lưng ta, người như Nguyễn Xí chắc chắn không ngồi yên được. Ngươi sai thuộc hạ thân tín trà trộn vào làm người hầu kẻ hạ trong nhà Thiếu bảo, thử xem lão có mù thật hay không. Đánh rắn phải đánh dập đầu, một khi những lão đại thần không biết an phận mà cúc cung tận tụy thì không cần giữ lại. Bọn chúng chết, tự khắc đám người sau lưng sẽ không dám manh động. Tư Thành càng không dám, không thể làm được gì.

 

Gật đầu tỏ ý đã hiểu dụng ý, người đàn ông lén đưa mắt nhìn chủ nhân, đôi lông mày vẫn chưa giãn ra. Trước đây, vì muốn có được các đại thần, Hoàng đế sẵn sàng triệt hạ em trai mình để quan lại dù có sinh lòng phản trắc cũng chẳng biết phải tôn phò ai. Nay nếu dẹp bỏ dần những vị đại nhân quyền khuynh thiên hạ, cái lợi đầu tiên chính là những vị trí béo bở đó sẽ đến lượt những công thần như Phạm Đồn, Phan Bang. Nhưng như thế cũng đồng nghĩa với việc…

 

-Quan gia đã có ý dẹp bỏ quyền thần dám khinh bạc Thiên tử… tức là người cũng có ý sau đó sẽ tha cho Gia vương một con đường sống?

 

Ngoái lại, gương mặt đương phảng phất những nét thư thái của người thanh niên thoắt cái chuyển sang vẻ uy quyền tột đỉnh.

 

-Phạm Đồn, ngươi biết câu nhổ cỏ tận gốc chứ?

 

-Hạ thần đã hiểu. Giờ thần xin cáo lui để thu xếp việc quan gia giao phó.

 

Không ai nhận ra. Có khi chính bản thân Nghi Dân cũng không nhận ra trong một thoáng rất nhanh, lướt qua đầu óc chàng, ẩn kĩ sau ánh mắt đế vương là kí ức đêm binh biến mùa đông năm ngoái. Hình ảnh khi Nguyễn Thị Anh chỉ thẳng vào mặt chàng, đôi mắt sắc mở lớn ngạo nghễ pha lẫn chua chát bảo rằng: “Năm xưa, đáng lẽ ta nên giết chết tươi hai mẹ con nhà ngươi mới đúng. Đáng nhẽ phải nhẫn tâm như vậy!” hiện lên rõ rệt như cái hiện thực rằng, bà ta chưa từng, hay không thể, không kịp dồn cả Nghi Dân lẫn Dương thị vào bước đường cùng.

 

“Là ả chưa kịp!” – Chàng lắc nhẹ đầu, đôi môi mím chặt lại chợt nhếch lên cười.

 

 

 

Những kẻ được phái đi ngày hôm ấy theo lệnh của Phạm Đồn phải mất kha khá thời gian mới mang về cho Hoàng đế một sự xác minh thực sự hữu dụng. Đó là một buổi chiều tháng tư, xuân vừa tàn, hạ chớm đến.

 

 

 

 

Từ khi trong Cung thành xảy ra biến loạn đến nỗi càn khôn xoay chuyển, đế vị đổi thay, Hải Triều biết ý nên cũng không lui đến phủ của Đình thượng hầu nữa. Thế nhưng phu nhân Minh Nguyệt lại lấy sự lạnh nhạt của nàng ra để trách cứ, có ý bảo nàng sợ liên lụy nên né tránh. Nói qua nói lại một hồi, cuối cùng là Đình thượng hầu muốn nhờ nàng thỉnh thoảng làm người đưa tin giúp. Lý do thì có nhiều. Hải Triều cũng biết không phải những điều đại nhân viện dẫn ra đều là kiếm cớ. Chỉ là… không nói thẳng vào lý do chính nhất mà thôi. Một phần vì nàng bị câm nên chẳng ai thèm đề phòng, một phần vì nếu như Đinh Liệt hay Nguyễn Xí bị đánh đổ, mong muốn tẩy oan cho Nguyễn Trãi dù mong manh đến mấy cũng không thể thành hiện thực. Giúp hai vị ấy làm chút chuyện chính là nàng đang tự giúp mình.

 

Quàng sợi dây thao lên vai, thiếu nữ mím môi khi bị mấy tên lính khôi giáp tề chỉnh đứng canh ngoài cửa cung tiềm để xoay tới xoay lui tra xét. Hải Triều biết phu nhân Minh Nguyệt đã thay chồng dàn xếp mọi chuyện với Gia vương từ trước nên không hề nghĩ sự kiểm tra vẫn gắt gao như vậy. Tiếc rằng, dù chúng có tra thế chứ tra nữa cũng chẳng được gì, thư tín giấy trắng mực đen quá nguy hiểm, đến lời nói đầu môi còn có thể bị nghe lén nữa là. Nàng thực sự đến đây tay không.

 

-Các ngươi xong chưa? – Hoạn quan cất giọng éo éo, vừa sốt ruột, vừa bực mình – Đào nương đây là do điện hạ gọi đến, có gì đâu mà phải xét kĩ thế.

 

-Quan gia có lệnh, sau vụ ám sát của phản tặc, trong nội cung lẫn cung tiềm để phải tăng cường cảnh giác. – Một tên lính nghiêm giọng vặn lại – Nếu giờ chúng ta làm ăn cẩu thả, nhỡ may Gia vương điện hạ có mệnh hệ gì thì ngươi chịu trách nhiệm được không? Xong rồi, đi đi!

 

Viên hoạn quan nhác trông thấy tên lính ấn trả cây đàn vào tay thiếu nữ liền nhanh nhẹn bước tới, xen vào giữa nàng và kẻ kia rồi liến thoắng:

 

-Ngươi đi theo ta. Điện hạ đợi lâu lắm rồi đấy! Nhanh chân lên!

 

Nâng cao cây đèn trong tay, dưới ánh sáng vàng trong vắt, Đức Vượng phải thầm thốt lên trong bụng rằng, cô đào đi cạnh hắn không phải chỉ xinh xắn, ưa nhìn đơn thuần. Là tuyệt đẹp, gọi là giai nhân tuyệt sắc cũng không quá lời. Có điều, thực bụng hắn không thấy thích đào nương này chút nào bởi khí lạnh lẫn sự âm trầm tỏa ra từ người nàng. Đối diện với cung tiềm để, ánh lên trong tròng mắt tựa như hai viên ngọc trai nhưng lại mang sắc đen thẫm ấy là đôi chút ngạc nhiên chứ không hề sợ hãi hay e dè. Thỉnh thoảng, hắn còn cảm thấy cô gái nọ lặng lẽ đưa mắt nhìn mình. Không phải soi mói, càng chẳng phải tò mò nhưng là kiểu nhìn khiến Đức Vượng thấy hơi rợn.

 

Đi hết con đường lát đá, trước mắt Hải Triều là ngôi đình xây trên hồ nước được bao xung quanh bởi đủ các loại cây. Đôi môi thắm sắc hồng đào tự nhiên mỉm cười. Nàng với ngài ấy xoay tới xoay lui, cuối cùng vẫn lại gặp nhau ở một nơi trên là mái đình hóng gió, dưới là hồ nước mênh mông. Cung tiềm để rất rộng, kiến trúc vừa bề thế vừa tao nhã khác xa cái lộng lẫy đến choáng ngợp của Cung thành. Thế nên, việc chọn một nơi thế này có khi không phải thuần túy chỉ là tùy hứng.

 

-Ngươi vào đi.

 

Viên hoạn quan dẫn đường dừng lại cách bậc tam cấp lên xuống một quãng khá xa, để mình Hải Triều bước đến. Dưới ánh sáng tỏa rạng từ ba chiếc đèn lồng treo dưới mái ngói âm dương là người thanh niên áo trắng ngồi tựa mình vào cây cột gỗ để mộc không sơn. Ánh mắt chàng trôi nổi ở đâu, tâm trí càng không đặt ở chốn này. Chần chừ một lúc, ngón tay thiếu nữ gảy nhẹ lên sợi dây đàn làm vang lên thứ âm thanh rất nhẹ.

 

-Đến rồi sao? Ngồi xuống đi! – Tư Thành vừa nghe thấy vậy liền ngoái lại, trên môi là một nụ cười nhã nhặn.

 

Hải Triều kính cẩn cúi chào rồi mới khẽ khàng ngồi xuống chiếc chiếu hoa trải trên nền đá của ngôi đình hóng gió. Âm thanh rỗng phát ra khi thùng đàn chạm nhẹ vào mặt nền cứng khiến chàng trai vui miệng hỏi:

 

-Đàn đáy? Còn có tên là vô đề cầm?

 

Nàng gật đầu đáp lại, lúc xếp hai tà tứ thân áo màu lam tím cũng tranh thủ thuận mắt nhìn ngó tứ bề xung quanh xem có ai hay không. Trong màn đêm mượt như nhung bao quanh cung tiềm để chỉ có duy nhất ánh đèn lồng nổi trôi, hắt ánh sáng lên những bức tường, tán sắc đỏ loang trên mặt nước lặng.

 

-Ăn trầu đi hẵng rồi muốn nói gì hãy nói. – Chàng lịch sự cất lời, ánh mắt lướt qua gương mặt thanh nhã kia rồi hướng ra hồ nước.

 

Trên chiếc bàn gỗ lim chân thấp, bốn bên đều chạm hình hoa mai nổi trên lá trúc, có cơi trầu đỏ son, bộ đồ trà và một cái bát lớn thả mấy bông hoa cúc tròn tròn bập bềnh trong nước. Miếng trầu là đầu câu chuyện, vì phép lịch sự nên Hải Triều cũng không tiện từ chối. Gõ nhẹ lên mặt gỗ để thu hút sự chú ý của Gia vương, thiếu nữ nhúng ướt ngón tay vào bát hoa, viết lên bàn hết chữ này đến chữ khác. Mỗi nét chữ là mỗi hình ảnh, mỗi âm thanh nàng từng được chứng kiến. Hải Triều nghiêng đầu, mải mê viết rồi lại xóa, xóa rồi lại viết, không hề nhận ra Tư Thành đã chầm chậm đứng sau lưng mình từ lúc nào, càng không nhận ra hàng lông mày của chàng từng chút từng chút chau khít lại.

 

Hôm ấy, nàng theo lời dặn của Đình thượng hầu gửi một tập sách đến tận tay Thiếu bảo Nguyễn Xí. Nhưng mới bước gần đến sảnh chính, nàng đã bị một tên gia nô lạ mặt nhào ra, tay thì kẹp nửa thân trên, tay thì bịt miệng nàng, lôi vào một góc. Một tên khác bế đứa con hãy còn ẵm ngửa, quấn trong lớp chăn lụa màu lá sen xanh thẫm của Thiếu bảo trong tay, lớn tiếng gọi: “Bẩm ông, bà sai Thu Cúc đưa cậu út đến chỗ ông chơi một lúc. Nhưng trà pha xong lại đặt ở ngoài vườn, hay con bảo người bưng vào luôn được không ạ?”. Lúc ấy, nàng không hiểu nhiều chuyện, càng không hiểu tại sao khi Nguyễn Xí lần lần chống gậy trúc bước ra, nói không cần bưng trà vào trong, trên gương mặt những gã đàn ông ấy lại lộ vẻ đắc chí vô cùng. Đến khi kẻ kia đặt đứa bé trong tay xuống thềm, vừa tầm bước chân của Thiếu bảo, Hải Triều mới vỡ lẽ.

 

 

 

“Thiếu bảo đã đạp chết đứa con trai thứ mười sáu của mình”.

 

 

 

Lúc viết xong dòng chữ ấy, như có ai hắt cả một chậu nước lạnh vào mặt nàng, bản thân dường như không thở nổi. Tiếng khóc váng lên giữa buổi ban trưa quang đãng rồi tắt ngấm của đứa nhỏ. Tiếng gào thét tuyệt vọng như muốn xé rách cổ họng của vị phu nhân, cách bà ngã sấp xuống nhưng vẫn cố sức lết đến ôm lấy đứa bé vào lòng… Máu đỏ thấm qua tấm chăn làm màu lá sen chuyển sắc thẫm. Dưới nắng trong, dòng máu tanh lấp lánh đỏ tươi chảy tràn trên thềm đá. Từng hình ảnh, từng âm thanh đều thật đến nỗi khiến ruột gan trong bụng Hải Triều lộn cả lên. Nàng vội vàng nhắm mắt, nghiến chặt hàm răng. Đây không phải lần đầu tiên nàng thấy người chết, có điều…

 

Gió thổi tới từ hồ vào làm lớp nước đọng trên mặt bàn từng chút, từng chút bốc hơi hết. Nét chữ dần trở nên mờ nhòa. Bàn tay chắp sau lưng theo từng con chữ mà siết chặt lại, y như ngày Bang Cơ mất, y như ngày chàng dồn Đông Phong vào đường cùng. Trong lòng bàn tay, những dấu móng tay cắm xuống ngày một sâu. Tư Thành khẽ hỏi:

 

-Xong việc bọn chúng bỏ chạy, không làm gì cô hết?

 

Hải Triều gật đầu xác nhận.

 

-Thiếu bảo hay có ai trong phủ sai người đuổi bắt mấy kẻ đó không?

 

Không ngoài dự liệu của chàng, cô đào nghe thấy vậy liền lắc đầu. Thực ra, không phải Gia vương không biết những chuyện này. Ngô Quân mấy bữa trước đã nhanh chóng báo tin, nhưng chỉ dừng lại ở chuyện đứa con út mới sinh của Nguyễn Xí đột nhiên qua đời và việc có một đào nương hay qua lại với phu nhân Minh Nguyệt vô tình có mặt ở phủ Thiếu bảo vào đúng hôm xảy ra sự cố. Chàng đã muốn cho gọi Ngọc Huyên từ đó, vừa hay hôm trước bên nhà Đình thượng hầu cũng có ý như vậy.

 

Đan hai bàn tay lại rồi đặt trong lòng, Hải Triều đưa mắt nhìn người đối diện hồi lâu. Vì chàng đang mải suy nghĩ nên không nhận ra, càng không nhận thấy trong đáy mắt thiếu nữ cuối cùng cũng gợn sóng lăn tăn. Chẳng cần đến nàng bình phẩm, kẻ ngu ngốc nhất trên đời cũng dễ dàng nhìn ra sự lạnh lùng sừng sững như vách núi của Gia vương. Có điều, cái lạnh lùng ấy không phải bởi huyết thống, càng không phải bởi thân phận hay bản tính. Đó là cái lạnh lùng của cô độc, của kẻ chỉ có một mình, chỉ có thể dựa vào chính mình. Phải, ấn tượng từ trước đến giờ của Hải Triều dành cho đứa trẻ được cha nàng và tam phu nhân liều mạng cứu về chỉ có thể là hai chữ cô độc đầy kiêu hãnh như thế mà thôi.

 

Trùm lên gương mặt anh tuấn với đôi mắt sáng ngời, sắc bén và thâm sâu như hai đáy vực kia xem chừng không phải chỉ có sự bình thản lạnh lẽo. Nàng quả thực không nhìn qua được lớp áo giáp rất dày, rất kiên cố và hoàn mỹ bao quanh Tư Thành, nhưng lại nghĩ mình cảm thấy người thanh niên kia đang sững sờ, đang thất thần. Chắc chắn một phần nào đó ở rất sâu, rất sâu sau sự thông minh, tỉnh táo muôn đời vạn kiếp của con người ấy đang như vậy. Gia vương kém nàng gần hai tuổi nhưng luôn khiến Nguyễn Hải Triều cảm thấy người ấy đã sống hơn nàng ít nhất hai mươi năm. Hai mươi năm, đời người được mấy lần hai mươi năm như thế? Hai mươi năm, thực ra không phải con người vì những va vấp, vì những thất bại của bản thân mà chai sạn đi. Họ chỉ đang chọn một cách khác để bộc bạch phần con người còn lại của mình mà thôi.

 

Như mẹ nàng chẳng hạn.

 

Như các đào nương chẳng hạn.

 

Hơi thở căng đầy, dồn ứ trong lồng ngực cuối cùng cũng được đẩy ra trong một tiếng thở dài. Chợt nghĩ đến số tiền mình đã nhận, Hải Triều cảm thấy ngồi im trong đình hóng gió thật chẳng ra đâu vào đâu, có khi còn khiến cho người ngoài sinh nghi. Chị Phượng từng bảo với nàng, làm đào nương có hai cái thú. Cái thú thứ nhất là được gặp nhiều dạng người, sành sỏi, tinh ý là có thể nhìn ra ai là kẻ có tiền đồ, nhìn ra rồi lặng lẽ dõi theo người ấy xem điều mình đoán trúng hay trượt thực sự là trò giết thời gian hấp dẫn.

 

Cái thú thứ hai chính là: đau khổ lớn nhất của đời người là khi muốn khóc mà không khóc nổi, không giãi bày được nỗi lòng. Ai trên đời chẳng ít nhất một lần trải qua cảm giác ấy, có điều đào nương còn có thể nương tựa vào cây đàn của mình. Mắt không còn lệ thì để sợi dây tơ khóc hộ. Miệng không nói được thì để thanh âm ngân giùm.

 

Nghĩ ra hai cái thú vui ấy trong đêm nay mình đều có duyên nhìn qua cả, nàng liền cầm cây đàn lên, nhẹ nhàng áp nó vào người, cảm nhận sự thân quen của gỗ, của những sợi dây, phím đàn truyền đến da thịt mình. Thanh âm ngân lên, nhắm mắt lại có thể mường tượng như ai đó nắm chặt một vật nặng trong tay, để ghé sát mặt nước rồi mới buông thả. Trong bóng tối, giữa mênh mang là nước, vật ấy cứ chìm mãi, chìm mãi qua không biết bao nhiêu tầng nước thẳm rồi như tan biến mất. Ở đây chỉ có một khúc nhạc trầm làm cái tĩnh lặng, u hoài hết tản mát lại ngưng tụ vào trong một dải âm sắc như những hạt châu nối nhau trên sợi chỉ mảnh.

 

Khi Gia vương từ từ hướng ánh nhìn vào cô đào, cơn buồn ngủ đã ngấp nghé kéo sụp hai mi mắt của Đức Vượng lập tức bốc hơi bằng sạch. Đến người hay hầu hạ cạnh Tư Thành như hắn lắm lúc còn không chịu nổi cái lặng lẽ đến ngột ngạt, vô tận bao xung quanh vị chủ nhân này huống hồ những kẻ khác. Nhưng không chịu nổi thì cũng phải thuộc lòng một luật lệ: tuyệt đối không được tùy tiện tạo ra bất kì một âm thanh nào phá vỡ sự lặng yên ấy. Cô đào kia… Đức Vượng chưa kịp nghĩ xong đã ngẩn người nhìn Tư Thành rút cây sáo trúc. Vì đứng quá xa, hắn những tưởng chàng mỉm cười, thậm chí còn nghĩ nụ cười ấy cũng hợp lý thôi vì cô gái đối diện dung mạo đẹp đẽ, khí chất hơn người, tiếng đàn lại thực hay khiến kẻ đàn gảy tai trâu như hắn còn phải ngẩn ngơ.

 

Có điều, thực ra Tư Thành chẳng hề mỉm cười.

 

Từ trước đến nay, dù những người xung quanh biết giữ yên lặng đến thế nào, chàng cũng chưa từng quên đang có người hầu hạ hay chờ đợi mình. Một khi đã không quên thì không thể hoàn toàn thoải mái. Nhưng Ngọc Huyên thì khác. Không khó chịu, càng không chờ đợi Tư Thành lên tiếng, cô đào thờ ơ, lơ đãng nhìn ra ngoài hồ nước, nơi có những búp sen hãy còn non, vươn lên đu đưa trong gió. Rồi dần dần, con người ấy tan hòa vào chính sự im lìm tứ bề phẳng lặng. Thanh âm vang lên kia nảy sinh ra từ sự lặng lẽ, sự lặng lẽ của chàng hay của người con gái ấy đây?

 

Đôi hàng mi như nhành dương liễu rủ mềm xuống đôi mắt như bờ hồ phẳng lặng. Nàng kể lại mọi chuyện, thậm chí đến cả sự hiện diện lúc này hoàn toàn với tư cách của một kẻ qua đường. Không phải không sợ hãi, không bàng hoàng, không đau đớn. Chỉ là, tất cả những cảm xúc ấy đều bị sự trầm tĩnh, hiển nhiên chấp nhận đè nén xuống đến độ không cần thắc mắc, không cần hoài nghi, không cần than vãn những điều đại loại như: đàn ông trên đời coi trọng thứ gì đến nỗi sẵn sàng hi sinh con cái mình mang nặng đẻ đau… Giữa sự lạnh nhạt, hờ hững và sự thấu tỏ bình thản có một ranh giới cực kì mỏng manh. Một nữ nhân bình thường tuyệt đối không có cách cư xử như vậy. Một nữ nhân chỉ biết nhiều chuyện nội tình, đến mức được vợ chồng Đình thượng hầu tin tưởng cũng chưa chắc đã có cách cư xử như vậy. Thở dài, chàng áp thân sáo trúc lên môi. Nhập vào tiếng đàn trầm ổn của Hải Triều là âm thanh một dải chứa đôi phần day dứt, chua cay, vô tận tuôn chảy.

 

Miếng gảy trong tay vừa định hạ xuống, những ngón tay đã thay đổi vị trí, nhấn xuống những phím đàn nhô cao khác. Hải Triều đè ngón tay lên sợi dây liễu[4], thả buông những thanh âm trong nhất có thể tạo ra bằng cây đàn đáy, vừa mỏng nhẹ lại bay bổng để đệm cho tiếng sáo trúc mỗi lúc một ngân cao thánh thót, tựa hồ như vực nước được gạn đục khơi trong. Uyển chuyển như tấm lụa, lại vừa như một sinh vật tuyệt mỹ lấp lánh quẫy mình lột xác rồi vút bay, nàng không nén được thán phục liền đưa mắt nhìn Gia vương một cái. Những người thổi sáo điêu luyện hơn không phải nàng chưa từng gặp, cây sáo quý giá hơn, tạo tác tinh vi hơn nàng cũng đã có cơ may nhìn qua. Nhưng tất cả bọn họ, tính cả nam nhân người Ngô cầm cây sáo bằng bạch ngọc từng ghé giáo phường chẳng thể sánh được với khúc nhạc của người thanh niên trước mặt nàng. Cái sánh không được chính là khí chất mãnh liệt, hào sảng như thiên quân vạn mã, vững như bàn thạch ấy. Người có thể dẹp yên những ngổn ngang riêng tư để bình tĩnh, thấu đạt nặng nhẹ như vậy thật không tầm thường, thật vô cùng đáng sợ.

 

-Đức Vượng, mang rượu lại đây! – Tư Thành lớn tiếng sai bảo, tự nhiên hướng ánh mắt của mình tránh khỏi gương mặt thiếu nữ.

 

Nhìn những chén rượu hết đầy lại vơi, ngón tay đang tựa lên mặt đàn bằng gỗ cây ngô đồng khẽ động đậy. Mười ngón tay thoang thoảng hương thơm đặt lên tay Tư Thành, giữ bình rượu lại.

 

-Sao? Giờ cô cũng muốn ngăn ta?

 

Chàng lập tức rụt tay, nhướn chân mày vừa nghiên cứu vừa thách thức cô gái đối diện. Nâng cao cánh tay mảnh dẻ, Hải Triều rót đầy chén sứ trước mặt Gia vương. Trên mặt thứ chất lỏng ấy hãy còn sủi tăm, hương thơm nồng theo dòng nước trong vắt chảy ra từ chiếc bình hình chim phượng xếp cánh thoang thoảng lan khắp ngôi đình. Khẽ nhếch môi cười, chàng liếc mắt nhìn ả đào, nói:

 

-Cô muốn nhắc ta rượu rất thơm, đúng không?

 

Nàng tiếp rượu như thế chừng hơn mười chén, bàn tay cuối cùng cũng bị Gia vương giữ lại. Chàng nghiêng người, sai hoạn quan đứng hầu đổi ấm trà mới rồi tự tay rót một chén, đưa tới trước mặt thiếu nữ:

 

-Đừng để ta độc ẩm chứ.

 

Đôi mắt đen lướt qua miệng chén sứ men rạn màu ngà vẽ những họa tiết sắc chàm vô cùng tinh tế, nàng nhẹ nhàng cúi đầu, nhẹ nhàng đưa tay đón lấy. Ngón trỏ và ngón cái đặt nơi miệng chén, ngón giữa đỡ lấy đáy, không cần dùng lực nhiều nhưng vẫn nắm chắc vật nhỏ bé kia trong tay. Đó gọi là tam long giá ngọc. Chăm chú nhìn từng cử chỉ của cô gái, hơi rượu dâng lên đến mặt chàng tự nhiên bị cơn gió nhẹ thổi bay tản mát. Thưởng trà trước hết phải thưởng hương – ấy gọi là du sơn lãm thủy, chàng nghĩ vậy khi Hải Triều chầm chậm đưa qua đưa lại chén nước tỏa làn khói mờ dưới cánh mũi. Cuối cùng, cô mới nâng chén, kín đáo dùng bàn tay kia che phía trước rồi nhấp môi. Cảm vị đắng chát lẫn hương thơm trong miệng rồi mới từ từ nuốt xuống, để hậu vị ngọt thanh mờ ảo tan nơi cuống họng, đó mới là biết uống trà.

 

Trong làn sương bảng lảng đêm khuya, hơi lạnh tỏa ra từ nền đá xanh hòa cùng khí ấm của mùa hạ ngày một lấn lướt xuân tàn tạo thành một cảm giác êm dịu, khoan khoái. Thời gian ngưng kết, trời đất mênh mang, những vội vàng khỏa lấp, những cương nghị lạnh lùng cuồi cùng đều nhạt nhòa cả. Xoay xoay chén rượu rỗng không trong tay mình, chàng tự nhiên mỉm cười mỉa mai bộ dạng ngửa cổ nốc rượu của bản thân. Uống không nên để mua say. Làm người thì nên tỉnh táo, đừng để những cảm xúc ào ạt nhất thời làm mờ đi ý chí. Không phải bỗng dưng tao nhân mặc khách rỗi hơi thừa việc mà bày ra cách thưởng trà để tiêu phí thời giờ, ra vẻ thanh cao. Là lấy tĩnh chế động, lấy lặng yên để suy ngẫm nhân tình thế thái biến hóa khôn lường, đạo lý này Tư Thành hoàn toàn hiểu rõ. Dẹp bình rượu sang bên, chàng vén tay áo, tự châm trà cho mình.

 

Sai cô đào đến đây thưa chuyện, kể lại những điều xảy ra trong phủ Thiếu bảo chắc chắn không phải việc báo tin thông thường. Vì chàng, vì Cung vương, đến con cái mình họ cũng có thể không cần. Các vị đại thần muốn chàng hiểu rõ, đã dàn quân thì không thể thu lại. Một khía cạnh khác, đây ắt cũng là một nước cờ khích tướng, ép Tư Thành phải nhẫn tâm. Nhẫn tâm với ai, lòng chàng đã rõ.

 

-Cô không sợ sao? – Chàng nhạt giọng hỏi, khi thấy vẻ mặt không hiểu của cô gái liền nói thêm – Đưa tin cho ta, nếu để tân đế biết được nhất định sẽ rất thê thảm.

 

Một chút hoài nghi dâng lên trong lòng khi nàng chớp mắt, ngẩn người. Tư Thành ngờ vẻ ngạc nhiên như thể đến lúc này mới nghĩ đến điều đó của ả đào đối diện chỉ là dối trá. Đắn đo một lúc, Hải Triều lắc đầu, thoải mái đón nhận nụ cười hàm chứa sự giễu cợt của Gia vương. Cuối cùng, chàng phẩy tay:

 

-Cô về được rồi!

 

Mỉm cười lúc cúi đầu từ biệt, thiếu nữ khoác chiếc nón quai thao lên vai rồi cầm cây đàn đáy lên. Vải áo xột xoạt làm không khí thoáng chốc lại được thêm vào hương hoa bưởi ngòn ngọt, thơm tho. Vừa đặt chân xuống nền đất, Hải Triều đã nghe sau lưng có tiếng hỏi:

 

-Cô có quen đào nương nào ở Đông Kinh chơi độc huyền cầm không?

 

Ánh sáng hắt ra từ đình hóng gió làm cả gương mặt thanh tú như đóa hoa trong sương hiện ra trọn vẹn, xa xôi, mờ ảo. Nàng hơi nhướn lông mày, lãnh đạm nhìn người thanh niên sau lưng rồi bình thản lắc đầu.

 

-Nói cũng phải! – Tư Thành cầm chén trà lên, mỉm cười – Làm thân con gái, ai lại chơi đàn bầu bao giờ.

 

Chép miệng, vị chát tan hết quả nhiên để lại thanh ngọt đầy dư âm. Xoa bóp cổ và bờ vai đã mỏi nhừ, người thành niên cầm cây sáo trúc đứng dậy, tựa người vào cây cột gỗ để nhìn ngắm những búp sen non. Xưa nay, chàng chưa từng nghĩ hay để tâm đến cô đơn; thường cho rằng đám con hát suốt ngày xuất đầu lộ diện ấy sống thực tự do, phóng khoáng. Nhưng rồi, Tư Thành đã nhận ra, kẻ một mình trên đời này không phải chỉ có mình chàng; kẻ chàng vẫn cho là tự do tự tại kia cũng vướng vào những sợi dây chằng chịt của riêng họ sau dáng vẻ an nhiên vô tận.

 

Nói cho cùng, con người vẫn luôn cô đơn giữa mọi người.

 OST: Độc thoại

Album: Đường xa vạn dặm – Quốc Trung


[1] Ca dao

[2] Nhắc lại sự kiện: Lý Thái Tổ qua đời, truyền ngôi cho con trai trưởng là Khai Thiên vương Lý Phật Mã. Ba người con trai khác của Lý Thái Tổ không phục, đem quân phục trong cấm thành, gây sức ép lên Khai Thiên vương. Thân là Đông cung hoàng thái tử, lại không muốn tuyệt tình với anh em nhưng vì ba vương quá bức ép, Lý Phật Mã đành giao cho quần thần xử lý. Lê Phụng Hiểu đến cửa Quảng Phúc, rút gươm tức giận hô to rằng: “Bọn Vũ Đức vương ngấp nghé ngôi báu, không coi vua nối vào đâu, trên quên ơn Tiên đế, dưới trái nghĩa tôi con, vì thế thần là Phụng Hiểu xin đem thanh gươm này để dâng”. Lê Phụng Hiểu giết chết Vũ Đức vương. Việc Lý Phật Mã có thể nhận di chiếu đăng cơ kế vị, công lao rất lớn thuộc về Lê Phụng Hiểu (theo Đại Việt sử ký toàn thư).

[3] Loại bàn nhỏ bằng gỗ, có chân thấp, uốn hơi cong. Loại bàn này dùng đặt lên sập gỗ, bên trên đựng bộ đồ trà, điếu bát….

[4] Tên một trong ba sợi dây của đàn đáy

One thought on “[Độc huyền cầm] 1 – 22 (Phần 2)

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s