[Độc huyền cầm] 1 – 17


(Bản chỉnh sửa toàn bộ)

Chương 17: Ả đào

 

 

 

“Cổ tay em trắng như ngà
Con mắt em liếc như là dao cau.
Miệng cười như thể hoa ngâu
Cái khăn đội đầu như thể hoa sen”[1]

 

 

 17

 

 

 

 

 

 

Giữa cánh cửa mở ra ngoài hiên và buồng ngủ phía trong có một khoảng trống, đặt trên đó tấm bình phong khung gỗ, căng tấm vải trắng thêu hoa thủy tiên, đóa nào cũng như tỏa hương thơm, ẩn hiện trong làn sương mỏng trang nhã, êm dịu. Nhìn qua, người ta dễ tưởng đấy khuê phòng của tiểu thư nhà nào chứ không phải nơi ở của các đào nương. In trên tấm vải thêu ấy là cái bóng con con mờ mờ, không rõ là thứ gì. Hải Triều ngồi co, vòng tay ôm lấy hai cẳng chân, dựa lưng vào tường, đầu tựa lên khung gỗ lim. Ánh mắt mơ hồ của nàng nhìn phần cửa trưng ra ngoài trời đã dần bạc màu theo mưa nắng, nhìn những sợi vân trắng già nua trên thớ gỗ rồi trông xuống những nụ hồng hồng của cây đào trồng trên sân giáo phường. Cánh cửa bức bàn mở rộng làm gió lạnh ùa tới, cuốn mấy sợi tóc mái mềm mại bay lòa xòa nhưng Hải Triều chẳng thèm đưa tay gạt đi. Cái kiểu ngồi thu lu, im lìm trong góc nhà ấy như một thói quen, càng làm nàng trông nhỏ bé hơn ngày thường, dọa người không để ý một phen giật mình. Chị Phượng vẫn bảo đứa bé này y như một con ma xó là vì như vậy.

 

Mấy đầu móng tay bấm lên cổ chân, tuy qua hai lượt váy lụa vẫn để lại dấu vết. Mới mấy hôm trước, vụ chém đầu ở pháp trường làm máu tanh tưới ướt mặt đất, chảy thành dòng mà chỉ quay đi quay lại, cảnh tượng đã sạch bong như chưa từng có cảnh đầu rơi máu chảy. Lưỡi đao bén giáng xuống, tia máu tươi phun ra theo đường cầu vồng, bắn lên gương mặt như tượng đồng đen, lên bộ ngực vạm vỡ để trần của đao phủ. Cái đầu người lăn lông lốc trên nền cỏ úa làm đám đông nhăn mặt quay đi, xuýt xoa mấy tiếng. Cảnh tượng năm xưa cha bị xử chết Hải Triều không hay, nhưng chắc chỉ có hơn chứ không thể kém cái chết của Nguyễn Kiệt. Tuy đứng xa xa nhưng nghĩ lại khung cảnh trong buổi chiều áp Tết ảm đạm ấy, nàng không khỏi thấy ruột gan lộn lên, chỉ muốn gập người, nôn thốc nôn tháo.

 

-Em còn ngồi đấy sao? – Kim Oanh khom người lạy tạ rồi hạ lễ trên cái bàn thờ tạm bợ. Chị cất giọng nửa như quở trách, nửa lại như lo lắng khi trông bóng thiếu nữ in trên bức bình phong. Nhìn mấy tầm bài vị của ông bà chủ, cô đào thở dài rồi lặng lẽ thu xếp các thứ, cất vào rương khóa kĩ.

 

Đáy mắt đen chỉ thoáng chút xao động khi cánh cửa gỗ kèn kẹt khép lại. Tiếng vải áo xột xoạt, mùi xạ hương trong chiếc túi lụa màu quan lục trên cổ Kim Oang đưa tới nồng đậm khi chị ngồi xuống, nắm lấy mấy ngón tay thon, lạnh ngắt của Hải Triều.

 

-Người chết thì cũng đã chết rồi, em hà tất phải đau lòng như vậy?

 

Đôi hàng mi cong cong rủ xuống tựa lá liễu bên bờ hồ. Mấy đầu ngón tay trong lòng bàn tay ấm nóng của Kim Oanh cử động rất nhẹ, nếu không để ý sẽ chẳng nhận ra. Hơi thở như gió lọt qua song, mãi một lúc sau Hải Triều mới nhỏ giọng nói:

 

-Người đàn bà ấy nhất định không tha sao? Hôm rồi là bác Kiệt… Em… thực sự không biết sẽ phải chịu đựng thế nào nếu người đó là chị hay cô Thịnh.

 

Giọng nói run run, cánh mũi phập phồng nhưng tuyệt nhiên không có nước mắt. Dáng vẻ ấy làm cô đào Oanh thoáng rùng mình. Thế mà khi gương mặt nàng ngẩng lên, môi điểm một nụ cười tươi tắn, đuôi mắt cong xuống, trên đôi má trắng hồng là lúm đồng tiền mờ mờ. Hải Triều đứng dậy, thay bộ quần áo nhàu nhĩ bằng mấy lượt áo lụa. Ngoài cửa vọng vào tiếng nhạc cụ, tiếng bước chân người bước trên sàn gỗ, hồi hộp, phấn khích một cách khẩn trương nhưng lại không quá ồn ào.

 

-Hoàng cung ấy là thế nào… hôm nay tiểu thư sẽ biết. Biết rồi, dù cô quyết định ra sao em cũng vẫn theo, không nửa lời oán thán. – Kim Oanh giúp nàng chỉnh lại vạt áo, thì thầm.

 

Hải Triều nghe những lời ấy rồi ngước lên, đôi môi nhẹ cười, siết bàn tay Kim Oanh trong bàn tay mình:

 

-Em biết mình đang làm gì mà!

 

 

 

 

Trong từ đường, hai hàng đào – kép đứng song song, cúi mình lạy tạ trước hương án. Tĩnh lặng đến mức nghe được cả tiếng gió rất nhẹ lướt qua làm cánh cửa gỗ đung đưa, tạo thành mấy tiếng kèn kẹt. Những ngón tay của thầy Nguyễn và ông trùm Tuân mới rời khỏi chân nén nhang, ánh mắt của các cô đào, anh kép không hẹn mà cùng hướng đến gương mặt nghiêm nghị, trang trọng của ông cụ tóc bạc phơ búi gọn trên đầu. Đằng hắng mấy tiếng, thầy Nguyễn chầm chậm bước ra giữa gian nhà, đưa mắt nhìn đám học trò rồi cất giọng. Tiếng nào của cụ cũng chắc, vang như âm trống cái:

 

-Giáo phường Khán Xuân có mở mày mở mặt được không quyết định ở cả đêm nay. Thầy tin các con đều đã đợi ngày này, đã chuẩn bị đủ để phô diễn tài nghệ bậc nhất của mình trước quan gia và quan lại trong triều. Có điểm này ta muốn các con nhớ cho rõ: Đêm nay không phải một canh hát như mọi ngày. Những vị khách từng nghe tiếng đàn, tiếng hát của các con hôm nay không còn là người từng lui đến giáo phường nữa. Phải trình diễn những ngón đàn tuyệt nhất, những giọng ca điêu luyện nhất. Phải phô ra cái kiêu hãnh, tươi đẹp, rạng rỡ không phải của cá nhân ai mà là của giang sơn gấm vóc. Đó chính là giá trị cho sự tồn tại của chúng ta.

 

-Thưa vâng! – Mọi người trong từ đường cúi đầu, kính cẩn muôn phần.

 

Bàn tay ta… – Thầy cất giọng sang sảng.

 

Bàn tay ta là nghiệp của ta, là quả của ta! – Đám học trò đáp, đều nhau tăm tắp.

 

Bàn tay ta…

 

Bàn tay ta là tài của ta, là đức của ta![2]

 

Những lời ấy đến con bé người ở, thằng nhỏ sai vặt trong giáo phường cũng đều thuộc nằm lòng, là điều đầu tiên những đào, những kép phải học, đến chết cũng không được quên. Mấy đầu ngón tay nhàn rỗi khẽ miết vào nhau, Hải Triều nhớ cảm giác cầm que tre gảy xuống sợi dây tơ, nhớ cảm giác cần đàn cong mảnh trượt đi giữa những ngón tay mình, ngoan ngoãn, vâng lời, thuận theo sức uốn, thả mà tạo ra những thanh âm rung động đến tận tâm can. Nàng chợt nghĩ đi đâu. Trong bọc vải được giấu kĩ trong chiếc hòm đặt dưới gầm giường, hai tờ giấy mỏng nằm lặng lẽ, là một điều gì đó quan trọng lắm, quan trọng với nàng nhưng lại vô thanh, vô sắc trong mắt người đời, trong dòng đời cuồn cuộn. Sợ rằng thanh âm của nó còn mỏng manh hơn cả tiếng con chuồn chuồn kim vỗ đôi cánh trong suốt, màu của nó còn nhạt hơn cả sắc nước giếng ao làng.

 

Cuộc đời Hải Triều đến giờ từa tựa như một con đường ngoằn ngoèo trong chạng vạng tà dương, khi mờ, khi tỏ. Dù nàng bước về phía trước lẫn ngoảnh lại đằng sau đều chẳng có lấy một bóng người. Dường như chẳng thực sự thích, chẳng thực sự yêu, cũng chẳng thực sự nhớ một điều gì ngoài những cung đàn, nhưng nàng biết đến lúc chết đi rồi, nàng không muốn cả đời mình chứa toàn những điều hư ảo, mù mờ. Mẹ không thể ở bên cha làm một đôi phu thê như chim liền cánh nhưng cuối cùng, những giọt nước mắt của bà cũng đã có thể rơi trên những con chữ của ông. Cuối cùng, bà cũng cho Hải Triều lời đáp trung thực nhất cho chính tuổi thơ chênh vênh của nàng, trung thực đến nỗi dù có cố ru bản thân trong sự ngọt ngào bao biện đến thế nào, nàng vẫn biết mình đang nói dối. Và giờ, nàng chỉ cần hoàn thành nốt điều duy nhất bản thân có thể làm cho Mai Loan, hoàn thành nó và tự tìm cho mình đáp án về người nàng gọi bằng “thầy”.

 

Cảnh cửa gỗ lim dày cả tấc đóng chìm vào cổng thành bằng đá, viên nào viên nấy đẽo gọt vuông thành sắc cạnh, đặt khít lên nhau nặng nề mở ra. Tiếng bánh xe gỗ miết lên nền gạch đá xanh những âm “lục cục” thật trầm. Cấm binh nghiêm nghị, khuôn mặt ai cũng mang một biểu cảm cứng nhắc như nhau. Thứ lay động duy nhất chỉ có vạt áo của họ hơi bay lên khi gió lạnh luồn qua cửa thành mái vòm nghe “ào” tới một tiếng. Trong lúc hai vị đại nhân của Thái Thường tự cùng thự Đồng Văn trao đổi gì đó với ông trùm Tuân, Hải Triều ngước lên đọc biển đề ba chữ Bắc Thần Môn[3]. Giáo phường Khán Xuân ở phía Đông kinh thành nên từ lâu, nàng đã quen với cửa Đông Hoa cùng tường thành phía ấy, quen nhìn phương đình tám mái với đầu đao long phượng cong cong kiêu hãnh, vút mình trên bầu trời trắng xanh lồng lộng. Nền trời quang đãng, đến cả mây cũng đứng im được điểm những lá cờ ngũ sắc phần phật tung bay trong gió. Trừ biển đề, cửa Bắc Thần và cửa Đông Hoa chẳng mấy khác biệt. Có chăng mạn Bắc kinh sư không náo nhiệt, ồn ào bằng khu Đông, không khí lại thêm cái thâm u, tĩnh mịch. Ngắm nghía một hồi, Hải Triểu nghĩ đến mình của những ngày trước, đã từng nhìn để mà nhìn cổng thành vòi vọi ấy. Đám dân đen chân đất mắt toét chẳng ai mường tượng được sau những cánh cửa Đông, Tây, Nam, Bắc trổ ra trên bức tường Hoàng thành, khung cảnh bên trong xa hoa, tráng lệ đến nhường nào. Còn bây giờ, nàng chỉ cần bước một bước chân mà thôi.

 

-Xin ông nhẹ tay một chút! – Anh Thuận van vỉ lo lắng khi cấm binh bước tới, thẳng thừng vạch chiếc túi lụa bao quanh cây đàn đáy trong tay anh, kiểm tra kĩ càng. Nói cây đàn đó là sinh mệnh của một anh kép cũng chẳng quá chút nào, nên nhìn những bàn tay thô kệch kia lật qua lật lại nhạc cụ bằng gỗ mỏng manh, người thanh niên xót lắm nhưng lại không dám nói quá to bởi sợ quan trên mếch lòng. Anh thở dài mấy lượt, nhăn mặt quay đi.

 

Trông cảnh tượng ấy chẳng ai nói với ai tiếng nào, mọi người lẳng lặng mở hết túi vải, cởi bỏ những sợi dây thừng buộc quanh những hòm đồ để quân lính theo lệ khám xét cẩn thận. Một con kiến, một cọng cỏ cũng không để lọt. Chỉ là qua một cánh cửa nhưng thế giới bên trong chính là cấm địa, nhất cử nhất động của những kẻ bên ngoài được phép bước vào đều bị giám sát nghiêm ngặt, tuyệt đối không được để sơ xuất. Hải Triều đã nghĩ thế khi một cung nữ già dẫn các cô đào đến cái lều vải dựng tạm, bên trong có đến chục thị nữ trẻ măng, lạnh lùng, cao ngạo đợi sẵn. Ánh mắt họ xét nét từng đường nét, chi tiết nhỏ nhất trên cơ thể những người đối diện.

 

-Cởi quần áo ra!

 

Bà cung nữ ra lệnh, đôi mắt hẹp quét xuống khiến các đào nương vội cúi mặt, ngượng ngập làm theo. Mặt đất chẳng mấy chốc đầy những dải lưng, áo lụa, khăn nhiễu đủ màu. Dù hàng ngày đám con ở vẫn hầu hạ Hải Triều thay đồ, vấn tóc, nhưng lần đầu tiên bị những người lạ mặt chạm vào người qua một chiếc yếm mỏng, thiếu nữ không khỏi rùng mình.

 

-May mà chị Oanh đã dặn cả đám không đứa nào được đeo túi hương vào cung. Không thì phiền phức phải biết! – Phượng cúi người nhặt chiếc áo sa mỏng lên, giúp Hải Triều mặc vào, miệng tiếp tục thì thầm – Hương liệu ấy trong dân gian thì chẳng sao. Nhưng với những nơi thế này, các quan trên sợ chúng ta bỏ thử độc dược gì vào đó.

 

-Chị Oanh cái gì cũng biết, lễ nghi đầy đủ nhưng tại sao đội nữ nhạc trong cung lại…

 

Phượng mạnh tay siết dải dây lưng quanh eo thiếu nữ, chớp chớp đôi mắt lúng túng rồi ậm ừ cho qua chuyện:

 

-Là chị ấy không muốn.

 

Cuối cùng việc khám xét cũng xong, vị đại nhân của Thái Thường tự cũng cất giọng nói vỏn vẹn mấy chữ:

 

-Đi theo ta!

 

Trời xuân hãy còn rơi rớt cái buốt giá của ngày đông chưa tàn hẳn. Gió vuốt lên vòm cửa thành bằng đá xanh, luồn vào tay áo còn lạnh hơn nữa. Người cuối cùng bước qua, cánh cửa gỗ lim cũng chậm chạp đóng lại, nuốt chửng chút âm thanh phố chợ bên ngoài. Vệt sáng mờ trải trên con đường xuyên qua cổng thành bị nhuộm sang màu tối và mở ra sắc màu tươi hơn ở đầu bên kia. Tiếng hơi thở, tiếng những đôi hài vang vọng trong không gian của đá. Bất giác, hai bàn tay Hải Triều dù lạnh ngắt nhưng lại ươn ướt mồ hôi. Những nha môn, phủ, bộ… của triều đình đằng sau bức tường Hoàng thành xưa nay nàng chỉ nghe đồn, cuối cùng cũng đã có thể tận mắt trông thấy, để cái cảm giác thâm nghiêm tôn quý, tĩnh mịch đến mức lấn át con người xô tới, khiến trong lòng không khỏi run lên sợ hãi. Sợ hãi và cả nghẹn lời.

 

 

“Con đường thầy đã từng đi qua…”

 

 

“Bầu trời thầy đã từng ngước nhìn…”

 

 

“Không khí thầy đã từng hít thở…”

 

 

“U… nơi cả đời u chẳng thể nào trông thấy, giờ con được tận mắt nhìn rồi!”

 

 

“Nơi thầy và tam phu nhân Nguyễn Thị Lộ…”

 

 

-Đừng nghiêng ngó linh tinh! Ta không có cả ngày cho các ngươi đâu! – Vị đại nhân sẵng giọng làm mấy cô đào trẻ giật bắn mình, thôi đưa mắt tò mò ngắm nghía khắp nơi.

 

Mũi hài nhẹ bước trên những viên gạch hoa chanh. Gió lạnh lướt qua đôi gò má nhợt nhạt dưới sắc phấn hồng. Thanh âm của những sợi dây đàn, nàng chợt muốn nghe thấy những thanh âm tuyệt diệu ấy, muốn tự tay mình tấu lên những âm sắc ấy. Kí ức tuổi thơ của nàng, thứ kí ức mà Mai Loan sống trong đó, chỉ cần những sợi dây tơ rung lên sẽ có thể hiện hữu trong đời thực.

 

-Huyên… – Kim Oanh khẽ gọi, nhìn thẳng vào gương mặt thoáng chút suy tư của cô gái đi sát cạnh. Những suy nghĩ trong đầu thiếu nữ không phải chị không thể nhìn ra, nhưng lại chẳng biết phải nói thế nào mới đúng, đành lảng sang chuyện khác – Mẹ của em, chắc chắn bà muốn nhìn thấy em hôm nay.

 

-Có lẽ thế!

 

Lúm đồng tiền mờ mờ hiện lên trên má thắm khi Hải Triều mỉm cười.

 

-Cũng… có lẽ không.

 

Những lời ấy chẳng ai nghe thấy trừ chính bản thân nàng, như hòa vào tiếng lá cây xao xác, như tan vào sự tĩnh lặng dưới những mái ngói mũi hài đỏ nâu trầm mặc.

 

 

 

 

***

 

 

 

Diên Ninh năm thứ ba (1456). Mùa xuân, tháng giêng, ngày mồng ba, ban đại yến cho các quan, Lạng Sơn vương Nghi Dân dự yến.

 

 

 

Qua cửa Hoàng thành rồi đến vài ba lượt cửa Cung thành, cuối cùng cánh cửa gỗ son bóng loáng, bên trên vẽ những hình rồng ẩn trong mây bằng màu vàng kim từ từ mở ra, phô diễn một khung cảnh bề thế, tráng lệ đằng sau.

 

-Điện hạ, mời người! – Đào Biểu khom lưng, hướng cánh tay về phía trước tỏ ý dẫn đường. Miệng ông mỉm cười nhưng trong lòng lại chất sự lo lắng, bồn chồn cao như núi. Hoàng đế giao cho viên nội quan lo liệu chuyện tiếp đãi các thân vương tối nay, tuyệt đối không được để ai phật ý. Khẩu dụ là vậy nhưng Đào Biểu thừa biết người mà Bang Cơ hàm ý nhắm đến chính là anh trưởng Lê Nghi Dân chứ không phải hai vị hoàng thân quốc thích còn lại. Một đằng khác, ông cũng biết tự thu xếp làm sao để trở thành tai mắt của Hoàng thái hậu, thăm dò tâm ý vị phiên vương lớn lên ở nơi rừng núi xa xôi kia.

 

-Phiền ông rồi, Đào Biểu! – Nghi Dân nhã nhặn đáp rồi nâng vạt áo màu xanh thẫm tựa như gần chuyển sang sắc đen, bước chân qua ngưỡng cửa bên.

 

Cung Đan Phượng gồm hai dãy nhà bề thế, bên trên có thêm tầng gác, nằm đối xứng nhau qua một chiếc ao vuông mùa hè hoa súng nở rất đẹp. Tính ra phải có đến cả trăm cây cột gỗ đỡ lấy mái điện lợp ngói ống hoa cúc, viên nào viên nấy đều nhau chằn chặn, xếp khít tạo nên những đường uốn sóng nước mềm mại. Sắc đỏ lộng lẫy nhuộm lên không gian nhờ những chiếc đèn lồng lớn đung đưa trong gió xuân mơn trớn dịu dàng, khác hẳn những gió lốc quất xuống rát cả mặt người nơi non cao vực thẳm. Môi hơi mỉm cười, Lạng Sơn vương ngẩng cao đầu, sải những bước chân vững chãi băng qua khoảng sân rộng lát gạch Bát Tràng màu nâu đỏ, hướng thẳng đến nơi đang tập trung những người là người. Bóng chàng đổ dài trên nền gạch, to lớn, kiêu hãnh nhưng lại có gì như cô độc. Thứ không khí tràn ngập hương hoa thanh tao, cao quý đưa qua cánh mũi, không gian với tầng tầng lầu gác quy củ, tôn nghiêm nơi Cung thành trải ra trước mắt đều là thực, là nơi Nghi Dân được sinh ra nhưng giờ chàng chỉ thấy xa lạ. Mảnh đất chưa lúc nào người thanh niên ngừng tưởng nhớ, ngừng mong muốn có thể đặt chân trở về, đến khi mặt đối mặt lại không gọi tên nổi những cảm giác trong lòng là vui mừng, hồ hởi hay căm ghét, nghi ngờ. Chưa kịp để bản thân nghĩ kĩ về điều ấy, chân đã bước lên bậc cấp, miệng đã mỉm cười khách khí khi nhận những cái vái chào của quan lại trong triều.

 

-Chúng thần bái kiến điện hạ.

 

Những lời ấy đập vào tai như tiếng trống trận, mạnh mẽ và thực tế. Ánh mắt vờ kính cẩn nhưng kẻ này đã nhếch khẽ môi cười mỉa mai; kẻ kia đã ngầm ước lượng giá trị của chàng hệt như xem một món hàng ngoài phố. Thứ tôn kính, e sợ giả dối lẫn cả khinh thường lẩn trong không khí trang trọng của cung Đan Phượng vào một ngày xuân. Còn nghĩ linh tinh gì nữa? Lúc này, chàng là Lạng Sơn vương Lê Nghi Dân, giờ chàng đứng đây để đối diện với Lê Bang Cơ thêm một lần nữa.

 

-Mừng huynh trưởng trở về! – Khắc Xương cúi đầu tỏ ý chào rồi ngẩng lên. Nụ cười  trên môi người thanh niên hòa nhã, lịch sự đấy nhưng vẫn lộ ra chút xa cách, dè chừng trong ánh mắt.

 

-Chú là… – Nghi Dân làm bộ nhíu mày, ngập ngừng như đang lục lại trong trí nhớ rồi hồ hởi cất lời , khuôn mặt rạng rỡ hẳn ra – Khắc Xương, là Khắc Xương đúng không? Lâu quá rồi… Vậy còn em chắc là người được quan gia nhắc đến với anh hồi chiều… Là hoàng tử thứ tư của phụ hoàng – Tư Thành?

 

Ánh mắt tối thẫm sáng lên những tia nhìn như mừng rỡ của chàng dừng lại trên cậu thiếu niên vận áo gấm trắng với hình thêu nổi bằng chỉ cùng màu, ẩn hiện dưới lớp vải sa mỏng của chiếc áo khoác ngoài cũng tuyền màu trắng đục. Thắt lưng có những hình trang trí bằng bạc tinh xảo, nhưng nhìn từ trên xuống dưới chỉ để lại một ấn tượng giản tiện, khiêm nhường. Xem ra những lời Phan Bang nói lại về cuộc sống chỉ nhận tước phong, không nhận phủ đệ và bổng lộc của Bình Nguyên vương Lê Tư Thành không hề sai. Hai đứa em trước mặt Nghi Dân đều là những kẻ thực sự biết giữ mình, đủ tỉnh táo lẫn khôn ngoan để không biến bản thân thành điểm chú ý trong con mắt ưng diều của Tuyên Từ Hoàng thái hậu Nguyễn Thị Anh muôn phần tôn quý.

 

-Hoàng huynh! – Tư Thành đứng thẳng dậy, cất lời ngắn gọn, dùng ánh mắt không quá mừng rỡ cũng không quá xa xôi để đánh giá người trước mặt. Một sự quan tâm vừa phải, một sự tò mò vừa phải rất hợp với vị thế đứa con út của vua Thái Tông, vốn được sinh ra trong dân gian nên hoàn toàn xa lạ với những người anh trai máu mủ của mình.

 

-Em út của chúng ta đã lớn rồi. – Nghi Dân thuận miệng đáp, nhìn Khắc Xương rồi lại nhìn Tư Thành – Đây cũng có thể tính là lần đầu tiên anh em ta gặp mặt. Sau này mong có dịp gặp các em ở Lạng Sơn. Nhất định lúc đó sẽ thịt con lợn ngon nhất, mở vò rượu thơm nhất để đãi tiệc!

 

Trước sự sảng khoái, cởi mở của anh trai, Khắc Xương cũng thấy dễ chịu hơn một chút, gật đầu:

 

-Em rất nóng lòng!

 

-Hai vị điện hạ bắt chuyện với Lạng Sơn vương rồi, chúng ta nên thế nào đây?

 

Mấy vị đại nhân đứng cách đó một khoảng, miệng thì rôm rả chuyện trò nào việc ở phủ bộ, chuyện gia đình con cái nay đã đến tuổi dựng vợ gả chồng, rồi đến cả chuyện đào ao thả cá nhưng tai, mắt lại len lén hướng về phía các vị thân vương, nghe ngóng tình hình.

 

-Cứ để xem sao đã! – Một người tắng hắng, nói khẽ – Có thế nào thì các vị ấy cũng chỉ như người xa lạ, câu chuyện giữa họ liệu kéo dài được đến bao giờ.

 

Hoàng đế công khai triệu kiến Lạng Sơn vương, lại cho bày yến ở cung Đan Phượng, quần thần ai cũng ngầm hiểu trong lòng vị chủ nhân nhỏ tuổi của họ hẳn đã có những tính toán, hẳn đã muốn sử dụng người anh trai này. Vì tình thân cũng được. Vì năng lực cũng được. Thậm chí chỉ để vỗ yên nỗi hận thù của người anh trưởng đã bị chính Bang Cơ cướp đi vị trí ở Đông cung cũng chẳng sao. Làm thần tử không cần phải suy nghĩ sâu xa đến thế, để được lâu dài chính là phải biết đón ý đế vương, biết dựa vào người nên dựa. Những người đang đứng tại cung Đan Phượng đều là những vị đại thần, những viên quan nhiều năm lăn lộn giữa chốn quan trường, lý lẽ đơn giản ấy có khi nào lại không hiểu. Nếu là ngày trước, họ ắt sẽ vì Tuyên Từ Hoàng thái hậu và đám người hậu thuẫn, phục tùng mà không dám làm bừa. Nhưng từ khi Hoàng đế chấp chính, thế sự đã dần đổi khác.

 

-Lần này điện hạ lai kinh chắc thấy kinh thành có nhiều đổi khác? – Một người đàn ông lại gần bắt chuyện.

 

Nhìn trang phục trên người, đoán chừng kẻ đứng trước mặt mình vào hàng quan tam phẩm trong triều, Nghi Dân liền quay sang, từ tốn đáp:

 

-Lúc rời kinh thành, ta tuổi còn nhỏ nên cũng không nhớ được nhiều. Giờ quay lại, thấy tất cả đều mới mẻ.

 

-Tới đây điện hạ đã có dự định gì chưa? – Viên quan nọ hỏi tiếp, lời lẽ như thể đang nói chuyện thời tiết nhưng dụng ý thật thì hoàn toàn khác.

 

-Ta định sẽ xin ý kiến của quan gia về một số việc ở Lạng Sơn. Chung quy vẫn là chuyện củng cố binh lực, giữ vững biên giới để đề phòng nhà Minh gây hấn.

 

Nghi Dân đón nhận những lời hỏi han, thăm dò bằng sự cởi mở xã giao, thân thiện. Chàng cũng biết lời đáp của bản thân làm nhiều người hụt hẫng vì tưởng có thể lợi dụng được gì nếu chàng quay lại kinh thành Những chân đèn sứ trắng trang nhã vẽ hình long phượng sum vầy, lưỡng long tranh châu… bằng men lam tươi đẹp, cao đến hơn nửa cây cột chống, tỏa ánh sáng vàng ấm áp. Giữa những người là người, Lạng Sơn vương cảm thấy gáy mình bị nhiều ánh mắt lặng lẽ dõi theo không chút kiêng nể. Tuyên Từ Hoàng thái hậu không thể ngồi yên. Dù dáng vẻ bà ta trưng ra ban chiều lúc Nghi Dân đến thỉnh an tại cung Diên Khánh có đường bệ, ung dung thế nào chăng nữa, thì giờ ắt trong lòng ả dâm phụ đang như lửa đốt. Đuôi mắt lướt qua ngự tọa dát vàng trống không đặt chính giữa cung Đan Phượng, trong một thoáng rất nhanh mới thấy sự ôn hòa bị xé rách bởi ngọn lửa ngùn ngụt đầy sát khí.

 

-Xem ra tối nay có vài người ăn không ngon rồi! – Đinh Liệt nhẹ mỉm cười, nhỏ tiếng cất lời đủ để mình Nguyễn Xí nghe thấy.

 

Người đàn ông vuốt chòm râu, nhìn dáng vẻ trầm ngâm không màng thế sự của Bình Nguyên vương, tự thấy vị chủ nhân này càng ngày càng giỏi. Chàng dễ dàng trưng ra vẻ thư sinh nhạt nhẽo, vô hại, làm một đứa em ngoan đi sau Tân Bình vương tham gia vào những cuộc chuyện trò rôm rả nhưng vô giá trị.

 

-Nếu như không phải vì những chuyện đã qua thì cuộc đoàn viên hôm nay thực sự vô cùng mĩ mãn! – Thiếu bảo hơi cúi đầu, cất giọng. Từng lời ông nói ra, Đinh Liệt đều hiểu cả. Bốn người con trai kế thừa dòng máu sục sôi, cương nghị của gia đình đế vương, mỗi người mỗi vẻ nhưng đều tỏa ra thứ khí chất đáng để người đời nể trọng. Cảnh tượng xa hoa, lộng lẫy và tuyệt mĩ tại cung Đan Phượng này thực đáng để tổ tiên thì tự hào mà người đời thì trầm trồ thán phục.

 

Vờ như không thấy ánh mắt của Nguyễn Xí, Tư Thành chậm rãi ngồi xuống vị trí về bên phải ngự tọa đã được chuẩn bị sẵn cho mình, liền kề bàn của Khắc Xương. Nhìn chếch sang bên kia, bàn của người anh cả Lê Nghi Dân hãy còn bỏ trống.

 

-Điện hạ, người dùng trà chứ ạ? – Đào Biểu khom người, nói khẽ vào tai chàng.

 

-Những lời ta nói không sai đúng không? – Chàng đưa chén ra, cất giọng vui vẻ.

 

-Điện hạ dạy phải ạ! – Xem chừng viên hoạn quan già có vẻ vui khi những lời Tư Thành nói đều thành thật cả, không tránh khỏi trong lòng có chút cảm kích.

 

Xoay chén nước trong tay, cái khiến chàng tập trung vào không phải bầu không khí xung quanh, cũng chẳng phải chuyện của Nghi Dân hay những điều liên quan đến Tuyên Từ. Nhìn những gương mặt mình từng gặp tại nhà Đinh Liệt hồi bữa tiệc cuối năm ngoái, trong đầu Tư Thành nổi lên suy nghĩ về những việc hoàng huynh đã làm. Từ khi Thái Tổ Cao hoàng đế dùng võ công định yên thiên hạ, điều hay cũng nhiều mà điều dở cũng chẳng kém. Ai nói tiếng lành đồn xa thì chàng không biết, chỉ biết tiếng xấu đồn còn xa hơn. Người đời cũng chỉ nhớ điều thị phi chứ mấy ai nghe tiếng tốt. Như chuyện khai quốc công thần lần lượt bị trừ khử, hạ bệ trải suốt từ thời Thái Tổ, qua đời Thái Tông rồi dây dưa đến tận đương kim thánh thượng bây giờ làm trong dân gian ngoài mặt thì kính sợ, nhưng sau lưng, trong lòng lại nhỏ to tán đồng với nhau rằng, hoàng thất được chim thì bẻ ná, được cá thì quăng nơm, thỏ chết treo cung, ăn ở chẳng có trước sau chi hết.

 

Chuyện triều đình, chuyện quan trường có nhiều điều không phải lúc nào cũng có thể công khai, theo đường thẳng mà đi, Hoàng đế cũng có cái khó của Hoàng đế. Nhưng những lý do ấy chẳng cấm được dân chúng dị nghị, đàm tiếu, tự nhiên đứng về phía những người làm thần tử bị khinh bạc. Quan gia là bậc hậu sinh nhưng dám truy phong, trả lại điền sản cho những trọng thần khai quốc từng bị Thái Tổ rồi chính Hoàng thái hậu xử chết vì tội mưu phản như Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả. Đến cả những quyền thần ức ấu chúa bị Thái Tông dẹp bỏ như Lê Sát, Lê Ngân, Bang Cơ cũng rất quan tâm, con cái những người đó ai có năng lực vẫn được bổ dụng như thường. Người chết rồi thì thôi, những điều làm bây giờ chỉ còn mang tính xoa dịu, thể hiện lòng nhân từ của người đang sống mà thu phục nhân tâm trong thiên hạ.

 

-Quan gia giá đáo! Hoàng thái hậu giá đáo! – Nội thị vừa lên tiếng, quần thần liền quỳ xuống hành đại lễ. Không khí đột ngột ngưng kết lại, trở nên tĩnh lặng.

 

Con đường từ cổng chính bên ngoài, qua cửa chính giữa của cung Đan Phượng dẫn thẳng đến ngự tọa được trải thảm đỏ. Cung nữ, nội thị, cấm binh đi trước dẫn đường, Hoàng đế cùng Hoàng thái hậu chậm bước đi sau. Cờ tán, võng lọng tuy không uy nghi rợp trời như những lúc làm đại lễ nhưng cũng là sự phô bày quyền lực của người đương nắm giữ đế vị. Dừng ánh mắt của mình trên người Nghi Dân, Bang Cơ mỉm cười rồi nhìn khắp lượt cung điện được Đào Biểu thu xếp ổn thỏa, tỏ ý hài lòng rồi ban tọa cho các thân vương cùng quan lại. Chỉnh lại vạt áo hoàng bào, chàng nghiêng người hướng về phía anh trai, vui vẻ:

 

-Hoàng huynh mới lai kinh mà đã bắt anh dự yến thế này, thật có chút gấp gáp.

 

-Ân điển của quan gia thần cảm tạ còn chưa hết, sao dám có những suy nghĩ ấy. – Nghi Dân chắp tay, hơi cúi người xuống, kín đáo đưa mắt liếc nhìn biểu cảm trên gương mặt đẹp đẽ của Nguyễn Thị Anh.

 

-Anh em hòa mục, quân thần trên dưới một lòng, đúng phận vị mà cúc cung tận tụy là phúc của quốc gia. Những buổi đoàn viên thế này rất có ý nghĩa, sau nếu có điều kiện quan gia nên lưu tâm hơn. – Nàng nhếch miệng cười, tiết chế và đoan chính. Những lời nói ra thấu tình đạt lý nhưng từng chữ đều như mũi tên nhọn nhắm thẳng vào Lạng Sơn vương.

 

-Thái hậu dạy phải. Thần xin ghi tạc trong lòng!

 

Ánh nhìn không chút né tránh của Nghi Dân hướng đến đôi mắt nhung của Thị Anh không chứa ác ý nhưng lạnh lùng, sắc bén chợt khiến người phụ nữ thấy khó chịu. Hoàng đế khoát tay, giọng chàng cất lên nghe gần gũi hơn hẳn những lúc thượng triều:

 

-Chủ ý của trẫm coi đại yến hôm nay là dịp gặp mặt tân xuân. Các ái khanh không cần quá câu nệ lễ quân thần, cứ thoải mái ăn uống chuyện trò.

 

Chàng vừa dứt lời, Đào Biểu truyền xuống dưới: “Tấu nhạc!”. Giai điệu trầm bổng nhất loạt cất lên, đồ ăn cũng được cung nữ sắp hàng bưng ra. Cái người ta nghe được là tiếng rót rượu, tiếng chén bát va vào nhau, tiếng cười nói rôm rả, thân tình hòa trong âm thanh của dàn đại nhạc. Đầu đũa chạm vào miếng thịt gà trên chiếc đĩa sứ men trắng ngà, nhưng thay vì trơn láng lại mang vẻ mộc mạc. Trên nền ấy, thợ thủ công vẽ hoa mai màu chàm, nét nào cũng mềm mại, mỏng mảnh thay vì sắc lam quen thuộc làm chàng ngẩn người. Đến một cái đĩa cũng là hàng thượng phẩm, phải là gốm Chu Đậu tinh hoa bậc nhất. Đem vật ấy so với cuộc sống ở Lạng Sơn, Nghi Dân chợt thấy nực cười.

 

-Chẳng hay Ngô Sung viên vẫn được an khang chứ ạ?

 

Tư Thành hơi ngạc nhiên khi Nguyễn Đức Trung hỏi vậy, liền nhã nhặn trả lời:

 

-Mẫu thân ta nhờ phúc của quan gia và Hoàng thái hậu nên vẫn mạnh giỏi.

 

-Nói đến chuyện sức khỏe, thân mẫu con dạo này thế nào? – Tuyên Từ đặt bát xuống, nhìn Khắc Xương rất quan tâm.

 

-Thưa, năm nào cứ đến mùa xuân, bệnh cũ của thân mẫu con cũng tái phát. Xin Hoàng thái hậu chớ bận lòng. Qua hết tháng giêng thì mọi chuyện lại ổn thôi.

 

Đưa chiếc khăn lụa lên lau miệng, người phụ nữ khẽ lắc đầu, thở dài rồi chẹp miệng:

 

-Ta đã sai Nhập nội thiếu úy Lê Lăng đợt này đi thị sát Tây đạo, tranh thủ tìm về vài loại thuốc quý trong dân gian để thân mẫu con dùng. Cả con nữa ấy, hiếu thuận là tốt nhưng cũng phải biết khuyên thân mẫu của mình. Tuổi tác bà ấy cũng lớn rồi, vì tụng kinh niệm Phật mà ăn chay trường mãi thì bao giờ bệnh mới khỏi được? Phật tại tâm, lòng thành sẽ được chứng, đừng nên tự làm khó mình như vậy.

 

-Con xin thay mặt mẫu thân cảm tạ ý tốt của Hoàng thái hậu! – Khắc Xương vội đứng lên, toan cúi mình hành lễ.

 

-Hạ Liên, ngươi mau đỡ điện hạ đứng dậy.

 

Thị Anh liếc mắt ra lệnh cho thị nữ theo hầu rồi nói tiếp:

 

-Là người nhà cả, con không nghe quan gia nói sao, hôm nay không cần câu nệ lễ tiết. Lễ Thượng nguyên[4] này ta muốn cùng Bùi Thái phi[5] và Ngô Sung viên, vốn đều là bậc bề trên trong hậu cung, đi dâng hương cầu quốc thái dân an ở chùa Sùng Khánh Báo Thiên. Các con về nhớ thưa lại với thân mẫu như vậy.

 

Những điều ấy nếu đặt ở một bối cảnh khác, một thời điểm khác thì chẳng có gì để bàn nhiều. Nhưng Tuyên Từ Hoàng thái hậu lại chọn đúng lúc đại yến có mặt Hoàng đế, các phiên vương cùng quần thần, ở giữa cung Đan Phượng nói ra những lời ấy chắc chắn có tính toán. Những ngón tay siết quanh đế ly rượu của Nghi Dân trắng bệch. Vẻ thản nhiên bên ngoài kia phải nhìn kĩ mới thấy có chút gượng gạo. Liếc mắt sang Nguyễn Xí, nhìn bộ râu ông hơi rung rung khi mỉm cười, Tư Thành điềm nhiên cho miếng nem vào miệng. Cách làm này của Nguyễn Thị Anh không hiểu sao lại khiến chàng cảm thấy rất thú vị. Ngoài mặt thì thờ ơ, lãnh đạm nhưng thực chất trong bụng, cậu thiếu niên đã cười thầm. Những người dự yến không phải là lũ ngốc, nghe những điều Hoàng thái hậu nói hẳn đã hiểu ý tứ bên trong. Phi tần hậu cung danh chính ngôn thuận của tiên đế nói đi nói lại chỉ còn ba người. Hôm nay có thể cùng vui vẻ nhưng không có nghĩa sự thật về địa vị của mẹ, địa vị của con trong chớp mắt có thể thay đổi.

 

“Đúng là không phải hạng đàn bà tầm thường!” – Tư Thành nghĩ thầm, tiếp túc thưởng thức đĩa nem công chả phượng được Ngự thiện phòng làm rất khéo đặt trước mặt mình.

 

-Thần là võ tướng thô kệch, thơ phú không thông thạo nên chẳng dám múa rìu qua mắt thợ. Nhưng trước hoa đào thắm sắc giữa đêm xuân, trộm nghĩ nếu không có thơ, có rượu thì đúng là tiếc lắm! Nhân cảnh đẹp hôm nay, dám xin Tân Bình vương hạ bút làm một bài thơ để hạ thần được mở mang tầm mắt!

 

Một vị tướng tuổi ngoài tứ tuần, trong thì rượu đã ngấm, ngoài lại có cảnh đẹp, liền bạo gan đề nghị. Nghe tài xuất khẩu thành chương của Tân Bình vương đã lâu, biết tiếng thơ văn chàng ý tứ thâm sâu nhưng lại có cái thanh cao thoát tục của thần tiên nên vừa có người lên tiếng, chúng đại thần đã hồ hởi hưởng ứng ngay. Đặt đôi đũa xuống, Khắc Xương khẽ liếc điệu bộ ung dung của Tư Thành rồi lại nhìn Hoàng đế, ngập ngừng:

 

-Chuyện này…

 

-Khởi bẩm quan gia, thần đệ thấy ý kiến này rất hay! – Tư Thành mỉm cười, hướng về phía Bang Cơ – Nhưng tiệc rượu chưa tàn, Khắc Xương huynh theo thói quen nhất định sẽ không làm thơ vào lúc này. Liệu chúng ta có thể để sau được không ạ?

 

-Chuyện này trẫm hiểu nhưng trẫm cũng muốn nghe thơ của hoàng huynh. Tư Thành, ý em thế nào? – Hoàng đế vui vẻ tiếp lời.

 

Ngẫm nghĩ một hồi, cuối cùng chàng nói:

 

-Nhất thời thần đệ chưa nghĩ ra có chỗ nào trong cung vừa có hoa đào, vừa có cả không gian thoáng đãng hơn cung Đan Phượng. Thơ của Khắc Xương huynh gặp cảnh đó mới thật xứng.

 

-Thế này đi. – Bang Cơ chợt nhớ ra điều gì bèn ra lệnh – Đào Biểu, ngươi thu xếp lầu Vọng Nguyệt trông xuống vườn đào bích cho trẫm. Trẫm muốn sau đại yến cùng các thân vương và chúng ái khanh thưởng hoa, uống rượu, ngâm thơ. Nghi Dân, nhất định hoàng huynh không được khiêm tốn, phải phô diễn hết tài nghệ của mình đấy!

 

-Thần không dám không tuân theo ý chỉ của quan gia – Lạng Sơn vương hơi giật mình khi đột nhiên Hoàng đế trẻ con lên tiếng kéo sự chú ý của mọi người đổ dồn lên chàng – Có điều, thần không giỏi văn chương, mong quan gia và các vị ở đây đừng chê cười.

 

Tự tay mình múc một bát canh có nước dùng trong vắt với mấy miếng măng khô cắt vừa ăn, rồi sai Hạ Liên bưng đến cho Bang Cơ, Thị Anh liếc nhìn các thân vương, ngọt giọng nói:

 

-Quan gia tuổi không còn nhỏ, cũng nên nghĩ đến việc lập hậu cung rồi. Có tu thân, tề gia thì mới nói đến chuyện trị nước, bình thiên hạ được. Chưa kể đó cũng là đạo hiếu của con cháu với tiên tổ.

 

-Mẫu hậu, nhi thần biết mà! – Đón lấy bát canh nóng hổi từ tay Hạ Liên, chàng cười thoải mái, nhìn Nghi Dân và Khắc Xương rồi nói – Nhưng huynh trưởng còn chưa kết hôn, con nào dám trước.

 

-Quan gia! – Nguyễn Thị Anh nói vẻ như giận lắm rồi nhìn mấy vị thân vương, cười khổ – Đấy, các con xem quan gia nói vậy có nghe được không?

 

-Hoàng thái hậu, chúng con vẫn còn nhỏ mà! – Khắc Xương trông vẻ mặt có phần khổ sở và chịu đựng của Hoàng đế, nhẹ giọng an ủi, lái câu chuyện theo hướng khác.

 

-Lại còn nói mình nhỏ nữa! Nghi Dân, con là con trưởng của Tiên đế, con nói cho ta nghe xem thế nào mới phải!

 

Cách nói chuyện mềm mỏng lại như ẩn chút trêu đùa, giận dỗi thường tình của một người mẹ của Thị Anh khiến chàng hơi bất ngờ. Mới trước bà ta còn ngọt nhạt mỉa mai cạnh khóe, sau đã đổi giọng ngay được. Ngồi thẳng lưng lại, chàng đáp:

 

-Riêng chuyện này thần nghĩ Hoàng thái hậu dạy phải. Quan gia là vua một nước, hậu cung định sớm ngày nào thì tốt ngày ấy.

 

-Con là huynh trưởng, nói vậy thì phải vậy rồi! – Nàng mỉm cười, dường như chỉ chờ để nghe những lời ấy – Vậy chuyện yên bề gia thất của con đến đâu rồi?

 

-Thần tài hèn đức mỏng nên đến giờ vẫn chưa chọn được ai xứng với vị trí vương phi.

 

Nghi Dân thong thả đáp, cuối cùng cũng hiểu thâm ý của người đàn bà cung trang lộng lẫy kia. Thị Anh điềm nhiên nói tiếp:

 

-Là con cháu hoàng tộc, chuyện hôn nhân đại sự vừa là việc riêng nhưng cũng là việc chung của nước nhà, nhất định phải chọn người xứng đáng để bách tính trông vào làm gương. Ở đây các vị đại thần đều có sự nghiệp hiển hách, là rường cột của nước nhà. Con gái họ xuất thân danh môn, tam tòng tứ đức, cầm, kì, thi, họa đều đủ cả. Nghi Dân, con thử xem thế nào, biết đâu có thể chọn được mối tơ hồng vừa ý. Ta nhất định sẽ tác thành cho các con.

 

Được lời như cởi tấm lòng, chén rượu trong tay Nghi Dân chớp mắt đã được người ta rót đầy. Chàng nhất thời chưa hiểu thì người đàn ông trung tuổi vừa rót rượu kia đã cười cười nói trước:

 

-Thần xin kính điện hạ một chén. Thần họ Trình, đang làm ở bộ Lại. Hôm nay tuy mới gặp điện hạ nhưng trong lòng đã vô vàn cảm kích, ngưỡng mộ. Con gái hạ thần tuy hãy còn ít tuổi nhưng sách vở, chữ nghĩa cũng có chút thông hiểu. Hạ thần không biết con mình có nhân duyên được nâng khăn sửa túi cho điện hạ hay không?

 

-Điện hạ, thần họ Nguyễn làm ở…

 

Chẳng mấy chốc bên cạnh những quan lại đang đi chúc rượu, luận thơ, có những người lại gần Lạng Sơn vương để giới thiệu con gái mình, nuôi mộng kết thành thông gia với hoàng tộc.

 

-Thiếu bảo, chẳng phải ngài cũng có một đứa con gái sao? – Tư Thành nhạt giọng nói, nghe như gợi ý nhưng ẩn sâu bên trong có thể thấy sự châm biếm lạnh lùng.

 

-Điện hạ, người đừng trêu thần nữa! – Nguyễn Xí cười đáp, đưa mắt nhìn đám quan lại rồi kín đáo nhìn biểu cảm trên gương mặt Tuyên Từ. Hoàng đế mừng lắm nhưng nụ cười trên đôi môi đỏ màu son của Hoàng thái hậu thì không chứa dù chỉ một chút thiện ý.

 

Nàng phẩy tay ra hiệu cho Hạ Liên bưng liễn thức ăn đậy kín nắp sứ mà vẫn có thể ngửi thấy mùi béo ngậy của chân giò hầm quyện với mùi của các vị thuốc bắc. Cô cung nữ khéo léo lách mình qua đám đông, cẩn thận đặt khay gỗ sơn son thếp vàng xuống trước mặt Nghi Dân, kính cẩn thưa:

 

-Bẩm điện hạ, Hoàng thái hậu nói điện hạ đi đường xa mệt nhọc nên đã đích thân dặn Ngự thiện phòng chuẩn bị món ăn này. Đây là thành ý của lệnh bà, mong điện hạ nhận ạ!

 

-Ngươi về nói với Hoàng thái hậu, Nghi Dân ta vô vàn cảm kích người! – Chàng nhìn liễn sứ trước mặt, nhìn cô cung nữ theo sát cạnh Thị Anh như hình với bóng rồi lịch sự trả lời.

 

-Vậy nô tì xin lui.

 

Hạ Liên khom mình, bước lùi lại một bước rồi mới quay lưng rời đi. Không hiểu sao cô cung nữ cực kì khéo léo ấy lại va phải viên Lại bộ thị lang họ Trình. Cảnh tượng ấy không lọt khỏi mắt Tư Thành. Chàng đặt tay lên đầu gối, lặng lẽ quan sát vở chèo hay, chỉ tiếc vì những người vây xung quanh Nghi Dân làm chàng không nhìn được biểu cảm trên gương mặt ấy. Tư Thành cũng tiếc vì Trần Phong không diễn trò cho chàng xem. Bộ dạng ông thầy nhấp nhổm, muốn lại gần Lạng Sơn vương để bắt chuyện lắm nhưng xem ra đầu óc vẫn còn đủ tỉnh táo.

 

-Nô tì vô phép, xin môn hạ[6] xá tội! – Cô cung nữ vội cúi gập người tạ lỗi.

 

-Không sao, không sao! – Người đàn ông phẩy phẩy tay, đương trong lúc cao hứng nên chẳng thèm nhìn Hạ Liên lấy một cái.

 

-Đa tạ môn hạ! – Nàng nhún xuống một cái rồi hơi ngước mắt lên, thưa – Nô tì thấy Lại bộ thị lang thật là người thức thời. Con gái lớn của môn hạ được Hoàng thái hậu yêu thích, liền được triệu vào cung làm bạn với quan gia. Giờ ngài còn định se duyên cho ái nữ thứ hai với Lạng Sơn vương hiển hách từng ấy. Đúng là được cả táo lẫn sung[7], thật khiến người ta ngưỡng mộ.

 

Lời lẽ nhũn nhặn, dáng vẻ khép nép nhưng từng lời từ đôi môi ấy làm Lại bộ thị lang họ Trình lạnh toát sống lưng. Hạ Liên không nói to, chỉ vừa đủ cho những người đứng gần cô nghe thấy. Không khí đương ồn ào đột nhiên thoáng lặng như tờ. Một cung nữ nhỏ nhoi nhưng ai chẳng biết đó là người tâm phúc kề cận cạnh Tuyên Từ Hoàng thái hậu. Bỗng dưng một ả hầu dám nói những lời như thế không phải do ăn gan hùm, gan báo. Lời của Hạ Liên chẳng qua cũng là chuyển tâm ý của Nguyễn Thị Anh mà thôi.

 

Đặt chén rượu xuống bàn, bờ môi tô son đỏ vẽ thành nụ cười thân tình nhưng lại sắc như dao:

 

-Ta tự nhiên nhớ ra, hình như có vài tù trưởng người Tày, người Nùng muốn gả con gái họ cho con, đúng không Nghi Dân? Về mặt quốc gia đại sự mà nói, những cuộc hôn nhân ấy nếu thành được là chuyện tốt. Năm xưa, chẳng phải Quận Ai vương – hoàng huynh của phụ hoàng các con – cũng nên duyên với chính phi Lý thị vốn là người man[8] đó sao? Ta nghe Tiên đế nói Thái Tổ Cao hoàng đế rất vừa ý người con dâu này. Xem ra không phải chỉ có nữ nhân dưới xuôi mới tốt.

 

-Thần nghĩ nhân duyên cứ thuận theo ông Tơ bà Nguyệt thôi ạ.

 

Trong một khoảnh khắc rất nhanh, Nghi Dân đã trừng mắt nhìn lại Nguyễn Thị Anh. Ả đàn bà ấy cũng điềm nhiên đón nhật, trong đáy mắt sóng sánh ý cười.

 

 

 

***

 

 

 

Bữa tiệc mới kéo dài đến nửa buổi.

 

Lấy cớ muốn về cung Diên Khánh nghỉ ngơi, lại nói thêm không muốn vì sự có mặt của mình mà anh em quan gia cùng các vị khanh tướng, đại thần phải giữ lễ thành ra kém vui, Nguyễn Thị Anh liền đứng dậy. Người rời đi nhưng Hạ Liên vẫn ở lại, phụng chỉ phải cùng Đào Biểu hầu hạ quan gia. Nhạc ngừng, dưới thềm những ca nương thuộc đội nữ nhạc lần lượt đứng dậy, khom lưng lui cả ra ngoài làm mọi người được phen xì xào bàn tán.

 

-Đi thôi! – Kim Oanh vỗ nhẹ lên vai Hải Triều, nhỏ giọng nhắc.

 

Từ nơi nàng đứng chỉ có thể ghé mắt nhìn thấy bóng áo vàng kim của Tuyên Từ Hoàng thái hậu từ từ đi khuất, tuy không nhìn rõ mặt nhưng có thể thấy dáng vẻ cao sang, quyền quý toát ra trong từng cử chỉ nhỏ nhất của người ấy. Ánh đèn trong cung Đan Phượng được bỏ bớt để dồn toàn bộ sự chú ý qua những dãy cửa được mở rộng, hướng ánh mắt người ra khoảng sân gạch lộng gió sáng trưng đèn đuốc.

 

-Là khúc Bình Ngô phá trận[9] sao? – Có người thảng thốt cất lời khi trông thấy tấm lụa điều phủ lên chiếc trống lớn dựng lên giữa sân điện được kéo xuống.

 

Trùm Tuân đưa mắt sang hai bên nhìn những đào hát, kép đàn của mình, khẽ gật đầu. Cánh tay ông nổi gân khi siết mạnh dùi trống. Một tiếng động rền vang như tiếng sấm khi dùi gỗ đánh xuống mặt da. Một tiếng trống, một tiếng chiêng làm người người im bặt, trang nghiêm ngắm nhìn. Những tiếng rền, chắc, vang động, những âm thanh hối hả khi gõ vào tang trống hợp với tiếng hô đanh, mạnh của những cậu thanh niên khỏe khoắn, nửa người để trần, cơ bắp cuồn cuộn. Họ dậm chân, vung tay diễn lại cảnh luyện tập, cảnh xung trận tựa thiên quân vạn mã, khí thế ngút trời, trăm người như một của nghĩa quân Lam Sơn khi xưa.

 

-Điệu múa phụ hoàng sáng tác ý tứ thật sâu xa! – Nghi Dân không tránh khỏi xúc động, đột ngột lên tiếng.

 

-Năm xưa trẫm từng xem điệu vũ Bình Ngô phá trận này một lần, công thần khi ấy có người xúc động đến phát khóc[10]. Giờ được xem lại cùng với anh em của mình, cảm giác đúng là rất khác nhau! – Bang Cơ đáp, miệng mỉm cười nhìn những cánh tay rắn rỏi của những chàng thanh niên giơ lên, tái hiện lại bước tiến quân vững chắc, quyết liệt.

 

Giọng điệu thân thiết, chân tình của Hoàng đế làm Lạng Sơn vương thấy không thoải mái. Sự mừng rỡ hiện lên trong đôi mắt thật thà khi Bang Cơ nhìn chàng nhập cung thỉnh an hồi sáng khiến Nghi Dân thấy nực cười. Chàng không khỏi hoài nghi xem trong từng cử chỉ, từng lời nói kia bao nhiêu là thật. Phần lại thấy kẻ đối diện mình chỉ là một thằng nhóc ngây ngô đội một chiếc mũ quá rộng. Kẻ như thế vốn không đủ sức để lèo lái thiên hạ khi không biết đề phòng, không biết ngờ vực.

 

Kẻ dưới vốn không được phép nhìn thẳng vào long nhan nhưng khoảng cách từ sân điện bên ngoài đến ngự tọa của Hoàng đế trong cung Đan Phượng khá xa nên dù ngẩng đầu cũng chỉ có thể thấy một người mặc áo hoàng bào ngồi ngay ngắn, chăm chú dõi mắt trông theo. Xen vào giữa hàng ngũ của những chàng trai là những người vận áo ngắn thân màu đỏ, thắt dải lụa hồng quanh eo, chân quấn xà cạp[11] để ống quần không loe ra mà ôm vào cổ chân gọn ghẽ. Người khi đứng dậy, kẻ lúc lại khom lưng xuống nhịp nhàng như sóng nước. Nổi lên trên tiếng trầm vang của trống sấm, tiếng tùng tùng của trống cái là những âm thanh đanh giòn của những chiếc trống con cầm trên tay những người áo đỏ. Mặt trống tựa trăng rằm che trước những gương mặt ấy, những cánh tay cầm chiếc dùi hết gõ vào mặt da lại gõ vào tang trống son nhanh nhẹn, hoa lên đẹp như múa. Những chiếc trống được đưa lên cao theo đường vòng cung mềm mại, để lộ ra dung mạo tuy đã cải nam trang nhưng vẫn tươi tắn, rạng rỡ của các cô đào. Quả là một cảnh tượng biến ảo trong khoảnh khắc, khi tiến, khi thoái, khi lại xoay mình tạo thành một tổng thể hùng tráng, dứt khoát mà vẫn nên thơ.

 

Tiếng trống dồn làm tim người đập mạnh. Mắt không theo kịp những đôi bàn tay nhanh nhẹn gõ lên mặt da căng. Âm thanh rộ lên như tiếng ngàn quân rồi đột ngột dừng lại, tạo nên sự tĩnh lặng đến sững sờ. Những vầng trán dưới khăn chít quanh đầu bằng vải đỏ ướt mồ hôi. Hơi thở dồn dập từ mũi, từ miệng những vũ công phả vào màn đêm lạnh những bóng khói mờ. Hải Triều vội vàng hít thở không khí lạnh buốt, đưa đôi mắt long lanh thứ mừng rỡ không nghĩ có thể hiện lên trên nền đen thẳm ấy để nhìn Kim Oanh. Nhưng, đợi nàng không phải gương mặt tươi tắn của chị mà là một vẻ trầm tư, khiến thiếu nữ nhận ra khoảng cách tuổi tác thực sự giữa mình và người con gái ấy. Vị thế này, cảm giác này đổi lại có lẽ hợp lý hơn. Tiếng vỗ tay của Hoàng đế kéo theo những lời khen ngợi khác, khiến những ca nương, kép đàn có thể thả lỏng đôi vai, thở ra nhẹ nhõm. Họ cất tiếng cười và giờ mới cảm thấy rõ rệt cơ thể mình đang run lên trong cái rét cắt da cắt thịt ra sao.

 

-Mấy cậu mặc áo vào đi, còn phải tấu nhạc hầu nửa còn lại của đại yến nữa. – Ông trùm Tuân đưa tay áo lên thấm mồ hôi, đè nén sự vui mừng, vênh vang của bản thân xuống để cắt đặt mọi việc – Còn các cô, không phải đứng đấy cười duyên với nhau. Nhanh tay nhanh chân đi thay đồ rồi trở lại đây!

 

-Tôi tưởng tim mình rơi ra ngoài rồi chứ! – Có người đặt tay lên ngực, nói như sắp khóc.

 

-Miệng cười liên tục, giữ nguyên một vẻ mặt làm giờ cứng hết cả hàm rồi!

 

Cô đào Phượng lấy tay xoa xoa má rồi chạy tới, khoác vai cả Hải Triều lẫn Kim Oanh, luyên thuyên coi như chẳng thấy nét mặt tư lự của một người. Dù nhìn thấy ánh mắt có ý dò hỏi của Hải Triều, chị chỉ lắc đầu, nói lảng sang chuyện khác. Hàng mi dài rủ xuống, bờ môi mềm hơi mím lại, chân bước nhanh qua hành lang sau những cây cột gỗ. Cảnh tượng loang loáng, sáng tối loang loáng. Bất giác, Hải Triều cảm thấy có ánh mắt dõi theo mình nhưng cụ thể là gì, đến khi nàng ngoái lại đã thấy tan biến cả rồi.

 

Một dư âm lặng lẽ, mơ hồ.

 

 

 

 

Đan hai bàn tay vào nhau dưới tay áo rộng thêu hình song long miệng ngậm hột châu bằng chỉ kim tuyến vô cùng sinh động, Hoàng đế nhìn khắp lượt ba vị thân vương đến quần thần trong cung Đan Phượng, từ tốn cất lời:

 

-Nhân Tết Nguyên Đán, đúng tiết xuân mới trẫm lại muốn nói chuyện xưa. Điệu vũ Bình Ngô phá trận vừa nãy, các khanh hẳn cũng hiểu được phần nào tâm ý của trẫm. Xem trong sách sử Đại Việt, những bài học của tiền nhân nước Nam đáng để quân thần của bản triều ta lấy ra làm mẫu mực mà học tập không hề thua kém sử sách phương Bắc. Trẫm đọc thấy vua Trần cùng các vương hầu “xong buổi chầu cùng nhau ăn uống, có khi trời tối không về thì đặt gối dài, chăn rộng cùng ngủ liền giường với nhau”. Thánh Tông nhà Trần thường căn dặn: “Thiên hạ này là thiên hạ của tổ tông, người nối giữ cơ nghiệp tổ tông nên cùng anh em trong tông thất chung hưởng phú quý. Anh em là xương thịt rất thân, gặp lúc lo thì cùng lo, gặp lúc vui thì cũng vui”. Giờ họ Lê ta nhận mệnh Trời mà cai trị thiên hạ, xem lại những lời nói ấy của cổ nhân thấy vẫn còn rất đúng.

 

Các vị thân vương cùng quan lại đứng dậy, chắp tay hướng về phía Thiên tử xin lĩnh ý. Cánh tay trước mặt từ từ hạ xuống, Tư Thành nhìn nét mặt tâm đắc, tán đồng của Khắc Xương rồi nhìn sự lặng lẽ, kính cẩn của Nghi Dân, đôi lông mày thoáng cau lại rồi mới ngồi xuống, tham gia vào những câu chuyện xã giao vui vẻ xung quanh.

 

-Điện hạ, thần kính người một chén! – Nguyễn Xí nâng chiếc ly lên, quay sang phía Tư Thành, cười khà khà thoải mái không khác gì những lúc ở nhà.

 

-Ta chưa đủ tuổi uống rượu, mượn trà thay vậy! – Chàng trang trọng cầm chiếc chén lên, mượn tay áo rộng rủ xuống mà nhếch môi nói khẽ. – Những lời vừa này, theo ngài là nhắm vào ai?

 

-Tiểu hổ trong cung Đan Phượng này chỉ có một con. Hổ đến từ đâu thì điện hạ biết rồi đấy! – Ông nheo nheo mắt đáp theo kiểu nửa đùa nửa thật. – Nhưng… hàm ý của quan gia xem chừng hoàn toàn khác Hoàng thái hậu.

 

-Hoàng huynh là hoàng huynh! – Tư Thành đặt chiếc chén sứ xuống, thong thả thưởng thức món ăn trước mặt. Vừa đụng đũa xuống đã thấy Khắc Xương đứng lên chúc rượu Bang Cơ rồi bước về phía Nghi Dân, dù trong lòng không mấy hứng thú nhưng vai diễn này phải diễn cho trọn, chàng đành tự buộc bản thân đứng dậy.

 

 

 

 

Khép cánh cửa sổ, Hải Triều khom lưng ngắm mình trong gương, đưa tay chỉnh lại khăn lượt vấn tóc màu hồng đào, miết nhẹ lên dái tai có lỗ nhỏ dùng để đeo khuyên, nhớ lại cái lần chị Phượng đè nó ra để anh Thuận mạnh tay cầm cây kim to đã hơ qua lửa, xuyên hai lỗ mà rùng mình. Nước da trắng ngần chợt thấy lành lạnh, trơn trơn, đôi mắt liếc sang thấy Phượng dí đôi hoa tai bằng đá đỏ như máu lên má nàng, nói:

 

-Chị Oanh thấy đôi khuyên này hợp với con bé không? Da trắng như trứng gà bóc với màu đỏ, quá đẹp rồi!

 

-Hợp! – Cô gái quay sang, ngón út đang tô son lên môi ngưng lại, nhìn Hải Triều âu yếm – Xem ra em bỏ không ít công sức nhỉ?

 

Xòe tay cô em ra, Phượng bỏ đôi hoa tai vào, nói mà chẳng nhìn:

 

-Chẳng thế. Mười lăm tuổi rồi, đến lúc trở thành đại mỹ nhân của giáo phường Khán Xuân rồi, em cũng phải lấy lòng con bé một tí để sau này có cửa sống chứ. Huyên này, chị cho, con gái sao có thể không có ít đồ tế nhuyễn[12] chứ! Thôi trang điểm mau lên, đừng để ông trùm phải chờ. Em đi trước chị Oanh nhớ!

 

Chưa kịp để nàng phản ứng, Phượng đã chạy ra cửa, đi mất rồi. Lăn qua lăn lại đôi hoa tai trong tay, Hải Triều cúi đầu xuống thở dài.

 

-Được tặng quà sao lại mang vẻ mặt đó?

 

-Vì… em không nghĩ sẽ nhận được thứ tốt lành thế này. Chị không thấy em… không phải người có thể khiến người khác yêu thích sao?

 

Lấy que điên điển phơi khô, giã dập, phạt xéo một đầu dùng để vẽ chân mày cùng hộp bột phấn nút lụa điều, Kim Oanh ngồi xuống giường, môi hơi mím khi chăm chú đưa tay tô lại sắc phấn đã nhạt cho Hải Triều. Màu đen nhung của bột điên điển, màu phấn hồng phơn phớt, sáp son đỏ tươi làm những nét thanh nhã, hư ảo, lãng đãng trên gương mặt thiếu nữ hiện ra rõ nét, tươi tắn tựa hoa xuân khoe sắc. Chính lại mái tóc vấn trong khăn lượt, vuốt nhẹ lọn tóc đuôi gà cho cô bé, Kim Oanh lặng lẽ nhìn Hải Triều đeo chiếc kiềng bạc vào cổ, nhìn bóng hình trong chiếc gương đồng đưa đôi mắt sáng long lanh liếc mình.

 

-Là Ngọc Huyên, là Tiểu Kiều hay ai cũng được. Chị đã nói rồi, đào nương không khi nào được luộm thuộm, xoàng xĩnh, đó là tôn trọng quan viên, cũng là tôn trọng chính mình. Còn tiếng đàn… không phải chính là tiếng nói của chúng ta sao? Nếu người khác nhìn ra, nghe ra chân tình ấy mà yêu quý em thì hãy mở lòng đón nhận. Hiểu không?

 

Rút cây trâm bạc tinh xảo trên đầu xuống giắt vào mái tóc cho Hải Triều, chị cười, vuốt nhẹ tay lên má nàng:

 

-Thứ này là chị với cô Thịnh đặt làm cho em, mong mọi việc về sau được bình an, viên mãn… Phải, làm đào hát chẳng có gì là không tốt!

 

Những lời cuối ấy tựa như cô gái nói với chính mình.

 

 

 

 

 

***

                                       

 

 

 

Trong âm thanh dàn đại nhạc của giáo phường Khán Xuân, Hải Triều thầm so sánh những cung đàn, những giai điệu đương vang lên với những gì ban nãy nàng được nghe đội nữ nhạc cung vua chơi. Nhã nhạc cung đình, nhạc cụ cung đình đúng là có nhiều khác biệt với chốn dân gian, ấn tượng tuy đẹp đẽ, tôn quý nhưng khuôn mẫu cứng nhắc, học theo nhà Minh phần nhiều đâm ra trở nên xa lạ[13]. Năm xưa cha nàng từng nhận việc định lại nhã nhạc dùng trong Cung thành với hoạn quan Lương Đăng, do không hợp ý nhau mà xin trả lại công việc ấy, không làm tiếp nữa. Nghĩ đến đấy, đôi môi màu hồng đào thoáng nhoẻn cười, nom cả gương mặt tựa như đóa bạch mai rung rinh trong sương mờ. Nàng không biết năm ấy Nguyễn Trãi từng có ý tưởng thế nào, từng mong muốn điều gì, chỉ cảm thầy lúc này, mình ngồi trong cung Đan Phượng, dùng những nhạc cụ dân gian mà tấu lên khúc nhã nhạc, tự thấy cũng là một sự xếp đặt thú vị của tạo hóa.

 

-Khúc nhạc này nghe vừa giống, vừa khác khúc ban nãy, thần không tinh thông nhạc lý, mong được quan gia chỉ giáo. – Nghi Dân nghiêng người về phía Bang Cơ, mở đầu cuộc đối thoại.

 

-Khúc nhạc lúc đầu là đội nữ nhạc cung đình tấu lên. Còn khúc nhạc huynh trưởng vừa nghe là của giáo phường số một Đông Kinh chơi. Nhã nhạc trong cung lúc nào cũng có thể thưởng thức, không tránh khỏi khuôn mẫu, cứng nhắc thái quá, nên lần này trẫm mới cho gọi một giáo phường dân gian vào hầu.

 

-Thần nhờ ưu ái của quan gia mà được mở mang tầm mắt. Tinh hoa đất kinh kì thực sự không tầm thường. – Chàng cười đáp, gật đầu tỏ vẻ đã lĩnh hội được ý tứ sâu xa.

 

-Bẩm quan gia, thần nghe nói giáo phường Khán Xuân có một điệu vũ rất hay tên là Ngọc Nữ, được dựng nên bằng cảm hứng từ tổ khúc múa đèn nổi tiếng ở Lam Kinh, chẳng hay… – Một người lên tiếng, không nén được tò mò.

 

-Ngọc Nữ đến rồi! – Hoàng đế chỉ tay về phía trước làm những ánh mắt đồng loạt hướng theo.

 

Trước nay, mọi diễn xướng đều ở thềm dưới, đằng sau giải vũ, ca nương, kép đàn ngồi song song hai bên, lại sát cửa ra vào nên chỉ nghe thấy âm thanh, tuyệt nhiên không nhìn thấy cả nhạc cụ lẫn người. Các điệu múa đều chọn nơi bằng phẳng, rộng rãi, cách nơi ngự của Hoàng đế lẫn trăm quan một khoảng, rất ít khi có việc gọi con hát lại gần thế này. Lẽ ấy làm quần thần không hẹn mà cùng chăm chú nhìn theo bóng nữ nhân lướt tới thanh tao, quý phái. Sụp xuống lạy tạ long ân, đào nương toan đứng lên thì Bang Cơ lên tiếng:

 

-Trẫm nghe nói khúc nhạc này muốn trọn vẹn phải có đủ ba nhạc cụ cùng hòa tấu, là đàn tranh, đàn nhị và sáo. Ở đây có đàn tranh rồi, Bình Nguyên vương là người tinh thông âm luật, thổi sáo rất hay, Lễ bộ thị lang cũng có tiếng về tài chơi đàn nhị. Không phải lúc nào cũng có dịp tề tựu đông đủ, các ái khanh giúp vui một khúc được không?

 

Những ngón tay đặt trên thềm gạch đột nhiên co lại như giật mình. Hơi lạnh từ nền đất phả lên vầng trán làm Hải Triều biết đầu óc mình hoàn toàn tỉnh táo. Âm điệu này, giọng nói này tuy tôn nghiêm, cao quý nhưng nghe ra vẫn có cảm giác quen thuộc. Nàng liếc mắt sang hai bên chỉ thấy mấy đầu ngón chân trắng bệch vị lạnh của Kim Oanh lộ ra dưới gấu váy lĩnh đen tuyền, trơn mịn, thấy vị thân vương và Lễ bộ thị lang kia nâng tay áo rộng vẻ như đón lấy nhạc cụ. Khẽ nhắm mặt lại khi hít vào, nàng từ từ chống tay xuống, hơi ngẩng lên, vô tình để ánh mắt mình lướt qua gương mặt ấy. Lê Tuấn ngự trên ghế dát vàng, mình vận long bào, khóe miệng kín đáo vẽ thành một nụ cười trấn an nửa có nửa không, nhẹ như một cánh hoa bay khi nhìn sự sửng sốt, bàng hoàng lóe lên trong đáy mắt thiếu nữ. Đón lấy đĩa dầu đèn từ tay cung nữ, Hải Triều thấy mấy đầu ngón tay run lên không rõ vì sợ hãi hay vì sự rối rắm của những suy nghĩ mới nảy ra trong đầu.

 

-Thanh âm của phu nhân… – Kim Oanh nhìn thiếu nữ, mấp máy đôi môi căng mọng đỏ màu son, lúc nào trông cũng như đang cười trước khi hơi nhún người xuống.

 

Lời nói bỏ lửng ấy làm Hải Triều sững lại.

 

Ban nãy, điệu nhạc vừa dứt, sênh tiền[14] trên tay còn chưa hạ xuống, ông trùm Tuân đã đến vỗ vai bảo, đại nhân ở Thái Thường tự muốn đổi người chơi đàn. Nàng chưa kịp phản ứng đã thấy mấy ngón tay mình đeo những móng gảy vốn của chị Phượng, trong lòng cũng là cây đàn của chị Phượng. Cốc nhẹ vào trán nàng một cái, chị bảo: “Là nhị Kiều, phải là nhị Kiều mới được. Tôi dạy cô bao lâu như thế, cho tôi nở mày nở mặt một lần đi!”. Mọi sự chóng vánh đến mức khi ngồi xếp bằng trên nền đất, nhẹ đặt cây đàn lên đùi, vuốt tay lên những sợi dây căng, Hải Triều mới tin là thật. Nàng ngẩng lên, khẽ gật đầu với Kim Oanh.

 

-Là nhị Kiều của giáo phường Khán Xuân lâu nay vẫn được đồn đại sao?

 

Những lời rì rầm trong đám quan lại chẳng cần có cánh cũng tự lọt vào tai Nghi Dân. Làm bộ như chăm chú theo dõi, chàng tựa cánh tay vào thành bàn, chuyên chú để cố bắt cho được những tiếng thì thầm ấy.

 

-Cô nàng mặn mà kia là Đại Kiều Kim Oanh, ả đào nổi danh nhất Đông Kinh. Còn cô bé chơi đàn tranh xướng họa theo đích thị là Tiểu Kiều. Gặp Đại Kiều thì không quá khó, nhưng Tiểu Kiều thì…

 

“Tiểu Kiều?”

 

Danh xưng ấy khiến Nghi Dân ngoảnh sang bên, vờ như uống rượu với viên quan ngồi cạnh nhưng mắt dừng lại trên gương mặt nhìn nghiêng kia. Trong ánh nến nhạt, lại qua mấy người ngồi giữa, chàng chỉ thoáng thấy nước da trắng ngần, đôi mắt chăm chú nhìn xuống mấy sợi dây tơ. Cũng gọi là thanh nhã nhưng không mấy đặc sắc, mỹ lệ, người như vậy Phan Bang nói khiến Hoàng đế ưa thích cũng không phải hoàn toàn vô lý. Dù Đại Kiều kia có xinh đẹp, sắc sảo đến mấy, có yểu điệu lả lướt theo điệu múa đến thế nào, ánh mắt của Bang Cơ vẫn vô tình hay hữu ý dừng lại trên người đào nương nọ, trên cổ tay thon lộ ra dưới tay áo màu điều ẩn hiện sau lớp sa đen mỏng đằm thắm. Những ngón tay lướt đi trên những sợi dây đàn, mềm mại, uyển chuyển, dường như chỉ cần chạm nhẹ đã có thể tạo ra một dải âm thanh như nước chảy, tựa tấm lụa mỏng nhuộm đủ bảy sắc. Âm nhạc hóa ra cũng có màu, khi đỏ rực, lúc lại vàng kim, rồi chuyển qua chàm tím tĩnh lặng, quyện vào những tà áo tứ thân trên người Kim Oanh, mỗi lần xoay mình lại tung bay, để lộ ra một sắc.

 

Dáng vẻ thần tiên, gương mặt như ngọc khi hiện, khi ẩn sau tay áo, không cười nhiều mà mơ màng sương khói. Ngọc Nữ đặc sắc, huyền ảo bởi vũ công dù tiến hay lùi, nghiêng người giả làm nhành liễu hay đứng thẳng, mười ngón tay cong cong khi chụm, khi xòe như cánh hoa nở rộ, đĩa dầu đèn cháy sáng đặt trên đỉnh đầu tuyệt đối không được chao nghiêng chứ đừng nói là rơi vỡ. Chưa lần nào Kim Oanh múa đẹp đến thế. Dưới gấu váy lĩnh, chỉ có mười đầu ngón chân là bám trên nền đất, mọi cử động đều nhẹ nhàng như một cánh chim bay. Và, cũng chưa lần nào Hải Triều nghe khúc Ngọc Nữ được tấu lên đủ mọi cảm xúc đến vậy. Vị thân vương kia xem ra làm chuyện gì cũng giỏi. Tiếng sáo vút lên bình dị, trong trẻo, tuy hòa âm với những người chưa từng gặp gỡ, cũng chẳng có luyện tập nhưng vẫn dễ dàng theo kịp, nắm bắt được rất nhanh vẻ trong suốt của bản đàn. Thanh âm của sáo trúc, của đàn tranh vẽ ra chốn bồng lai tiên cảnh kì diệu bao nhiêu, thì tiếng đàn nhị lại chính là tiếng lòng phàm của con người bấy nhiêu. Là người trần mắt thịt trót thấy, trót yêu dáng vẻ của tiên nữ thiên cung.

 

 

Gần mà xa.

 

 

Thực mà ảo.

 

 

Cái còn lại chỉ là một giấc mơ đêm xuân, tỉnh dậy rồi ngẩn ngơ ngỡ mình thành Trang Chu mộng hồ điệp[15].

 

 

 

 

Canh hát tàn, thanh âm cũng dứt. Nhìn vẻ bần thần run rẩy của Hải Triều, Kim Oanh mỉm cười, đưa tay xoa đầu con bé. Xòe bàn tay nàng ra để chà qua chà lại cho ấm lên, chị quì xuống nền đất, nhìn vào đôi mắt mênh mang ấy:

 

-Em vui đúng không? Em nhìn thấy tiên cảnh của Ngọc Nữ đúng không? Chính là niềm hạnh phúc ấy, niềm hạnh phúc thầy Nguyễn vẫn bảo là hoa trong lòng các cô đào, dù có chuyện gì cũng phải giữ cho muôn đời, vạn kiếp nở rộ… Phu nhân… Dù thanh âm người tạo ra có đau khổ đến thế nào, chị vẫn nghĩ phu nhân vui vì còn có thể tấu nên khúc nhạc cho riêng mình.

 

Siết ngón tay Kim Oanh, Hải Triều ngước lên, hướng thẳng ánh mắt vào gương mặt tuyệt đẹp ấy:

 

-Ngọc Nữ… do chị viết nhưng xưa nay em được nghe mỗi hòa tấu đàn tranh cùng sáo. Cây đàn nhị kia chỉ được ông trùm với chị Phượng nhắc đến một lần. Tổ khúc này… là đóa hoa trong lòng chị đúng không?

 

-Phải nói có người khác viết cùng với chị mới đúng. – Cô thong dong đáp, lướt ánh mắt như một phiến lá rơi nghiêng ra ngoài trời tối đen – Hoa? Em không thấy cái Phượng nói ai chẳng có một đóa hoa thanh xuân trong lòng sao? Em lớn rồi, lớn rồi thì sẽ sớm biết đến tương tư.

 

 

Tương tư…

 

 

Mai Loan vẫn nói tương tư giống tơ ngó sen, dù cắt cũng không đứt, mỏng mảnh nhưng có thể kéo dài, kéo dài mãi đến vô cùng. Chỉ một đoạn tơ vương mà một đời quyến luyến. Kiếp người thực sự không thể né tránh những mối duyên tình hay sao?

 

 

 

 

Điện Trường Xuân tứ bề yên ắng.

 

-Cô đợi ở đây! – Đào Biểu liếc mắt nhìn cô đào một cái, cất giọng ôn tồn, trấn an. Nhưng lời vừa dứt, ông lại cảm thấy những điều mình nói ra là thừa thãi. Vì, thiếu nữ đang quỳ kia dường như không hề lo lắng, chẳng hề sợ hãi hoặc có khi trấn áp được những cảm xúc ấy đằng sau dáng vẻ bình lặng cố hữu bên ngoài.

 

Nhìn dáng người nhỏ bé của cô đào trẻ măng quỳ rạp trên nền đất, mặt cũng không dám ngẩng lên, Bang Cơ tự nhiên thấy nụ cười trên môi trở nên gượng gạo. Một danh xưng nghe thì giản đơn nhưng lại là cả một bầu trời cách trở, đến nỗi không nhìn thấy rõ chân tình, cũng khó có thể cầu chân tình. Sự xa cách này với anh ruột như Nghi Dân đã làm chàng thấy buồn, nay là với người xưa nay vẫn nghĩ có thể thành bạn giữa Đông Kinh rộng lớn càng khiến bản thân chàng thấy lạnh, cái lạnh giá của cô đơn.

 

-Những lúc thế này, ta vẫn là Lê Tuấn mà cô biết. Không cần hành đại lễ trước mặt ta.

 

Giọng nói ấm áp có gì như trầm buồn ấy vang lên bên tai cùng bàn tay đưa ra như có ý đợi làm Hải Triều thấy lạ. Nó giống như một đốm lửa vậy, nhỏ nhưng nóng ấm. Xưa nay nàng chỉ biết Cung thành có kẻ giết cha nàng, giết họ hàng nhà nàng đang sống, chất đầy những mưu toan, xếp đặt của Hoàng đế, của quan lại, của hậu cung. Nàng chưa từng nghĩ đến nơi này cũng có thể có một chữ “tình”, mà thực ra chữ ấy trong dân gian với Hải Triều cũng là cả một sự ngờ vực. Thế mà, những lời nói ấy của Bang Cơ khiến lòng nàng gợn lên những lăn tăn mơ hồ, băn khoăn không rõ những cảm giác của bản thân về người đối diện là sai hay đúng.

 

-Vậy thì… – Nàng tránh bàn tay của Hoàng đế, từ từ ngẩng lên, kín đáo mỉm cười – Ngọc Huyên cũng xin được tiếp chuyện công tử như lúc trước.

 

Chàng nửa ngồi nửa quỳ trên nền gạch, gác tay lên đầu gối, tự nhiên bật cười. Cung cách của cô đào chẳng khác những gì Bang Cơ từng biết, vẫn xa cách như thế nhưng lại rất thật lòng.

 

-Ta muốn nhờ cô giúp một chuyện – Chàng nói.

 

-Xin cậu cứ nói. Nếu Ngọc Huyên làm được nhất định sẽ tận sức mà làm.

 

-Là… giữ bí mật thân thế của ta… Ta… không muốn Tô Mộc biết. Ít nhất là bây giờ.

 

Giọng nói ngập ngừng của chàng trai trước mặt, cách chàng đằng hắng mấy tiếng rồi làm bộ quay đi, vành tai đỏ ửng lên làm Hải Triều khẽ cúi xuống, miệng không nén được để lộ ra một nụ cười. Hoàng đế này… thực sự thật thà đến thế sao? Vân vê dải thắt lưng, cuối cùng nàng cũng lên tiếng, hướng ánh mắt không chút né tránh về phía trước.

 

-Cậu muốn em im lặng, điều đó không khó. – Nàng lặng lẽ nói.

 

-Ta không muốn ra lệnh cho cô. Bạn bè không ai cư xử như vậy.

 

Bất giác, bàn tay nàng xoắn mạnh lấy dải lụa trong tay, nụ cười nhạt đi ít nhiều trước khi tươi tắn trở lại, thứ tươi tắn đến trơ trẽn. Ngước mắt lên, Hải Triều bình tĩnh nói:

 

-Công tử coi Ngọc Huyên là bạn, đó là vinh hạnh cho em. Nhưng nói thế nào em cũng chỉ là một đào hát, lời đề nghị này… không phải nên có chút gì đó để trao đổi giữa đôi bên sao?

 

-Ranh con, ngươi nghĩ đây là đâu mà dám buông lời mặc cả càn rỡ như thế! Đến Đại Kiều nhà các ngươi còn chưa dám bất tuân thánh chỉ, người nghĩ mình là ai mà dám? – Đào Biểu sẵng giọng nói, khẽ lắc đầu. Đám con hát là loại con gái không thể tin được mà, đúng là đùa với chó thì chó liếm mặt, không còn tôn ti chi hết.

 

Ra hiệu cho viên nội quan im lặng, Hoàng đế nhìn kĩ gương mặt đối diện mình, cố tìm cho ra đằng sau vẻ toan tính nữ nhi chợt lóe lên trên ấn tượng hư ảo vốn bao phủ xung quanh cô đào liệu còn gì nữa không. Nhưng chàng bất lực, dù trong lòng không tin nhưng mọi chuyện cứ khơi khơi ra phía trước, chân thật quá đỗi.

 

-Cô muốn gì? – Chàng nghiêm túc hỏi.

 

-Ước mơ của tất cả các đào nương chính là trở thành người của đội nữ nhạc cung vua. Sự im lặng của Ngọc Huyên… công tử có thể đổi bằng thứ đó không?

 

Nhìn vẻ mặt đẹp đẽ ấy một hồi rồi từ từ đứng dậy, Bang Cơ chắp tay sau lưng, chầm chậm đi lại trong điện Trường Xuân. Bóng chàng nhàn nhạt đổ dài trên nền gạch. Mỗi khắc chậm chạp trôi qua càng làm cho khung cảnh xung quanh thêm tịch mịch.

 

-Ta đồng ý. – Chàng đáp mà không ngoái lại, cũng không nhìn thấy cô đào tài sắc kia buông dải thắt lưng trong tay, cúi mình lạy tạ long ân.

 

Hải Triều thản nhiên đón nhận ánh mắt khinh thường lẫn khó chịu của viên nội quan khi ông bước tới trước mở cửa. Nhìn hình bóng mình hiện lên trong đôi mắt ấy, nàng tự cười bộ dạng tầm thường khó coi của bản thân.

 

-Ta… buộc phải tin điều ta vừa thấy, đúng không? Không cần lời chấp thuận của ta, người như cô không sớm thì muộn cũng sẽ lọt vào mắt xanh của Thái Thường tự kia mà!

 

Những lời ấy của Bang Cơ truyền tới, không quá lớn tiếng nhưng nàng lại nghe được rất rõ. Khóe môi nhếch lên, trong mắt là đêm xuân êm như nhung, không có ánh sáng của cả trăng lẫn sao. Vị Hoàng đế này tuổi còn trẻ, ngồi trên gấm vóc lụa là, đối diện với âm mưu, thủ đoạn nhưng tấm lòng lại trong sáng, thiện lương hơn hẳn những người Hải Triều từng gặp. Họ không giàu có như thế, không có nhiều gánh nặng, hiểm nguy như thế, cũng không có lắm mối tơ vò như thế… nhưng lại không có nổi một chút thành ý bằng với vị cửu ngũ chí tôn kia. Trong lòng Hoàng đế, Dương Tô Mộc đó hẳn đã trở thành một người quan trọng. Làm người cai trị thiên hạ, thế là tốt hay không tốt, nàng không quan tâm, chỉ cần biết canh bạc hôm nay, chính vì sự ưu ái người ấy dành cho Tô Mộc mà Hải Triều được hưởng phúc, để nước cờ nàng tính toán có thể thành hiện thực.

 

 

“Lê Tuấn… nếu công tử biết việc Ngọc Huyên mà người vẫn coi là bạn đang định làm, công tử sẽ thế nào?”

 

 

“Việc của tôi với mẫu hậu người, tôi thực sự mong… cả đời này người đừng nên biết!”

 

 

 

 

 

***

 

 

 

 

Trong lòng bàn tay để mở là đóa hoa đào úa tàn, màu hồng thằm đã nhạt. Bang Cơ rũ tay áo, quay lại:

 

-Những điều hoàng huynh nói về việc cần bổ sung quân lên Lạng Sơn và những vùng trọng yếu khác ở phía Bắc để thanh trừng thổ phỉ và phòng bị trước các động thái gây hấn của nhà Minh, em nhất định sẽ lưu ý.

 

-Thần xin thay mặt dân chúng tạ ơn quan gia! – Nghi Dân nâng vạt áo, quỳ xuống lạy tạ rồi thưa – Thời gian qua lưu lại kinh thành được sự hậu đãi của bệ hạ và Hoàng thái hậu, trong lòng thần vô cùng cảm kích.

 

-Anh đứng dậy đi! – Hoàng đế cúi người, dùng hai tay đỡ người thanh niên đứng dậy, thoáng chút thất vọng trong giọng nói vì sự xa cách phô bày ra trước mặt.

 

Cơn gió thổi qua, hồng đào rụng rơi lả tả tựa như một cơn mưa, vương đầy lên áo người lữ khách. Đôi hia đen dẫm lên con đường rải sỏi trắng nghe lạo xạo, xéo nát những cánh hoa mỏng, Nghi Dân chắp tay:

 

-Cũng không còn sớm nữa, thần đến xin từ biệt quan gia để quay về Lạng Sơn. Trọng trách của người mang huyết thống đế vương không hề nhẹ nhàng, cũng không thể tùy tiện đặt lên vai ai. Nay đó là việc của quan gia, thần thân làm anh trưởng nhưng lại không giúp được gì, trong lòng thấy vô cùng hổ thẹn. Sau này, nếu người cần, thần nhất định sẽ lập tức quay về Đônh Kinh phụng sự.

 

Bóng người nhanh chóng biến mất sau những rặng cây, tựa như một cơn gió lớn. Bang Cơ lặng lẽ nhìn theo rồi chậm rãi quay mình, bước trên con đường ngược lại, vòng qua hòn non bộ. Trên bộ bàn ghế bằng đá xanh tạo tác có phần hoang dã, tự nhiên, cậu thiếu niên vận bộ áo gấm tím, thắt đai lưng trắng đang thong thả thưởng trà, bên cạnh có Đào Biểu hầu hạ.

 

-Hoàng huynh! – Tư Thành định đứng dậy đã thấy Hoàng đế phẩy tay ý bảo thôi.

 

-Sao lại ngồi đây? Ban nãy anh Nghi Dân đến từ biệt, nếu em đã đến cũng nên ra mặt chứ? – Chàng cau mày, tỏ ý không vui trước sự lãnh đạm xa cách của cậu em.

 

-Em cũng vừa mới đến, lại thấy anh đang dở câu chuyện nên cũng không tiện.

 

Tư Thành trơn tru đáp. Đào Biểu biết rõ vị thân vương này nói dối nhưng vì trong lòng cũng tán đồng nên không hề vạch trần, lại còn thưa:

 

-Bẩm quan gia, đúng đấy ạ! Thần chuẩn bị xong trà thì Bình Nguyên vương đến, thấy quan gia đang nói chuyện nên thần mới mời điện hạ ngồi nghỉ tạm, đằng nào chút nữa các chủ nhân cũng cùng thưởng trà. Vừa sắp thêm một chén mới ai ngờ đâu Lạng Sơn vương đã hồi phủ mất rồi.

 

Không muốn đôi co với hai người trước mặt, Bang Cơ thở ra rồi nhấp chút nước trà nóng rồi mới nói:

 

-Cả em và Khắc Xương huynh đều có thái độ rất lạ với anh Nghi Dân. Không phải có điểm gì đáng chê trách, anh chỉ thấy lạ thôi. Mẫu hậu không thích anh ấy đã đành, còn chúng ta…

 

-Quan gia, thứ cho thần đệ nói thẳng… – Tư Thành đặt chén nước xuống, nhìn về phía trước không chớp mắt, vẻ bình lặng thường ngày thay thế bằng sự lạnh lùng quả quyết Bang Cơ chưa thấy bao giờ – Người như Lạng Sơn vương tuyệt đối không thể tin được!

 

Từng chữ, từng chữ nói ra làm chàng sững người, mất một lúc mới có thể cất tiếng:

 

-Bằng chứng. Em có bằng chứng chứ?

 

Đào Biểu len lén đưa mắt nhìn Bình Nguyên vương, hồi hộp chờ đợi nhưng chàng chỉ lắc đầu. Tư Thành dịu giọng đi một chút, bớt gay gắt nhưng không hề thỏa hiệp:

 

-Chưa có. Em mong là không có, cũng mong cảm giác của mình là sai. Nhưng tỉnh táo mà xem xét, thực sự em chỉ có một câu vừa rồi để nói với anh thôi.

 

-Tại sao? – Bang Cơ chất vấn, cao giọng và dường như không mấy bình tĩnh.

 

-Lạng Sơn vương không phải là người an phận. Những xích mích hậu cung không phải chỉ giữa Hoàng thái hậu với mẫu thân của em. Hoàng huynh, chuyện phế lập ngôi Đông cung của Tiên đế khi xưa, anh phải rõ hơn em chứ!

 

Bờ vai Bang Cơ trùng xuống. Chàng khó nhọc nhếch môi cười, ngửa cổ nhìn vòm trời xam xám, nói:

 

-Đặt mình vào vị thế của huynh trưởng, hoàn cảnh đó dù bao nhiêu năm trôi qua cũng rất khó chấp nhận. Được tất cả rồi mất tất cả. Những hận thù, không phục trong lòng ấy có thể thông cảm được.

 

-Thần đệ lại thấy quan gia nói vậy sai rồi. – Tư Thành nói ngay, không mấy kiêng nể – Ý Tiên đế đã quyết, thân vừa là con ruột, vừa là thần tử thì phải biết phận vị mà phục tùng. Đế vị đã an bài thì không nên tơ tưởng đến những chuyện từng xảy ra trong quá khứ. Cả đời ngoái lại phía sau thì sao còn thấy được gì phía trước. Quan gia, người đừng tự dối mình nữa. Trong lòng, người rõ hơn ai hết Lạng Sơn vương không phải kẻ có thể vui vẻ với tước vị là một phiên vương ở nơi xa xôi như vậy.

 

Lời lẽ sắc bén như một lưỡi kiếm vung tới, nhát nào cũng rất dứt khoát. Bang Cơ thấy hơi lạnh của thép nguội được trui rèn cẩn thận, mài sắc cạnh đâm sâu vào lòng mình, chạm cả đến thứ linh cảm mơ hồ từ ngày đầu gặp Nghi Dân chàng đã cố phủ định đi bằng hơi ấm của dòng máu cùng huyết thống. Bàn tay khẽ nắm chặt lại, chàng nhìn Tư Thành, cười khổ:

 

-Em nói huynh trưởng hận anh, em nói huynh trưởng không an phận. Còn em thì sao, không phải em cũng có thể bỏ qua cho mẫu hậu của anh, không phải em từng nói cả đời này sẽ là cánh tay phải của anh sao?

 

Nhìn những lay động rạn vỡ trong đôi mắt đối diện, Tư Thành chợt nhắm mắt lại, khẽ lắc đầu. Bang Cơ không phải kẻ ngốc, cũng không ôm những mộng tưởng hoang đường. Có điều, nhân gian lý tưởng anh ấy muốn xây dựng là thứ ngoài đời thực với đầy rẫy lừa lọc, tráo trở này không thể tồn tại. Lòng tin đâu dễ đặt vào người ngoài đến thế?

 

-Không phải em bỏ qua cho Hoàng thái hậu. Em đã nói rồi, em chưa bao giờ hận bà. Vấn đề của em không phải với bà. Vấn đề của thân mẫu em cũng không phải với bà. – Tư Thành trầm giọng nói – Anh hỏi em có bằng chứng gì không khi nói về Lê Nghi Dân như vậy… Em không có. Em chỉ biết một điều: em và người ấy giống nhau, đều là những kẻ không an phận. Chẳng qua thời thế ép buộc, vì còn mẹ già nên buộc phải làm việc này, việc kia để giữ thân. Nhìn Lạng Sơn vương, giống như em nhìn thấy chính mình vậy!

 

Đứng dậy khỏi ghế, chàng xoay mình, chắp tay sau lưng, tạm thời im lặng để Bang Cơ có thể chấp nhận những điều khó nghe vừa nãy. Tư Thành chỉ không ngờ, Hoàng đế nhanh chóng mở lời, lặng lẽ nói:

 

-Cuối cùng em cũng nói ra những điều đó. Nói hết những khó chịu, ấm ức vì bị mẫu hậu canh chừng. Rồi… sao nữa? Tại sao em lại hứa như vậy?

 

-Cũng có nhiều lý do! – Chàng mỉm cười, bốc một nắm hạt dưa rồi nhảy lên lan can thủy đình gần đó, tựa người vào cột gỗ, thòng một chân xuống thoải mái – Em không được Tiên đế hứa hẹn điều gì cả, đế vị là thứ chẳng liên quan đến em… Và nhất là, chúng ta cùng lớn lên với nhau. Là em tự hựa sẽ trở thành thần tử của anh. Hứa thì nhất định sẽ làm!

 

-Lòng tin… Anh còn nghĩ em không có lòng tin vào người khác cơ đấy! – Bang Cơ đột nhiên bật cười. Gương mặt dãn ra, trở nên thoải mái hơn một chút. – Nếu có một ngày anh hay Hoàng thái hậu muốn em chết thì sao?

 

Hạt dưa đưa lên đến môi, tai nghe những lời ấy nhưng răng vẫn điềm nhiên cắn xuống. Thưởng thức vị bùi bùi tan trong cổ họng, nhấp thêm một ngụm trà, Tư Thành nghiêng đầu, đáp:

 

-Mẫu thân em vẫn nói nhiều khi con người hành xử hoàn toàn chỉ theo cảm tính. Hoàng thái hậu theo linh cảm của mình để chọn tin em. Em cũng theo linh cảm mà tin rằng, cả anh và Hoàng thái hậu sẽ không bức tử một phiên vương như mình. Chẳng cần lý do hay bằng chứng gì cả!

 

Thả lại đống hạt dưa chưa cắn vào chiếc đĩa men ngọc, Bình Nguyên vương vươn vai, trên môi là một nụ cười thoải mái:

 

-Em về đây! Những điều em nói, mong anh sẽ suy nghĩ.

 

-Anh có thể tin em, sao không thể tin huynh trưởng?

 

Khi tà áo tím lướt qua, Bang Cơ đột ngột hỏi. Ánh mắt chàng tĩnh lặng, nhìn thẳng về phía trước, ngược hướng với Tư Thành. Nơi đáy mắt dường như dần thẫm lại.

 

-Em tin anh, nhưng anh thì không nên hoàn toàn tin tưởng em. Hoàng huynh, anh là Hoàng đế! – Chàng ung dung đáp – Thiên mệnh đã định, địa vị đã an bài. Những chuyện đã qua chỉ như xác chết thôi, có làm gì cũng không sống dậy được đâu. Anh đừng nghĩ mình làm gì sai, càng không nên nghĩ bản thân nợ Lạng Sơn vương điều gì. Chẳng phải quan gia vẫn muốn trở thành một Hoàng đế tốt sao. Thần đệ nghĩ đó mới là việc người cần quan tâm lúc này, làm để người kia biết vị trí thực sự của mình ở đâu.

 

Gió xuân lướt qua làm những tấm rèm mỏng khẽ phồng lên, cuốn những cánh hoa rơi đầy mặt cỏ. Bang Cơ đan hai bàn tay vào nhau, ngồi yên như vậy đến lúc chiều tà.

 

-Quan gia, trời trở lạnh rồi, người nên về điện Trường Xuân thôi. – Đào Biểu cuối cùng cũng bước lại, đánh bạo lên tiếng.

 

-Tư Thành thực sự rất giỏi, điểm nào cũng giỏi! – Chàng đứng dậy, đón lấy chiếc áo khoác trên tay viên hoạn quan.

 

-Quan gia, thứ cho thần nhiều lời – Người đàn ông chầm chậm bước sau lưng Hoàng đế, mắt hướng xuống vạt áo đung đưa theo mỗi bước chân của chàng trai trước mặt – Thần nghĩ những điều Bình Nguyên vương nói không phải không có lý. Dù ngài ấy có giỏi đến đâu thì thần tin cả đời này, ngài ấy cũng như Tân Bình vương không bao giờ nuôi mộng can qua. Ngài ấy đợi quan gia trở thành Hoàng đế bệ hạ để ngài ấy phụng sự.

 

Đôi hia gấm thêu rồng dứng lại. Bang Cơ ngoảnh sang, chau mày:

 

-Ông nghĩ thế sao?

 

Người đàn ông gật đầu xác nhận, nói:

 

-Quan gia, người biết thần hầu hạ người cũng là canh chừng những kẻ ngày ngày tiếp xúc với người. Thần sống trong cung mấy chục năm rồi, những chuyện chìm nổi thấy không ít. Bình Nguyên vương chính là mãnh hổ. Hoàng thái hậu sớm nhìn ra nên có ý đề phòng. Nhưng cuối cùng, lệnh bà nói không cần nữa vì mãnh hổ ấy chọn được chủ nhân để trung thành rồi. Lệnh bà cũng nói, ngài ấy nếu được bồi dưỡng, đặt vào đúng chỗ, nhất định sẽ trở thành Hưng Đạo đại vương của bản triều ta.

 

Thấy Bang Cơ đột nhiên rẽ sang phải thay vì đi thẳng, Đào Biểu vội hớt hải chạy theo:

 

-Quan gia, người muốn di giá đến cung nào?

 

-Ta còn một vài tấu chương nữa, đương nhiên phải đến điện Cần Chính rồi! – Chàng bật cười rồi nhanh chân tiến về phía trước.

 

 

 

 

 

Lật qua lật lại nhành cỏ xanh mơn mởn mãi cũng chán, Tư Thành vươn vai, nằm xuống con dốc thoai thoải dẫn xuống bến sông. Gió thổi ngược mang theo mùi phù sa, mùi khói rơm của mấy nhà thuyền chài men theo triền đê, bay ngược vào trong làng. Gối đầu lên cánh tay, chàng chăm chú nhìn bầu trời cao rộng, chợt thấy thiếu một chút xanh của nền trời, thiếu một chút sinh động của cánh diều chao liệng, một chút thanh âm của tiếng sáo trúc mục đồng. Nghĩ vậy rồi tự bản thân chàng lại cười ngay. Vẫn chưa ra giêng, vẫn chưa hết tết, giờ hội hè đình đám trong dân gian mới là lúc nô nức nhất.

 

-Lâu lắm mới đi xa khỏi kinh thành như vậy. Ở chùa Huy Văn mãi thật ngột ngạt! Cảm ơn người, thiếu bảo.

 

Nguyễn Xí vén vạt áo, thong thả ngồi xuống, trong miệng còn ngậm cọng cỏ.

 

-Điện hạ quá lời rồi. Ngô Sung viên chỉ có mình điện hạ là chỗ dựa. Lúc người ra ngoài, Sung viên không biết người đi đâu, sinh lo lắng nên mới khắt khe như vậy. Hồi thần còn nhỏ, thầy thì mất sớm, nhà lại làm nghề buôn muối nên anh cả cũng đi suốt, chẳng mấy khi ở nhà. Những lúc ấy có muốn chạy ra sông tắm, u cũng không cho. Thần bị cấm cản thì tức lắm, đá thúng đụng nia, mắng chó chửi mèo suốt.

 

Người đàn ông mỉm cười, nơi đuôi mắt in hằn những nếp nhăn tuổi tác nhưng trông lại hiền từ hơn hẳn những lúc ra lệnh cho đám con trai luyện tập ngoài thao trường. Gác khuỷu tay lên đầu gối, hai bàn tay thô ráp đan vào nhau, trên gương mặt vị trọng thần khiến Hoàng thái hậu cũng phải kiêng nể vài phần thoảng qua những nét êm ả khi hồi tưởng lại quãng đời thanh xuân nào đấy.

 

-Đến lúc theo Thái Tổ làm gia thần, vào sinh ra tử, rồi sau này có con mới hiểu được hết những cảm giác của u ở nhà.

 

-Thẩm nào người từng dạy ta phụ cơm thì đói, phụ muối thì nhạt. Hóa ra đều có nguyên do. Thiếu bảo, có chuyện này ta không hiểu, muốn được các hạ[16] chỉ bảo cho – Tư Thành nhổm dậy, ngắt lời – Là chuyện của Ức Trai tiên sinh. Ta nghĩ mãi không biết một người tài học như thế, cương trực như thế đã làm gì để đến nỗi có thời không được trọng vọng. Đành rằng có chuyện phe võ tướng các ngài thắng thế so với phe văn thần sau chiến thắng Lam Sơn của Thái Tổ hoàng đế đi chăng nữa.

 

Ngẫm nghĩ một hồi, cuối cùng người đàn ông vuốt chòm râu, đáp:

 

-Bởi trong mắt nhiều người, Nguyễn Trãi là đối tượng nguy hiểm. Tuy là văn thần của Thái Tổ, chuyên việc viết thư, thảo hịch, trù liệu kế sách nơi màn trướng, ngài ấy chẳng cầm kiếm giết được tên giặc nào nhưng ngòi bút hạ xuống lại có thể làm ra điều thần kì. Kế tâm công của Ức Trai tiên sinh, điện hạ chẳng phải đã được nghe các hạ Đinh Liệt giảng rồi sao?

 

-Chuyện này ta nhớ. Việc giết giặc vốn là độc quyền của võ tướng, nay lại sinh ra một người như vậy, chẳng trách khiến nhiều kẻ không vui! – Tư Thành cười – Với tính khí của người sinh ra để làm việc lớn, lưu danh thiên cổ, ngài Ức Trai ắt không được lòng lắm vị trọng thần. Hồi ở Lam Sơn, tám chữ “Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần” viết lên lá cây bằng mật để cho kiến đục giúp thanh thế quân ta lên cao, cũng khiến sự tức khí của nhiều người chắc cũng lên cao.

 

Cười khà khà, Nguyễn Xí nhìn vẻ mặt lanh lợi của Bình Nguyên vương, trong lòng có chút tán thưởng suy nghĩ của chàng.

 

-Điện hạ nói phải. Vì tám chữ ấy, ngài Lê Sát đã nổi giận đùng đùng, quát rằng có phải mình Ức Trai tiên sinh biết tôn phò minh chủ đâu. Cuối cùng chính Đình thượng hậu Đinh Liệt phải đứng ra hoà giải, sửa đi mấy chữ thành “Lê Lợi vi quân, bách tính vi thần” thì sự việc mới êm được. Giờ nghĩ lại, có khi sự đối đầu của ngài Lê Sát với Ức Trai tiên sinh về sau bắt đầu từ việc cỏn con ấy.

 

-Ý ngài còn là… – Chàng quay sang, cân nhắc từ ngữ rồi mới tiếp lời – những chuyện bè phái xoay quanh ngôi vị Đông cung thái tử giữa Thái Tông hoàng đế lúc còn là Lương quận công với Quận Ai vương? Rồi chuyện định nhã nhạc phải làm chung với bọn hoạn quan rồi đủ việc chữ nghĩa khác?

 

-Điện hạ cũng biết cả rồi đấy thôi, người đâu còn cần hỏi vi thần nữa! – Nguyễn Xí cười lớn.

 

-Ta chỉ muốn nghe suy nghĩ của người trong cuộc thôi. Những điều này Đình thượng hầu rất hay nói với ta, nhưng ngài ấy là họ hàng đằng ngoại của thân mẫu, tức là mang ơn Ức Trai tiên sinh và bà Lễ nghi học sĩ. Ta sợ có chút không thật công tâm nên mới muốn tham khảo ý kiến của các hạ.

 

-Thần vẫn nghĩ Ức Trai là người tài giỏi nhưng nhiều khi quá nguyên tắc, quá cứng nhắc. Nếu mọi việc ngài ấy có thể mềm mỏng lựa theo hướng gió một chút chắc đã khác. Như thần thấy, ban đầu, Ức Trai tiên sinh ủng hộ Quận Ai vương trở thành Hoàng thái tử theo đúng lẽ trưởng – thứ. Nhưng về sau, khi Thái Tổ định phụ hoàng của điện hạ là người kế thừa đại thống, ngài ấy cũng không nói gì thêm, tận tâm phụng sự theo đúng phép quân – thần. Đó chính là biết thời thế, biết tâm ý đế vương. Nhưng về sau, có nhiều việc Ức Trai có thể tránh hoặc nhịn đi một chút, không nhất thiết phải đối đầu Lê Sát, Lê Ngân cho kì được. – Nguyễn Xí chầm chậm nói.

 

-Vây cánh của những người đó không chỉ có quan lại trong triều, thủ hạ ngoài thành, lại còn cấu kết được với cả hoạn quan. Làm một đống người như vậy ôm hận, vụ án Lệ Chi Viên xảy ra đúng là miếng mồi ngon để tất cả nhất loạt nhảy vào xâu xé. – Chàng nhếch môi cười, lại nằm dài xuống nền cỏ mượt – Tiểu nhân thị oai, quân tử sa cơ, đúng là thảm cảnh! Cũng mong ông trời có đức hiếu sinh, để lại cho nhà họ Nguyễn ai đó còn sống.

 

Tiếng chuông chùa ngân dài, trầm vang trên mặt sông đỏ phù sa vào mùa nước cạn, để lộ những bãi đất nổi ngay giữa lòng sông. Bứt bừa mấy cọng cỏ, Tư Thành nói sang chuyện khác:

 

-Có bốc mấy thang thuốc thôi, các hạ sai người ăn kẻ ở trong nhà làm được rồi, đâu cần đích thân đi làm gì cho nhọc?

 

-Bình thường bận bịu trong triều thì đúng là phải thế thật. Nhưng giờ việc đang vãn, thần muốn tự mình đưa con trai đi khám rồi bốc mấy thang thuốc cho nó. Phu nhân cả năm chẳng ngơi tay rồi, để nàng ấy đầu xuân thư thả đi vài đám hội cho khuây khỏa thì hơn. Với cả nhà thầy lang gần dinh Bồ Đề, chùa Thiên Sơn ngày xưa Thái Tổ từng đóng quân trước khi vào Đông Quan. Con trai thần muốn nhìn thấy những nơi đó nên tranh thủ dịp này đưa thằng bé đi luôn. Nuôi một đứa trẻ còn khó hơn luyện quân. Sau này điện hạ có con, người sẽ hiểu thôi.

 

Nguyễn Xí nghiêm khắc với Sư Hồi bao nhiêu thì lại dịu dàng với đứa con này bấy nhiêu. Cứ nghĩ đến thằng bé dăm bữa nửa tháng lại ốm một trận nhưng lúc nào cũng chăm chỉ luyện tập ấy, Tư Thành liền mỉm cười. Dường như đoán được ý nghĩ trong đầu chàng, người đàn ông vuốt chòm râu, nói ngay:

 

-Sư Hồi phải làm quan, phải phụng sự quan gia nên không thể nuông chiều nó. Còn đứa bé này, thần dạy võ cho nó không phải vì truyền thống gia đình, càng không phải để nó thành võ tướng. Thần chỉ mong thằng bé có thể lớn lên khỏe mạnh là đủ rồi.

 

Từng lời, từng lời giản đơn nhưng ấm áp ấy bất giác khiến bàn tay chàng siết lại. Tư Thành cười, nheo nheo mắt:

 

-Ngài đoán được ta nghĩ gì sao?

 

-Thần đoán được. Thần biết điện hạ từ năm người mấy tuổi chứ?

 

-Nói cũng phải! – Tư Thành vắt chân chữ ngũ, tùy hứng huýt sáo theo một điệu nào đó. Những âm thanh ấy làm người đàn ông thấy vui, cũng hòa âm cùng. – Thiếu bảo, người với ba vị phu nhân… là thế nào?

 

-Ý điện hạ là…

 

-Người yêu ba vị phu nhân chứ?

 

Sự thẳng thắn của chàng khiến đại tướng quân Nam chinh Bắc chiến đâm lúng túng. Húng hắng ho, Nguyễn Xí lảng tránh ánh mắt của Tư Thành, nhìn ra Nhĩ Hà một dải lụa điều, một lúc lâu sau mới cất tiếng:

 

-Ba vị phu nhân cùng thần trải qua gian khó từ khi nước nhà chưa lấy lại được, rồi cả những lúc thăng trầm công danh sự nghiệp. Nói là tình thì chưa đủ, còn cả nghĩa nữa. điện hạ, sao tự nhiên người hỏi vậy?

 

Chăm chú nhìn biểu cảm trên gương mặt chàng nhưng cuối cùng, cái duy nhất Nguyễn Xí nhìn ra được chỉ có một sự thản nhiên xa cách, vô tâm đến nỗi như thể Tư Thành chỉ vui miệng hỏi vậy. Thâm tâm mình, người đàn ông hiểu rõ lý do, không phải đang yên đang lành đứa bé kia lại cất lời như thế. Có chăng, thế giới ấy là nơi không ai có thể bước vào dù cho người đó có là Sung viên Ngô Thị Ngọc Dao đi nữa. Bẻ một thân cỏ gà ngậm vào miệng, Tư Thành nheo mắt:

 

-Tự nhiên ta nhận ra trong số những phi tần của Tiên đế chỉ có hai người thân thế rất bình thường, lại đến từ dân gian. Một người là Hoàng thái hậu đương triều, một người là Dương thị. So với những nữ nhân xuất thân từ gia đình công hầu khanh tướng như thân mẫu ta, Bùi Thái phi, con gái của Lê Sát, Lê Ngân… người có được tình cảm thực sự của Thái Tông hoàng đế hóa ra lại là hai người đàn bà đó. Không phải hôn nhân chính trị, không phải tính toán, chỉ có chân tình. Ít nhất chân tình hơn những gì mẫu thân ta được nhận… Mà thôi, bỏ cả đi, nhạt nhẽo lắm!

 

Nguyễn Xí lặng thinh hồi lâu rồi mượn cớ vào làng đón con trai ở nhà thầy lang liền đứng dậy. Cuối cùng chỉ còn lại mình Tư Thành với sông dài, trời rộng cùng mấy con thuyền nan lờ lững. Cùng một bầu trời mà chỉ qua một con sông, bên này là thôn dã, bên kia là kinh thành đô hội, rộn ràng. Kể cũng là điều thú vị.

 

Nhong nhong nhong

Ngựa ông đã về

Cắt cỏ Bồ Đề

Cho ngựa ông ăn

Nhong nhong nhong…

 

Mấy câu đồng dao của con trẻ từ thời Thái Tổ dựng dinh, xây tháp ở nơi này truyền đến nghe vui tươi, rôm rả. Tư Thành hiếu kì liền chống tay xuống nền cỏ, ngoảnh lại. Đứng cách chàng một quãng không xa lắm, giữa đám trẻ con đang công kênh nhau, khua loạn những cây cỏ dài là thiếu nữ mình vận áo tứ thân màu hồng nhàn nhạt, dải lưng lụa điều tung bay trong gió. Có chút lạ lẫm khi bao lần vô tình trông thấy ở nhà Đinh Liệt, chàng chỉ thấy nàng vấn tóc, bỏ đuôi gà như bao cô đào khác. Hôm nay, mái tóc đen mượt ấy để buông, thắt lại hờ hững bằng dải lụa mảnh, trông còn dịu dàng hơn thường ngày.

 

Chỉnh lại quai nón trên vai, Hải Triều trông xuống con đường dẫn ra bến sông ở tả ngạn Nhĩ Hà. Trên nền xanh ấy là một người áo trắng, dáng điệu thư thả an nhàn nhưng ánh mắt ngước nhìn lại có gì như vui thích lắm. Vờ cúi đầu đề chỉnh lại mấy sợi tóc bay xòa, nàng thầm tính toán. Bình Nguyên vương đã nhìn thấy nàng, giờ đổi đường đi cũng không được, vờ coi như không thấy thì thất lễ quá. Mà nói đi nói lại, Hải Triều có làm gì đâu mà phải tránh mặt ngài ấy. Ý nghĩ ấy khiến nàng mạnh dạn bước về phía trước, lúc đi qua cũng đứng lại, cúi đầu chào:

 

-Điện hạ.

 

-Cô có việc ở làng bên này sao? – Tư Thành hỏi, chỉ lướt mắt qua gương mặt đẹp đẽ nhưng lãng đãng ấy. Thế mà chàng lại thấy dáng vẻ này hợp với nàng hơn là vẻ lộng lẫy hôm đại yến tại cung Đan Phương.

 

-Thưa không. Là bà trùm sai em đi chợ mua ít cua đồng. Chợ trong kinh chưa họp nên phải sang tận bên này! – Hải Triều đáp, lễ phép nhưng nhạt nhẽo, cố ý để chấm dứt cuộc gặp gỡ này càng nhanh càng tốt. Có điều, nàng muốn là một chuyện, người ta có thích hay không lại là chuyện khác.

 

Nghiêng đầu nhìn mấy con cua đang bò ra ngoài giỏ của nàng, Tư Thành cau mày:

 

-Nắp bung ra rồi kìa!

 

Đặt cái giỏ xuống, vỗ vỗ vào thành rồi buộc lại nắp cho cẩn thận, chẳng hiểu sao Hải Triều lại ngứa miệng mà thưa rằng:

 

-Điện hạ chớ lo. Lũ cua này đồng tâm hiệp lực lắm. Cứ có con nào sắp bò ra được khỏi giỏ thì sẽ có con khác ở dưới giơ càng kéo xuống ngay.

 

Câu nói ấy của nàng không hiểu có gì vui nhưng lại khiến vị thân vương kia cười lớn, cười sảng khoái, lại còn khen:

 

-Nói hay lắm! Cô đúng là rất đáo để. Ai tưởng cô hiền lành, ít lời, nhu mì thục nữ thì chắc chắn họ nhầm rồi.

 

Đứng dậy, sau một hồi cân nhắc, cuối cùng Hải Triều cũng nói nhưng mi mắt chẳng nhích lên để nhìn cho rõ người trước mặt, cứ để ánh mắt là là ở đâu đó chỗ cánh tay, mũi giày của người ấy:

 

-Câu thơ năm ngoái điện hạ cho, Ngọc Huyên thực sự rất cảm kích.

 

-Có thật không? – Tư Thành nheo mắt, hỏi lại theo kiểu rất cắc cớ rồi xua xua tay – Được rồi, được rồi. Cô nên về đi kẻo muộn.

 

Sóng nước vỗ vào bờ cát đỏ thành từng dải thẫm màu. Hải Triều nhẩm tính tình hình này thì bao giờ mới về đến giáo phường. Bánh chưng, xôi gấc, giò lụa, nem rán đã ngán đến tận cổ rồi nên cứ đến độ mùng năm, mùng sáu Tết là dẹp hết. Các cô nấu nồi bún riêu cua chua chua, thanh thanh với lớp gạch nâu nổi lên trên nồi nước đỏ hồng, ăn với bún rối, xì xụp húp lấy húp để vui lắm. Nàng gọi khản cả cổ, mãi mới thấy con đò bên kia sông chầm chậm chèo qua. Chờ đợi đâm ra lại nghĩ linh tinh, có chút chột dạ khi người vừa nãy dễ dàng nhìn ra sự rỗng tuếch trong lời cảm ơn của nàng. Những vị khách Hải Triều từng tiếp, chẳng ai tinh ý đến vậy.

 

Chống tay vào một bên má, Tư Thành nhìn cô đào như một nét màu trong suốt giữa trời đất, lay động giữa gió xuân khi nàng bước trên tấm ván gỗ dẫn lên chiếc thuyền con. Hóa ra điểm không hợp mắt khiến chàng cứ băn khoăn mãi chính là ở đó, ở màu của chiếc áo tứ thân. Nếu nàng ấy mặc một sắc khác, lạnh hơn thì mới thật đẹp.

 

-Nào, mấy đứa có muốn chơi đánh trận giả không?

 

Tư Thành cao hứng vẫy tay gọi đám trẻ con đầu còn để chỏm chơi gần đó lại gần.

 

Con thuyền chầm chậm rẽ nước sang ngang. Vẳng đưa lại từ trên triền đê mướt xanh màu cỏ là tiếng đọc bài đồng dao ngân nga của lũ nhóc, thỉnh thoảng lại rộ lên tràng cười lanh lảnh. Bài đồng dao ấy ngày xưa, Hải Triều cũng từng thuộc. Là…

 

 

Nhong nhong nhong

Ngựa ông đã về

Cắt cỏ Bồ Đề

Cho ngựa ông ăn

Nhong nhong nhong…

 

 

 


[1] Ca dao

[2] Theo bộ phim Long Thành cầm giả ca – Đạo diễn Đào Bá Sơn

[3] Cửa Bắc Thần: cửa phía Bắc của Hoàng thành (vòng thành thứ hai)

[4] Rằm tháng giêng

[5] Mẹ đẻ của Tân Bình vương Lê Khắc Xương là Bùi Quý Nhân – con gái giám quan ngự sử Bùi Cầm Hổ (một vị quan dưới thời Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông). Theo nội dung của Bùi thế phổ trong cuốn Bên lề chính sử thì Bùi Quý Nhân được phong làm phi của vua Lê Thái Tông. Ở đây gọi là Bùi Thái phi.

[6] Người đối thoại với Hạ Liên giữ chức Lại bộ thị lang – vào hàng tòng tam phẩm. Theo quy định về xưng hô thời Lê Sơ thì kẻ dưới phải gọi những quan lại thuộc hàng nhị, tam phẩm là “môn hạ” (Theo ĐVSKTT)

[7] Hàm ý từ câu: Ăn cây táo, rào cây sung.

[8] Từ người Kinh gọi các dân tộc thiểu số

[9] Khúc Bình Ngô phá trận được chép trong chính sử nhưng nội dung, hình thức thể hiện của điệu múa như thế nào thì tác giả hiện thời chưa tìm hiểu được. Mọi miêu tả về Bình Ngô phá trận trong Độc huyền cầm đều là hư cấu.

[10] Sự kiện vào mùa xuân, tháng giêng năm Thái Hòa thứ 7 (1449)

[11] Dải vải chéo dài quấn kín ống chân; hoặc ống vải hở hai đầu may sẵn, bao lấy ống chân hoặc ống quần cho gọn gàng để bảo vệ chân của nông dân làm ruộng nước, một số dân tộc miền rừng núi, lính xưa.

[12] Chỉ đồ trang sức và quần áo của phụ nữ nhưng phải dễ mang đi.

[13] Theo Lê Quý Đôn (2013), Kiến văn tiểu lục, NXB Trẻ, Tp. HCM, Tập 1.

[14] Sênh tiền là nhạc cụ gõ. Tên cổ của nó là phách xâu tiền hay phách quán tiền (sênh trong tiếng Nôm là phách). Nhìn chung, nhạc cụ này là một loại phách có gắn những đồng tiền vào một đầu, tạo ra âm thanh leng keng khi gõ nên gọi là sênh tiền.

[15] Đây là điển tích, cũng là một quan điểm triết học. Đại ý: Trang Chu có lần nằm mơ thấy mình hóa thành bươm bướm. Khi tỉnh lại, ông tự vấn mình rằng: Trang Chu hóa bướm hay thực ra là bướm hóa thành Trang Chu. Cái ông thấy trong mơ, tưởng là ảo có khi lại thành thật; cái thật mà ông đang thấy lúc này có khi lại chỉ là giấc mơ của bươm bướm mà thôi. (isis ghi chép)

[16] Nguyễn Xí được phong chức Thiếu bảo, vào hàng tòng nhất phẩm của võ giai. Theo quy định về cách xưng hô thì được gọi là “các hạ”

6 thoughts on “[Độc huyền cầm] 1 – 17

    1. isis-chan Post author

      Lội đi Mít, chúc vui vẻ :)) Ờ, mình cũng nghĩ thế đó. Nếu Thái Tông còn sống thì sau Nguyễn Thị Anh sẽ còn nhiều và nhiều em nữa thay thế. Đào hoa, đa tình cũng có gene di truyền cả, thế nên không nên trách Thánh Tông =))

        1. isis-chan Post author

          Mình không đề cập đến hậu cung của Bang Cơ một phần vì sử sách không hề chép một dòng nào về việc Lê Nhân Tông đã từng kết hôn. Việc này mỗi người sẽ có một cách suy luận khác nhau, xử lý thông tin khác nhau. Cá nhân mình thì trong những chương trước cũng từng lý giải việc này dưới góc độ của Tuyên Từ. Với Hoàng đế, việc lập hậu cung là cần thiết, việc sinh con nối dõi là đương nhiên. Khi Tuyên Từ vẫn còn nắm quyền, đến cả về sau khi bà ấy trả lại quyền lực cho Nhân Tông, ít nhiều bà ấy vẫn can dự vào việc triều chính + việc bản thân bà ấy từng có kinh nghiệm với đấu đá hậu cung –> Có thể Tuyên Từ chưa chấm được ai vừa ý, đủ tin tưởng, đủ để sử dụng. Mình nghĩ Tuyên Từ không muốn lặp lại một hậu cung phức tạp về cả khía cạnh tình cảm lẫn chính trị như thời Thái Tông.

          Một phần khác có thể do cá nhân Bang Cơ chưa thích ai, có ý tránh việc hậu cung vì biết những gì từng xảy ra vào thời Thái Tông.

          Đó là quan điểm của mình😛, còn mấy việc cho Nhân Tông hiền lành, trong sáng này kia là hư cấu dưới góc độ người viết, người cảm nhận rôi, không liên quan mấy đến việc xử lý tài liệu, nghiên cứu😛

        1. isis-chan Post author

          Cái này theo mình 1 phần là do Tư Thành dồn quá nhiều tâm sức vào Lê Tranh, để đào tạo, để bồi dưỡng, trong số những người con của Tư Thành, người có khí chất thiên tử như mình thấy thì chỉ có con trai của Trường Lạc thái hậu thôi. 1 phần Tư Thành không phải người quyến luyến, lựa chọn và đưa ra quyết định dựa trên tình cảm. Con người này quyết định dựa trên cục diện, trên lợi ích và luôn luôn tính toán đến chính trị. 1 phần nữa là thế lực bên ngoại của Hoàng thái tử quá mạnh, gia tộc họ Nguyễn của Nguyễn Đức Trung vừa là họ công thần, vừa là họ ngoại thích, có vai trò lớn trong sự nghiệp của Lê Thánh Tông.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s