[Độc huyền cầm] 1 – 14


Chương 14: Hội ngộ

 

 

14

 

Từ cung Quang Huy nhìn ra có thể thấy một phần hồ Dâm Đàm gợn sóng nước mênh mang như biển. Tà dương lộng lẫy nhuộm lên nên trời như tấm lụa trắng một màu tím nhạt ngả hồng trong ánh chiều đỏ ối. Mây trắng xốp từng cụm, từng cụm trôi đi trong gió thu lồng lộng, vẽ ra một bức tranh rộng lớn, bề thế mà lãng mạn. Một chú chim sâm cầm vỗ cánh bay về phía mặt trời, điểm vào không gian trên thì vô hạn, dưới là những mái đền đài cung điện cao thấp chen nhau một nét màu đen mảnh mai, bé nhỏ. Mái ngói ống hoa sen đều tăm tắp nhuộm màu vàng cam, những hàng cột gỗ chạy dài như vô tận dưới hàng hiên ngả sang sắc đỏ thẫm mỹ lệ. Cung thành đẹp đẽ nhưng thâm nghiêm, yên tĩnh đến nỗi nghe được cả tiếng mấy cô tiểu thư cười đùa nho nhỏ ngoài đình Thu Phong sát mép nước Dâm Đàm.

 

Hạ Liên rót trà, quạt cho nguội rồi dâng mời Tuyên Từ Hoàng thái hậu. Cô thưa:

 

-Bẩm Hoàng thái hậu, chuyện người sai nô tì dò xét đã tra ra rồi ạ. Quan lại trong triều đúng là có người muốn gả con gái mình cho Bình Nguyên vương nhưng cả điện hạ lẫn Ngô Sung viên trước sau đều tìm cớ thoái thác. Bình Nguyên vương thực sự rất được các gia đình có tiếng, có thế ở Đông Kinh để mắt đến, mong có thể kết thông gia nhưng người hình như đều không để tâm đến ai hết.

 

-Chuyện này không lạ! – Nguyễn Thị Anh cởi chiếc áo khoác ngoài ra cho mát, nhàn tản tựa người vào thành ghế – Đứa bé đó tự tin vào bản thân mình, tự tin thì sẽ không đặt mình vào thế phụ thuộc kẻ khác. Còn hai vị thân vương kia thì sao?

 

-Phủ Tân Bình vương xưa nay vẫn rất yên ắng. Nô tì nghe nói ngài ấy đang qua lại với con gái thị giảng Quốc tử giám họ Trịnh. Sự việc cụ thể thế nào, xin Hoàng thái hậu thư thư cho nô tì them ít bữa nữa. Còn, Lạng Sơn vương thì… Quan quân trong triều không ai dám tơ tưởng đến chốn đó chứ đừng nói đến chuyện kết thân.

 

Nguyễn Thị Anh hiểu sự ngập ngừng trong giọng nói của Hạ Liên. Nàng để Bình Nguyên vương Lê Tư Thành quay lại kinh sư chính là đặt đứa trẻ đó cùng những mối quan hệ của nó trong tầm mắt của mình. Nhưng với Lê Nghi Dân thì khác. Năm xưa khi Tiên đế giáng Dương Thị Bí xuống làm thứ dân, truất phế toàn bộ tước phong, bổng lộc, lại đẩy con trai người ấy từ chỗ là Đông cung Hoàng thái tử thành phiên vương ở nơi xa xôi, đó không phải là nhổ đi cái gai trong mắt, nhưng cũng tạm coi là đẩy được một mối nguy cơ ra xa khỏi Đông Kinh. Giờ những đứa trẻ ngày ấy đã lớn, đất Lạng Sơn lại ở nơi địa đầu, Nguyễn Thị Anh ngờ rằng những điều mình thấy không hẳn đã là sự thật. Dương Thị Bí không an phận, con của ả càng không thể an phận như Tân Bình vương Lê Khắc Xương kia. Trong suốt thời gian buông rèm nhiếp chính, Hoàng thái hậu biết chắc mình cũng làm ra vài chuyện khiến lòng người không phục, chẳng qua chưa có ai thực sự có tiếng, có thế, có danh để đám người không thuận kia dựa vào mà làm loạn. Nay Hoàng đế tuổi còn trẻ đã đích thân chấp chính, việc chuệch choạc trong trị nước dù được cái đại thần ra sức giúp đỡ cũng khó tránh khỏi con mắt ưng diều soi mói của những kẻ bụng dạ hẹp hòi. Lòng người nay thế này, mai thế khác, lòng người nơi quan trường lại càng không thể tin được hơn nữa, tham vàng bỏ ngãi cũng đâu phải việc gì lạ lùng. Nàng lo là lo chuyện ấy, lo không biết chắc được những kẻ hàng ngày vẫn sụp mình hô: “Quan gia muôn tuổi, muôn muôn tuổi” bao nhiêu kẻ dám nuôi lòng phản trắc, tráo trở.

 

-Lệnh bà, trong số các tiểu thư quan gia chẳng chấm một ai. Cả nô tì lẫn ngài Đào Biểu đều đã thử dò xem ý tứ bệ hạ thế nào nhưng… – Hạ Liên nhỏ giọng nói thêm.

 

-Quan gia vẫn qua lại với con bé Tô Mộc nhà ngự y họ Dương đúng không? – Hoàng thái hậu hỏi, không rời mắt khỏi trang sách trên tay. Những lời người nói ra dường như chẳng liên quan lắm đến tin tức mà cô thị nữ thân tín vừa bẩm báo. Hạ Liên tưởng chừng chủ nhân của mình sẽ phải rất nóng lòng trong chuyện thành hôn, lập phi của Hoàng đế vì đó chính là một cách để tạo dựng vây cánh, củng cố quyền lực. Nhưng hóa ra lại chẳng phải, dường như Hoàng thái hậu vẫn đang lặng lẽ quan sát, vẫn đang cân nhắc và như vẫn còn hồ nghi một điều gì đó.

 

-Dạ vâng. Thỉnh thoảng quan gia có xuất cung, khi thì đi cùng Tân Bình vương, khi lại đi cùng Bình Nguyên vương, nhưng lần nào cũng ghé qua gặp Tô Mộc. Nô tì thấy quan gia có vẻ thực sự rất ưng cô bé này nhất.

 

-Vậy cùng tốt! – Gập cuốn sách lại, những ngón tay thon của nàng nhấc chén trà lên, từ từ thưởng thức, ung dung tự tại.

 

Bóc mấy múi cam đặt vào chiếc đĩa sứ, Hạ Liên cất lời:

 

-Nô tì thấy tính tình con gái ngự y Dương Đán rất tốt, lanh lợi, thông minh lại thật thà. So với những tiểu thư cành vàng lá ngọc chắc hấp dẫn quan gia hơn. Nhưng thân phận của cô bé ấy nói cao không cao, thấp không thấp, dù quan gia có ưng đi chăng nữa cũng khó có thể tấn phong lên những vị trí quan trọng trong hậu cung.

 

-Ta chỉ muốn quan gia có thể vui vẻ một chút, không phải lo nghĩ hay đề phòng. – Nhấm nháp miếng cam ngọt mát, Tuyên Từ liếc mắt nhìn những cô bé áo khăn mỗi người mỗi sắc, xiêm y tề chỉnh ngoài đình Thu Phong – Ta đâu nói sẽ đồng ý để người lập Dương Tô Mộc làm tần thiếp. Hoàng hậu, Tam phi, cửu tần hay lục chức đều phải là những người có thể qua hôn nhân giúp quan gia củng cố giang sơn, đều phải là những vị tiểu thư xuất thân từ những gia đình có thế lực. Chỉ là hiện giờ chưa thật có ai đủ nổi bật để chọn ra thôi.

 

-Nhưng lỡ như quan gia muốn lập Tô Mộc thì phải làm sao ạ? – Hạ Liên bồn chồn hỏi bởi tính khí của Hoàng đế trẻ tuổi cô vốn không lạ gì. Người đơn giản, chân thành, chính thế nên mới thật khó để xếp đặt những nước cờ chính trị.

 

Cất tiếng cười thoải mái, Hoàng thái hậu phe phẩy chiếc quạt lông trắng mềm mịn như tơ, thong thả thưởng thức sắc hoa cúc vàng tươi trồng trong những bồn hoa dọc lối đi lát gạch hoa chanh trong ánh hoàng hôn dẫn ra ngoài bờ hồ rồi mới nói:

 

-Người được Hoàng đế yêu thích thực sự thì không nên leo lên những vị trí quá cao để cả thiên hạ chú ý đến, thành tâm điểm cho kẻ khác chĩa mũi nhọn vào. Điều này ắt quan gia hiểu rõ, sẽ tự cân nhắc được.

 

Cắt đặt cung nữ thắp sáng nến trong cung Quang Huy rồi chuẩn bị bữa tối, Hạ Liên không nói gì thêm nhưng lòng cũng ngầm đoán ra tính toán của Hoàng thái hậu. Tuyên Từ vừa muốn thăm dò tâm ý của Hoàng thượng, vừa muốn từ từ uốn nắn đứa con này theo mong muốn của mình. Giờ quan gia đã lớn, Hoàng thái hậu không thể nhất nhất lúc nào cũng nói “con phải thế này”, “con phải thế kia”, cũng không còn có thể ép buộc Bang Cơ như lúc giết Trịnh Khả và Trịnh Khắc Phục. Hoàng đế có uy nghiêm của Hoàng đế, chàng giờ dù tuổi còn trẻ nhưng sẽ nhanh chóng nhận ra điều ấy. Bao năm qua Tuyên Từ bao bọc đứa con trai này, lúc nào cũng nơm nớp lo sợ ai đó sẽ đến, giằng lấy cuộc sống này khỏi tay thằng bé. Vì sợ nên gần như nàng cắt đứt mọi mối liên hệ tiềm ẩn nguy cơ bắt nguồn từ bên ngoái của con trai. Chàng hình như cũng hiểu được điều ấy phần nào nên lâu dần cũng dễ dàng chấp nhận cuộc sống kiểu đó. Dương Đán là người biết sợ nên không dám ho he những điều xưa cũ, cũng gọi là thông hiểu lễ nghĩa nên con gái ông ta không gây ra chuyện gì thất thố, lại có thể khiến Bang Cơ vui vẻ như vậy, không phải nhìn trước ngó sau những mưu tính chốn quan trường, thế âu cũng là một chuyện tốt.

 

 

 

 

***

 

 

 

 

Gió thổi lồng lộng làm những tấm rèm lụa tuy đã được buộc gọn lại nhưng chốc chốc lại bị thổi căng phồng như cánh buồm. Tư Thành chầm chậm thưởng trà, bình thơ với các quý tiểu thư trong đình Thu Phong, ngắm cảnh hoàng hôn diễm lệ buông trên mặt nước Dâm Đàm. Đâu đấy trong cơn gió thu hanh hanh có hương sen nhàn nhạt, tựa như dư âm còn lại từ những ngày hè ẩn trong mùi nước, trong cái nắng ngọt như mật. Quanh đi quẩn lại cũng chỉ có từng ấy câu thơ, từng ấy gương mặt nhìn đã phát nhàm nhưng đến ngáp một cái, hay trưng ra những cái nhìn thờ ơ chàng cũng không làm. Anh trai Hoàng đế của Tư Thành đã ra chỉ dụ: “Em mà dám để anh lại một mình với đám tiểu thư ấy thì cứ liệu mà chịu phạt. Đừng nghĩ anh không dám làm!”. Không hẳn chàng sợ lời đe dọa ấy, phần nhiều là vì thấy ái ngại cho tình cảnh: làm con hiếu thảo không nỡ khiến mẫu hậu phiền lòng của Bang Cơ nên lần nào Tư Thành cũng nán lại đến những khắc cuối cùng. Chàng cũng tiếc thời gian của mình lắm chứ, từng ấy thời giờ trôi qua đủ để đọc thêm vài cuốn sách, viết thêm vài bài luận, vài bản tấu rồi. Nói qua nói lại với mấy vị tiểu thư đây không làm sáng tỏ thêm điều gì trong sách vở, phần nhiều chỉ là những lời hoa mỹ, khuôn sáo điểm tô cho nhan sắc, địa vị mà thôi. Họ chừng như chỉ nhại lại những điều thầy dạy đã mớm sẵn để ra vẻ có học hành trước mặt Thiên tử chứ chẳng đưa đến kiến giải nào mới mẻ, thế nên câu chuyện cứ dần dần nhạt nhẽo đi theo cơn gió. Mượn cớ phải chuẩn bị bàn cờ cho Hoàng đế, Tư Thành nhanh chóng đứng dậy, dời đi ngay khỏi chỗ hoa xuân tranh khoe sắc ấy, thở hắt ra rồi đột nhiên dừng bước trên cây cầu đá bắc qua một hồ cá nhỏ giữa vườn cây um tùm.

 

Trên mặt nước ngả màu xanh lục bập bềnh những viên bỏng trắng. Chỉ trong một thoáng sau mấy tiếng vỗ tay, những con cá chép vảy rồng thân vàng cam lấp lánh vảy bạc thi nhau nhau ngoi lên, tranh cướp miếng ăn làm mặt nước xáo động trông cũng vui mắt. Tư Thành nghiêng người nhìn qua tán cây ngâu mọc quây bên bờ hồ, tìm kiếm nơi phát ra tiếng vỗ tay ấy. Trên hòn đá xám trắng được mài nhẵn một mặt làm chỗ ngồi là cô bé chừng mười một, mười hai tuổi, mái tóc đen vấn cao, phục sức nhã nhặn. Nằm giữa lớp lụa màu phấn hồng của cô là một gói bỏng hãy còn nguyên. Đôi gò má bầu bĩnh ửng hồng nắng chiều, trong đáy mắt chăm chú ngắm nhìn đọng những vệt long lanh trong vắt. Chắp tay sau lưng, ngắm nghía người ta một hồi, cuối cùng Tư Thành mới tắng hắng mấy tiếng thay cho lời chào. Giật mình ngoảnh lại, vội vàng, luống cuống nhảy khỏi hòn đá, cô bé bối rối đưa tay chỉnh lại mái tóc rồi cúi đầu:

 

-Thần nữ xin thỉnh an điện hạ.

 

-Sao tiểu thư không vào đình Thu Phong ngắm cảnh mà lại ra đây? Tiểu thư thích cá hơn sao?

 

Ngước lên nhìn vẻ mặt cậu thiếu niên đứng trên cầu, vẻ nửa đùa nửa thật ấy của Tư Thành làm cô bé không biết trả lời thế nào cho phải, đành thật thà thưa:

 

-Thần nữ… không giỏi thơ phú, sợ làm mất nhã hứng của điện hạ nên…

 

So với những vị tiểu thư kia, người lúc này Tư Thành trông thấy dung mạo đáng yêu hơn hẳn bởi ít nhất, nàng không cố làm cho mình đặc biệt hay vờ trưng ra một vẻ uyên thâm nào đó. Mấy đầu ngón tay vần vò vạt áo vẻ như lo lắng lắm của cô gái làm Tư Thành chợt bật cười, nghiêng đầu nhìn:

 

-Tiểu thư khiêm tốn thôi!

 

Lời khen ấy làm gò má cô bé ửng hồng hơn nữa, càng cúi mặt thấp xuống. Những lần nhập cung trước, phần vì quá chán nản, phần vì luôn nghĩ những cô gái đối diện nhan sắc tầm thường, học vấn càng tầm thường hơn nữa nên Tư Thành chẳng mấy khi để tâm, chỉ thỉnh thoảng buông ra vài câu chuyện hài hước để không khí đỡ nhạt nhẽo, sượng sùng. Mọi thứ khi đó lướt qua vùn vụt nên chàng không ấn tượng gì mấy với người đối diện. Chính thế nên cái nhìn ngày hôm nay mới thi vị, bất ngờ đến thế.

 

-Ta cũng muốn cho cá ăn. Tiểu thư có thể cho ta mượn một ít bỏng được không? – Tư Thành vui miệng đề nghị.

 

Cô bé nhất thời ngây ra một lúc rồi mới gật đầu, bước về phía chàng. Nắm bỏng trong tay cô được thả vào lòng bàn tay để mở của Tư Thành nhưng cả năm đầu ngón tay đều giữ cách xa một chút, tuyệt đối không đụng chạm đến người đối diện.

 

-Chẳng hay quý tính của tiểu thư là… – Chàng mở lời, điềm đạm đưa mắt nhìn.

 

-Thần nữ họ Phùng, tên Thục Giang ạ. – Nàng đáp, giọng nói có chút run run ngượng ngập. Con ngươi đảo trong tròng mắt bồn chồn vì không biết tâm ý vị thân vương ra sao khi người đột nhiên không giữ im lặng nữa, lại nhắm đến mình.

 

-Một cái tên đẹp! – Chàng cười thoải mái, ném chỗ bỏng trong tay xuống nước – Tên là “Giang” thẩm nào tiểu thư lại thích cá như vậy.

 

Im lặng hồi lâu, say sưa ngắm những chú cá quẫy mình trong nước, điểm vào màu xanh lục những sắc màu rực rỡ, lấp lánh, Thục Giang cất tiếng nho nhỏ:

 

-Nhìn cá bơi lội thần nữ cảm thấy chúng rất thư thái, an nhàn.

 

-Cho đến khi có mồi ngon thôi.

 

Những lời ấy Tư Thành nói cho riêng mình nghe, đoạn quay sang cô bé bên cạnh:

 

-Tiểu thư không phải là cá, sao biết cuộc sống này của chúng là thư thái, an nhàn? Không phải câu đố mẹo hay có ý gì đâu, ta chỉ muốn nghe ý kiến của tiểu thư thôi.

 

Giữa lúc người con gái còn đang mải suy nghĩ, viên hoạn quan từ đâu xuất hiện, dáng vẻ gấp gáp lắm. Mới nhác trông thấy bóng Tư Thành, anh ta đã bước thấp bước cao chạy đến, thi lễ rồi thưa:

 

-Bẩm điện hạ, Hoàng thượng đang đợi người ở điện Trường Xuân ạ!

 

Đi được mấy bước, gập chiếc quạt trong tay lại, Tư Thành hơi ngoảnh mặt về phía sau, cười:

 

-Thứ ta mượn tiểu thư, sau này nhất định hoàn trả!

 

 

 

 

Hoàng hôn chuyển dần từ sắc đỏ cam sang tím hồng, chẳng mấy chốc nền trời đã thành một màu lam thẫm. Trăng non mới nhú vẽ một nét mờ mờ trên nền trời lúc ánh dương sắp tàn. Con đường dưới chân không dẫn đến điện Trường Xuân mà dẫn thẳng đến Bí thư các. Tư Thành đoán chừng viên hoạn quan vì thấy Thục Giang nên không dám nói thẳng Bang Cơ đang đợi chàng ở đây, đành phải nói tránh đi.

 

-Vị tiểu thư họ Phùng ban nãy ngươi có biết xuất thân thế nào không? – Chàng chợt hỏi theo kiểu vô thưởng vô phạt, dường như thuần túy chỉ là tò mò, kiếm điều để nói cho quãng đường bớt xa.

 

-Thưa… – Viên hoạn quan ngoảnh lại, bước chân chậm đôi chút – … thần nghe tổng quản Đào Biểu nói tiểu thư ấy là người lộ Hóa Châu, họ đằng mẹ cũng thuộc dòng dõi quý tộc nhà Trần khi xưa. Còn thân phụ… thần chỉ biết thân phụ tiểu thư mới được bổ nhiệm vào làm ở Tả ty môn hạ sảnh, còn đến chức quan nào thì không rõ ạ.

 

Gật đầu tỏ vẻ đã hiểu, Tư Thành không nói gì thêm nữa. Môn hạ sảnh, một trong tam sảnh[1], kề cận cạnh Hoàng đế, xem ra Hoàng thái hậu thực sự rất cân nhắc về xuất thân của những người sẽ được chọn để trở thành con dâu mình. Chẳng mấy chốc sau những hàng cây sum suê đã hiện lên đầu đao rồng phượng cong cong của Bí thư các. Cấm quân, nội thị, cung nữ đứng hầu bên ngoài im như tượng càng làm khung cảnh lúc xâm xẩm tối ở nơi này thêm tĩnh mịch, thâm u. Tiếng gió heo may luồn qua tán lá nghe xào xạc, thổi dọc dãy hành lang dài. Bên trong lọt ra chút ánh nến ấm áp nơi Hoàng đế đang ngồi. Để hoạn quan bẩm báo xong xuôi, Tư Thành tự đẩy cửa bước vào. Trái ngược với ý nghĩ của chàng, trên tay Bang Cơ không phải là cuốn sách mà là một quân cờ.

 

-Thần đệ bái kiến quan gia.

 

-Em ngồi xuống đi, để ta bày lại bàn cờ – Bang Cơ cất lời, có vẻ gì xa cách hơn thường ngày. Cũng đã khá lâu hai người mới lại gặp mặt thế này, không tính những lúc ở tòa Kinh Diên nên thái độ của Hoàng đế khiến Tư Thành có chút suy nghĩ.

 

Nhìn qua mấy cuốn sách để mở trên bàn, nhìn những con chữ uể oải trên trang giấy, Tư Thành lén quan sát sắc mặt của Hoàng đế rồi mới vén tà áo, ngồi xuống chiếc ghế đối diện. Mấy câu chuyện tiếu lâm định mang ra kể cho vui xem chừng phải gác lại thật rồi. Trên bàn cờ, những quân cờ bằng ngọc đen và ngọc trắng được điêu khắc tinh xảo, sáng bóng lên lần lượt được điều đi hết góc này đến góc khác. Không có tiếng người, chỉ có tiếng gió ngoài song cửa, tiếng lá cây trong một ngày hanh hao xao xác giữa đêm thu, tiếng quân cờ đập lên mặt gỗ khô khốc, trầm đục. Hết ván này đến ván khác. Đào Biểu đôi lần đứng bên ngoài bẩm đã đến giờ dùng bữa tối nhưng Bang Cơ cũng chỉ ra lệnh bảo họ lui cả đi.

 

Đây không phải lần đầu tiên Bình Nguyên vương hầu cờ Hoàng đế nhưng lại là lần đầu tiên chàng thấy người đối diện chơi những nước đi như vậy. Xưa nay Hoàng đế cầm cờ thường dùng những bước chắc chắn, cẩn trọng nhưng đôi lúc Tư Thành vẫn phải dẫn cờ sao cho buộc được Bang Cơ xuất ra những nước đi hiểm hóc. Với chàng đây không phải chỉ là một trò chơi, nó là chiến trường, là quan trường thu nhỏ nên sự nhân từ, khoan dung nhiều khi rất nguy hiểm. Nhưng Hoàng đế lại nghĩ khác. Dù cầm quân trắng hay quân đen, khi đã đấu ngang không nhường, không chấp, Bang Cơ thua nhiều hơn thắng nhưng lần nào lúc thu dọn bàn cờ, chàng cũng đều cười. Đinh Liệt dạy cờ cho cả Hoàng đế lẫn Bình Nguyên vương, nhưng một người chỉ cho là chơi lấy vui, một người lại rất coi trọng. Bang Cơ vẫn thường bảo: “Cờ tướng lấy việc sát phạt đối phương, hủy hoại thế trận phía bên kia để mưu chiến thắng cho mình. Với một trò chơi, chuyện đó có gì tốt đâu?”.

 

Thế nhưng hôm nay, dù những nước cờ có phần bạt mạng nhưng lại sắc sảo hơn ngày thường, Bang Cơ đã ép được Bình Nguyên vương phải dốc hết tâm sức để đoán định thế trận, tìm cách chống đỡ, cũng không ít lần ép được chàng vào thế tiến thoái lưỡng nan.

 

-Chiếu tướng! – Những ngón tay mới rời khỏi quân xe, Bang Cơ lạnh nhạt cất lời.

 

Tư Thành chau mày nhìn cục diện, mấy đầu ngón tay nhịp nhịp khe khẽ trên mặt bàn gỗ tính toán xem trăm cửa tử có thể có một cửa sống hay không. Hoàng đế ung dung tựa người ra sau, xoay qua xoay lại quân mã mình mới “ăn” được trong tay, chăm chú quan sát gương mặt người đối diện. Cung thành là nơi tôn nghiêm nhất dưới bầu trời này và cũng là nơi lắm chuyện thị phi gian trá nhất. Bang Cơ hồi tưởng lại nhưng điều mình nghe được, không khỏi thấy bàng hoàng.

 

“Này, không biết đợt này quan gia sẽ chấm ai trở thành phi tần của mình nhỉ?” – Từ những cái miệng xinh xắn chuyên nói lời dịu ngọt, dễ nghe của những quý tiểu thư cuối cùng cũng thốt ra những điều mưu tính hệt như người lớn – “Mà làm cung nhân có gì hay đâu, Hoàng thái hậu xếp đặt tất cả, không được người ưng ý thì sớm muộn gì cũng sẽ không được yên thân. Như năm xưa… tôi nghe đâu chính người đã gạt cả Dương thị mẹ Lạng Sơn vương lẫn Ngô Sung viên – thân mẫu của Bình Nguyên vương để đường hoàng trở thành…”

 

“Tôi có lần nghe lén được thân phụ nói chính lệnh bà là người tố cáo Ngô Sung viên dùng tà thuật ám hại quan gia. Lần đó cả Ngô Sung viên lẫn Bình Nguyên vương chẳng phải suýt chút nữa thì mất mạng sao?”

 

Những lời dị nghị ấy không phải xưa nay Bang Cơ chưa từng hay biết. Khi còn bé chỉ là nghe phong thanh, không ai dám nói lớn nên chàng cũng chỉ biết được vài phần, lại không cho là thật. Nhưng giờ không phải chỉ có đám cung nữ nhỏ to, đến các tiểu thư xuất thân danh gia cũng biết. Còn cái lần chàng tình cờ trông thấy Hạ Liên xuống tay đánh hai cung nữ lớn tuổi vì dám nói đến chuyện mẫu hậu mình với thân mẫu của Tư Thành một trận thừa sống thiếu chết, rồi chuyển họ xuống trại ngựa, hoài nghi trong lòng dường như đã được xác thực. Mẫu hậu của chàng có thể lạnh lùng, nghiêm khắc nhưng chưa lúc nào Bang Cơ nghĩ người có thể làm ra chuyện đổi trắng thay đen, hãm hại người khác. Còn Tư Thành, không cần một lý do nào hết, Bang Cơ tự nhiên có linh cảm đứa em này đã biết từ lâu, biết nhưng lại vờ như không biết. Sự bình thản của Tư Thành khiến Hoàng đế sững sờ, không biết phải đối diện ra sao mới phải, không biết những điều cùng nhau trải qua ngần ấy năm bao nhiêu phần là thật, bao nhiêu phần là dối trá. Nếu Bình Nguyên vương cố tình che đậy sự phẫn nộ trong lòng, vì lẽ quân thần mà đóng một vở kịch trước mặt chàng, em ấy có sai không? Còn chàng, bản thân chàng có đúng không?

 

Ngón tay đặt lên quân cờ của Tư Thành đột nhiên ngưng lại khi Hoàng đế lên tiếng:

 

-Tư Thành, anh muốn hỏi em một chuyện.

 

-Hoàng huynh cứ nói ạ. – Chàng đưa mắt nhìn, hơi ngạc nhiên nhưng rồi nhanh chóng ngồi thẳng lưng, nghiêm túc lắng nghe.

 

-Anh muốn hỏi… em có biết chuyện giữa mẫu hậu anh với Ngô Sung viên khi xưa không? – Bang Cơ nhìn thẳng, nói một lèo rất nhanh nhưng rõ ràng.

 

Đáp lại chàng chỉ có một ánh mắt đen bình lặng. Không hẳn Tư Thành không ngạc nhiên vì câu hỏi đó nhưng dường như, đứa em biết ngày này chẳng sớm thì muộn cũng đến nên đã chuẩn bị trước tâm lý ít nhiều.

 

-Em biết. Biết lâu rồi – Chàng từ tốn đáp, nửa quan tâm, nửa thờ ơ – Nhưng hoàng huynh, việc đó có quan trọng gì?

 

Câu hỏi ngược này của Tư Thành khiến Bang Cơ im lặng. Chàng đan hai tay vào nhau dưới tay áo rộng thêu hình rồng, trầm tư, đôi lông mày chau lại. Làn hương mỏng trắng đục từ chiếc lư đồng tỏa ra như tấm vải sa lay động trong cơn gió lọt vào qua khe cửa, phút chốc bị xé rách, tản mát thành từng sợi nhỏ trong không gian.

 

-Em không hận sao?

 

-Hận!

 

Một chữ ấy từ miệng Tư Thành làm Hoàng đế sững người. Chàng hẳn nhiên chờ đợi một lời đáp khác dù biết những lời ấy nếu có nói ra đến quá nửa là dối trá. Sự thật bao giờ cũng thật đắng chát, hiển nhiên nên đắng chát.

 

-Ván cờ này em thua rồi – Bình Nguyên vương nghiêng đầu, chầm chậm bày lại bàn cờ – Chúng ta chơi tiếp chứ?

 

Không một lời đáp.

 

Chàng vẫn tiếp tục xoay chỉnh những quân cờ, thong thả nói tiếp:

 

-Em đã suy nghĩ rất nhiều về chuyện của Hoàng thái hậu với thân mẫu. Đó dù sao cũng là chuyện của người lớn, còn hoàng huynh là hoàng huynh, em là em, chúng ta không nhất thiết phải mang những xích mích của thân mẫu trên vai làm gì. Ngày đó đúng là lệnh bà muốn mẫu thân em phải chết nhưng cuối cùng mẹ con em vẫn đang đối diện anh đấy thôi. Cái gọi là tranh đoạt hậu cung chỉ có một lý lẽ: mình không hại người không có nghĩa người không hại mình. Đúng là vì Hoàng thái hậu muốn bảo vệ anh nên mới dàn xếp ra vụ việc đó nhưng nói thật, em không hận người. Anh không thấy mẫu hậu mình hậu đãi em và thân mẫu lắm sao?

 

-Những chuyện ấy hoàn toàn có thể là giả. – Bang Cơ cười nhạt, khẽ lắc đầu.

 

-Thật hay giả không quan trọng. Em chỉ biết mẫu thân mình cầu hai chữ “bình an” thì Hoàng thái hậu đã ban hai chữ “bình an”. Thế là đủ rồi!

 

Vươn tay xuất quân mã trên bàn cờ, Bang Cơ trầm giọng nói:

 

-Cứ cho em không hận mẫu hậu của anh. Người em hận là… phụ hoàng?

 

Ba ngón tay bao quanh quân cờ thoáng run lên. Tư Thành có chút sửng sốt khi đón nhận ánh mắt đen lạnh, thẳng thắn của Hoàng đế. Chàng nhỏ giọng nói, không chút kiêng dè trong nụ cười nửa miệng châm biếm:

 

-Thần nghe nói những chuyện xảy ra trong Bí thư các là thâm cung bí sử, tuyệt đối không thể lọt được ra ngoài đúng không ạ?

 

-Đúng vậy! – Bang Cơ xác nhận.

 

-Thần không hận mẫu hậu của quan gia vì dù lệnh bà có chủ tâm dựng chuyện thế nào đi chăng nữa, vẫn là Thái Tông hoàng đế hạ lệnh xử tội cuối cùng. Người có thể điều tra, người có thể trừng phạt, việc Tiên đế dùng quyền lực của mình ra sao, cả quan gia và thần đều biết rõ. Thế nên chuyện của thần, quan gia không cần bận lòng. Bình Nguyên vương nói nguyện cả đời này làm thần tử của người, làm hoàng đệ của người, thần quyết không hai lời.

 

Chăm chú lắng nghe những điều Tư Thành nói, cuối cùng Bang Cơ chỉ thở dài:

 

-Đúng là đã có lúc anh hơi nghi hoặc nhưng cuối cùng, anh luôn tin em… Chỉ là… mà thôi bỏ đi, cũng không sao hết.

 

Lời nói bỏ lửng ấy của Lê Bang Cơ là điều ở rất sâu trong con người của Lê Tư Thành, được giấu nhẹm sau tầng tầng những điều tốt đẹp, xuất chúng khác. Chàng đã nhìn ra nhưng không phân định nổi chữ “hận” găm chặt khắc sâu ấy cuối cùng là nên hay không nên. Cúi đầu nghiền ngẫm thế cờ, Hoàng đế nói khẽ:

 

-Dù sao… anh cũng muốn nói: Xin lỗi!

 

 

 

***

 

 

 

Đưa chiếc nón quai thao cho con bé người ở, vị phu nhân nọ cắt đặt phu khiêng đứng dẹp sang một bên lấy lối cho người ta còn ra vào nơi cửa Phật. Cô gái mặc chiếc áo tứ thân màu hồ thủy bên ngoài chiếc yếm trắng xuống khỏi chiếc võng điều, đưa mắt nhìn quang cảnh xung quanh. Đông Kinh với nàng xa lạ quá, đến cả những ngôi chùa tưởng như đâu cũng giống nhau lại mang một dáng vẻ lạ lẫm. Nhang khói vẫn vít hư hư thực thực bao lấy dãy nhà bề thế, mái ngói âm dương xếp đều như vảy cá ngả bóng xuống hàng hiên. Một sắc nầu trầm được điểm thêm những sơn son thếp vàng mờ đi vì hương khói bao năm tạo ra một vẻ thâm nghiêm, u tịch khiến người ta không khỏi thấy lòng lặng đi.

 

-Lam Ninh, con lại đây! – Người phụ nữ vẫy tay gọi nàng thiếu nữ, dịu dàng chỉnh lại mái tóc được vấn gọn trong khăn nhiễu cũng mang một sắc xanh nhàn nhạt, dặn – Vào nơi cửa Phật thì tĩnh tâm lại một chút, chuyện gì nghĩ thoáng được thì nghĩ thoáng ra, chuyện gì bỏ qua được thì bỏ qua hiểu không con?

 

Lam Ninh tủm tỉm cười, gật đầu. Trên đôi má phơn phớt sắc hồng của nàng ẩn hiện một lúm đồng tiền mờ mờ. Người phụ nữ thở dài, nói thêm:

 

-Ý mẹ là con chớ có gây chuyện với người ta nữa ấy, đừng có đứng đấy cười không!

 

Nàng gật đầu qua quýt, biết thừa “người ta” mà thân mẫu nhắc đến chính là cô con dâu thứ hai được ông bà nội mình nâng hơn nâng trứng, hứng hơn hứng hoa. Khom lưng đội mâm đồ lễ lên đầu, Lam Ninh rảo bước theo mẹ, mắt chăm chú nhìn những cây trong vườn chùa. Sự việc thực ra chẳng có gì, giờ nghĩ lại, nàng còn thấy có đôi phần hài hước. Ai khiến cô ta được ăn, được nói nhưng không biết điều, đang yên đang lành lại lên giọng giáo huấn nàng. Mới hôm qua, dưới dàn mướp xanh rì tỏa bóng mát xuống một khoảng sân, cô con dâu thứ hai vừa phe phẩy quạt ru đứa con trai thứ ba hãy còn bú mớm của mình ngủ, mới nhác thấy bóng Lam Ninh đi học về đã gọi giật lại. Lúc nàng thấy bóng con ở tên Trinh đứng gần đó đã lờ mờ đoán có sự không lành nhưng thực lòng không nghĩ chị ta lại mang chuyện của nàng và Lương Thế Vinh ra để ton hót. Giao đứa con nhỏ cho Trinh bế ẵm, cô con dâu cong môi đỏ màu trầu thuốc lên, nheo nheo mắt nhìn nàng, bảo:

 

“Lam Ninh, tiểu thư tuổi cũng không còn nhỏ, chuyện gì làm cũng phải nhìn trước ngó sau, phải nghĩ đến thể diện của phụ mẫu, của ông bà nữa chứ. Nam nữ thụ thụ bất thân, người là tiểu thư cành vàng lá ngọc, ai lại đi giao thiệp với một thằng khố rách áo ôm, nghèo rớt mồng tơi bao giờ? Dù có được tiếng là thần đồng đi chăng nữa, ai biết được nó có định lợi dụng cô để chấm mút gì nhà ta không. Tiểu thư đọc sách không ít, chớ để cho lũ chúng nó được thể đũa mốc đòi chòi mâm son! Cô cũng nên bớt bớt thời gian ra ngoài mà tính đến chuyện hôn nhân đại sự đi cũng là vừa rồi đấy!”

 

Xem ra cô ta còn muốn nói nhiều nữa nhưng chưa kịp mở miệng đã bị Lam Ninh hắt cả bát nước chè được người ở bưng ra vào mặt. Nghe đâu sau khi nàng quay đầu bỏ đi, cô ả còn tức giận chửi bới ầm ĩ, đến bữa cơm tối còn khóc lóc nỉ non với chồng của mình, rồi thẽ thọt gì đó với ông bà nội. Nàng xưa nay vốn chẳng quan tâm đến mấy chuyện tầm phào, chỉ áy náy vì hành động của nàng mà mẹ bị người ta móc mỉa mà thôi. Nhưng giờ cho chọn lại, Lam Ninh chỉ hận lúc đó không có thau nước ở đấy để hắt cho đã tay.

 

Nụ cười của cô gái nở ra trên môi nhưng rồi cũng để lại bên ngoài bậu cửa. Sự tĩnh lặng trong tiếng gõ mõ đều đều, trầm trầm làm nàng tự điều chỉnh lại biểu cảm trên gương mặt mình sao cho nghiêm chỉnh nhất. Trong chính điện chật ních những người. Trời đã vào thu nhưng trong một không gian tuy rằng rất rộng rãi nhưng giờ chỉ thấy người là người, hít thở cũng là một công việc xa xỉ. Chẳng là hôm nay chùa Sùng Khánh Báo Thiên[2] – tòa cổ tự đẹp nhất kinh thành – làm lễ hô thần nhập tượng nên thiện nam, tín nữ ở nhiều nơi kéo về chiêm bái, tỏ lòng sùng mộ Phật pháp. Tiếng tụng kinh trầm bổng của các sư thầy cùng các bà vãi mình vận áo nâu, tay lần tràng hạt tạo nên thứ thanh điệu thâm nghiêm bí ẩn. Đặt mâm lễ lên ban, lễ lạt theo đúng phép tắc xong xuôi, Lam Ninh lách người định bước ra ngoài. Bước chân nàng đột nhiên chậm lại, một chân đã bước qua bậu cửa nhưng mắt hãy còn chưa dời. Giữa đám đông, gương mặt nhìn nghiêng đẹp đẽ, thanh tú của thiếu nữ, ánh mắt ngước lên tam bảo thành kính nguyện cầu ấy làm nàng ngẩn ra.

 

-Phu nhân, con xin phép ra ngoài đợi ạ! – Hải Triều cúi xuống nói khẽ vào tai Minh Nguyệt. Nàng vừa mới định quay lưng đi, cổ tay đã bị bà giữ lại, thuận thế, buộc nàng quỳ xuống cạnh mình.

 

Nhìn người phụ nữ lẩm nhẩm niệm kinh, dáng vẻ của Mai Loan khi xưa cũng bộ áo nâu ấy, cũng tràng hạt ấy, cũng ánh mắt chuyên tâm tĩnh lặng ấy hiện lên, quẩn lấy tâm trí nàng. Khóe miệng Minh Nguyệt hơi nhếch lên, nói khẽ đến độ nếu không phải Hải Triểu cúi đầu, chăm chú lắng tai, chắc chắn nàng không thể nghe ra.

 

-Ngày mai con đến phủ, phu quân ta muốn gặp con.

 

Hẳn nhiên nàng đợi cuộc gặp mặt ấy, đợi mà không cần quá hy vọng ở kết quả. Nhưng sao nghe thấy những lời ấy của Minh Nguyệt, đột nhiên trong lòng lại dâng lên thứ cảm giác gì không mấy thoải mái. Vần vò vạt áo cánh trong tay, Hải Triều nhìn sang, cười khổ:

 

-Phu nhân, là lần trước con bày trò để tiếp cận người. Chuyện đến nước này chắc phu nhân đều đã nhìn ra hết. Con… thực sự xin lỗi người!

 

Người phụ nữ mở mắt, ngỡ ngàng nhìn thiếu nữ đang quỳ cạnh mình. Bà thở dài, miệng hơi mỉm cười rồi bảo:

 

-Con thực sự rất giống phụ mẫu mình, giống hơn cả con nghĩ kia!

 

Người ta từ khi nàng còn nhỏ, chỉ cần tiếp xúc qua đã luôn nói Hải Triều rất giống Mai Loan. Chị Đào cũng hay nhéo má nàng bảo rằng, là bẩm sinh đã như vậy hay vì sống với mẹ nên thành ra như vậy. Chuyện ấy đến tận lúc này, có khi đến cả về sau Hải Triều cũng không đáp nổi. Hôm nay, hôm nay là lần đầu tiên có người trên đời nói nàng giống cha, giống Nguyễn Trãi – người chỉ là một hình bóng mờ nhạt hơn cả những giấc mơ trong kí ức. Khẽ lắc đầu, thiếu nữ ngồi xuống bậc cấp, tiện tay nghịch một đóa hoa đại rơi trên sân, không biết nên vui hay nên buồn. Mà vui với buồn nói ra đơn giản quá, vốn chẳng thể gọi tên thứ cảm xúc hỗn độn trong lòng nàng như thế. Tựa lưng vào cây cột gỗ, Hải Triều ngoảnh lại, nhìn vào trong chính điện. In vào đáy mắt đen thăm thẳm là gương mặt từ bi, an nhiên và tựa như đang mỉm cười của đức Phật. Giữa tầng tầng những lớp tượng, pho tượng này nàng biết tên, là Thích Ca niêm hoa.

 

Gò má hơi nhích lên theo nụ cười trên môi. Điển tích xoay quanh bức tượng đơn giản chỉ có mấy câu như sau: Một hôm, Đức Phật không thuyết pháp bằng lời như mọi ngày mà chỉ giơ lên một cành hoa sen. Chúng tăng không ai hiểu ẩn ý của Người, duy chỉ có Ca Diếp tôn giả là mỉm cười. Thế là Đức Phật cho rằng Ca Diếp đã giác ngộ[3]. Tự nhiên Hải Triều nhớ đến vẻ mặt của Lương Thế Vinh hồi trước khi nàng chau mày, dẩu mỏ hỏi cậu: “Ai dám đảm bảo chắc chắn là Ca Diếp tôn giả đã giác ngộ? Đó chẳng phải là chuyện bí mật giữa tôn giả và Đức Phật mà người ngoài không biết? Nhỡ Tôn giả đang nghĩ đến một chuyện hài hước nào đó rồi tự nhiên mỉm cười, vô tình được Đức Phật cho là đã giác ngộ thì sao?”. Nàng luyên thuyên mãi, đến khi nhìn thấy vẻ mặt ngẩn ra của Thế Vinh thì mới bớt mồm bớt miệng lại, gãi đầu bảo: “Đúng như Đức Khổng Tử nói rồi, nữ nhân nan hóa, nữ nhân nan hóa[4]!”. Câu hỏi ấy người thông minh như Lương Thế Vinh còn vắt óc nghĩ mãi không ra, đứa ngốc như nàng chắc mãn kiếp cũng không hiểu được mất.

 

-Thí chủ đang ngắm tượng Phật sao? – Giọng nói trầm ấm, ôn hòa vang lên giữa khung cảnh tĩnh mịch chỉ có tiếng mõ, tiếng chuông làm Hải Triều giật bắn.

 

-Ai di đà phật! – Nàng vội đứng dậy, chắp tay cúi chào sư cụ đứng cạnh, chợt nảy ra ý hỏi liền mở lời – Con có điểm này không hiểu lắm, bạch thầy có thể giảng cho con nghe được không ạ?

 

-Thí chủ cứ nói! – Sư thầy đã già, lông màu đã điểm bạc nhìn nàng chăm chú, xoáy sâu vào đôi mắt đen kia rồi vui vẻ cất lời, kiên nhẫn chờ đợi Hải Triểu thuật lại hết những thắc mắc xoay quanh pho tượng Thích Ca niêm hoa ấy rồi mới ôn tồn đáp – Đúng là chuyện giác ngộ là điều chỉ có Đức Thế Tôn và tôn giả Ca Diếp hiểu rõ, chúng ta là người ngoài, nói gì cũng là phỏng đoán cả thôi. Thí chủ cứ thử nghĩ thế này xem sao: khi Đức Phật giơ cành hoa sen lên, nhiều người lại nghĩ xa xôi quá, nghĩ đến những triết lý cao siêu mà quên mất hoa sen chỉ là một cành hoa sen trong hiện thực. Đôi lúc không cần phải phức tạp mọi chuyện trong đời lên, chỉ cần chú tâm để nhận ra những vật có thực trước mắt để trân quý là đủ rồi.

 

Nhìn vẻ mặt đăm chiêu nhưng rõ ràng là chẳng giác ngộ được mấy nỗi của cô gái trước mặt, sư cụ mỉm cười, khích lệ:

 

-Thí chủ tuổi còn trẻ, từ từ sẽ ngộ ra, không cần phải vội.

 

Dẫm chân lên cái bóng của chính mình, Hải Triều chau mày, sau khi cảm thấy bản thân thực sự đã thất bại trong việc hiểu điều nhà sư nói, nàng đi đến chỗ thỏa hiệp, tạm gác mối tơ vò ấy sang bên. Nàng chỉ không ngờ cành hoa sen trên tay Đức Phật hôm nay nàng đinh ninh mình không hiểu nổi, sau này lại là lời đáp cho chính số phận của nàng.

 

Cánh tay áo đột nhiên bị ai níu lại khiến thiếu nữ thoáng chơi vơi, vội ngoảnh sang. Bốn mắt nhìn nhau, mở lớn, sững sờ. Những tiếng ú ớ thoát ra từ đôi môi người đối diện làm Hải Triều không tin vào cả mắt lẫn tai mình.

 

-Tiểu thư… Lam… Ninh?

 

Nàng ngỡ ngàng một thì Lam Ninh ngỡ ngàng mười. Cũng lâu quá rồi, có còn là chuyện hôm qua nữa đâu mà người thì vẫn nhớ. Cô gái xoay tới xoay lui Hải Triều để nhìn cho rõ, miệng không ngớt mỉm cười. Ậm ừ trong họng để nuốt hai chữ “tiểu thư” xuống khi nhìn thấy cái liếc mắt vẻ phật ý của Lam Ninh, nàng nắm hai tay cô gái, hỏi:

 

-Đằng ấy vẫn ổn chứ? Mình đã trở thành đào nương rồi đấy. Rất ổn!

 

Hai chữ “đào nương” làm mắt Lam Ninh sáng rực lên, gật gù theo kiểu “mình biết sẽ là như vậy mà”. Một cảm giác ấm áp xưa cũ, bình yên đến nỗi làm Hải Triều ngỡ mình hãy còn ở quê, hãy còn là đứa bé lên sáu, lên bảy ngày trước, vô tư vô lo, ngoảnh đi ngoảnh lại sẽ thấy Mai Loan, sẽ thấy chị Đào ngay cạnh. Định nói thêm đôi câu thì thấy phu nhân Minh Nguyệt đang có ý tìm mình, nàng nuối tiếc mỉm cười với cô tiểu thư trước mặt:

 

-Giờ mình phải về rồi, hôm nay phải theo hầu phu nhân. Khó khăn như vậy mà còn gặp lại được một lần, sau này nhất định sẽ có lần hai, lần ba nữa.

 

Giữ tay Hải Triều lại, Lam Ninh vội lần lần quanh dải thắt lưng, rút ra một mảnh vải điều nhỏ đặt vào tay nàng. Ban nãy trùm lên tượng Phật là một tấm vải lớn, lễ xong các sư thầy cắt ra cho mỗi thí chủ dự lễ một mẩu nhỏ gọi là lấy lộc, đây là một vật hết sức tốt lành mà người ta phải tranh nhau mới có được. Khép những ngón tay nàng lại, Lam Ninh mỉm cười nhưng ánh mắt nhìn hàm ý ra lệnh chớ có ý định trả lại. Nhẹ cúi đầu, thiếu nữ ngần ngừ mãi rồi mới mở được lời:

 

-Thứ gì bạn cho mình cũng đều tốt lành cả. Hôm nay ra phố mình chẳng mang theo gì, để lần sau gặp lại, nhất định sẽ có quà cho Lam Ninh.

 

Làm bộ như đang thổi sáo, cô gái cười toe khi nghe Hải Triều nói vậy rồi phẩy phẩy tay, có ý bảo: “về nhanh đi kẻo phu nhân đợi!”. Đám đông trong sân chùa Sùng Khánh Báo Thiên tấp nập lại qua, chẳng mấy chốc đã nuốt chửng thân hình nhỏ bé của Lam Ninh vào trong bể người. Siết chặt bàn tay mình quanh mẩu vải nhỏ, Hài Triều cắn nhẹ môi. Nàng chợt nghĩ đến tờ giấy nhăn nheo loang màu mực ghi độc một chữ “Huyên” chính tay Lam Ninh hạ bút viết ngày trước, giờ kẹp trong cuốn sách nàng thường hay đọc.

 

 

“Huyên” là cái tên Mai Loan đặt cho nàng.

 

 

“Huyên” như Lam Ninh bảo, có nghĩa là ánh sáng mặt trời.

 

 

 

 

***

 

 

 

Sắc điều của những tấm lụa buông chùng phơi trên những cây sào tre rực rỡ dưới ánh sáng mặt trời, đơn giản thế mà chợt khiến lòng người xốn xang. Hàng Đào đất Kẻ Chợ[5] không lúc nào thôi khoác lên mình thứ sắc màu ấy nên mới lấy đó làm tên phường, đi đâu cũng nức tiếng xa gần. Những tấm lụa tựa hồ như kéo dài, dài ra mãi như nét bút thanh thoát của ai, được gió chốc chốc đùa giỡn, hết nâng lên lại hạ xuống. Mấy cô gái mình vận yếm sồi đưa tay níu mép lụa điều, đong đưa ánh mắt, cất giọng í ơi:

 

Gái Đại La trồng dâu nuôi tằm. Chàng bước vào cửa chùa thiếp dệt lụa cho ai?[6]

 

Tiếng hát trong trẻo bông đùa ấy cất lên làm chú tiểu tuổi hãy còn trẻ đi gần đó vội cắm cúi đi thẳng, bỏ lại sau lưng những tiếng cười lanh lảnh.

 

-Đến cả người tu hành các cô cũng không tha phỏng? – Kim Oanh nghiêng người đi dưới mấy tấm lụa được gió thổi bay lên, lừ mắt nhìn mấy cô đào đang che miệng ra cái vẻ thục nữ vô tội – Nhanh cái tay vào nấu nướng, dọn dẹp đi. Người ta mời chúng ta sang đây không phải chỉ để chơi đâu!

 

Tiếng nói nói cười cười của mấy cô gái vọng đến cả mái thủy đình đã cũ nát bên bờ hồ. Mấy viên ngói đã bay mất, để nắng lọt qua, đọng thành những vệt tròn không ra tròn, vuông không ra vuông trên nền gạch. Tư Thành ngồi khoanh chân trên lan ca gỗ đã bạc màu sơn, tựa lưng vào cây cột. Cái hồ trước mặt tuy không đẹp như hồ Ngọc Liên nhưng cá thì nhiều hơn hẳn, buông câu một lúc mà chàng đã kiếm chác được không ít. Chăm chú nhìn mặt hồ, nhìn những cánh bèo trôi theo gợn nước lăn tăn, chàng thoải mái ngáp dài, rút ra một cuốn sách, lật bừa lấy một trang. Nguyễn Xí giản dị hơn, mình mặc áo cánh nâu, ngồi bệt ngay trên trảng cỏ, thong thả móc con giun hãy còn ngo ngoe vào lưỡi câu rồi vung cần. Nhìn dáng vẻ của cậu thiếu niên, ông chỉ mỉm cười. Người ta dễ nhận ra Bình Nguyên vương Lê Tư Thành là người thông minh xuất chúng – đó là thiên phú. Người ta cũng dễ thấy đứa bé này cái gì cũng biết, biết rất sâu sắc chứ không hề cưỡi ngựa xem hoa hay đánh trống ghi tên lấy mỗi cái danh – đó là do cần cù mà thành. Càng dễ dàng hơn nữa để người ngoài gật gù bảo: “già dặn hơn tuổi thât!” – đó là hoàn cảnh uốn nắn thành ra như vậy. Duy chỉ có sự kiên nhẫn là thứ ông trời không ban cho Tư Thành, cũng là thứ đức tính phải vất vả lắm Nguyễn Xí mới nghĩ ra cách để rèn cho được đứa bé tạm vào khuôn phép. Ngày trước, buông câu chưa được một khắc, chàng đã không ngồi yên nổi, nghĩ ra đủ trò nghịch ngợm để giết thời gian, thậm chí là lấy sỏi ném xuống mặt hồ.

 

-Thiếu bảo, ngài có hay dẫn các con mình đi câu như thế này không? – Tư Thành chợt cất tiếng hỏi.

 

-Cũng thỉnh thoảng ạ! – Người đàn ông đáp – Câu cá nhiều khi chỉ là cái cớ để nói chuyện khác. Thần chỉ thất bại trong việc dạy cho Sư Hồi thú vui này thôi. Thằng bé đấy luôn quá nóng vội, rèn thế nào cũng không ăn thua.

 

-Phụ thân, phụ thân, dây câu của con động rồi! – Đứa bé ngồi cạnh Nguyễn Xí liến thoắng cất lời, nửa mừng rỡ, nửa hồi hộp, tay chân cuống quýt không biết phải làm sao.

 

Ánh mắt Tư Thành rời khỏi trang sách, dừng lại trên mặt hồ yên ả loang loáng màu trời, ẩn hiện bóng hình cha con Thiếu bảo. Đôi bày tay cầm đao, cầm kiếm đã quen kia hóa ra cũng có thể nhẹ nhàng chỉ đứa nhỏ cách kéo cần, có thể gỡ con cá ra khỏi lưỡi câu. Có lẽ chàng sẽ còn tiếp tục lặng lẽ nhìn theo như thế nếu không nghe thấy bên tai tiếng mấy thiếu nữ líu ríu ngày một gần. Có vẻ như ngôi nhà gần đấy đang mở tiệc nên đám đàn bà con gái vào ra tấp nấp, mùi xào nấu cũng thơm nức mũi khiến cái dạ dày sôi réo.

 

-Công tử! – Nguyễn Xí cười cười khi nghe thấy âm thanh đó cùng một thoáng ngượng ngập lướt qua mặt Tư Thành. Ông ngả cơm nắm trong bọc lá chuối ra, cắt lấy một miếng đưa cho cậu thiếu niên tôn quý – Người thử xem. Cũng đến bữa rồi.

 

Tiếng mấy thanh tre làm thành cái cầu ao chênh vênh kẽo kẹt dưới bước chân người. Tiếng khỏa nước, mùi thơm của thứ hương liệu thường chỉ lẩn vào áo váy của những quý cô đưa đến làm Tư Thành nhất thời hiếu kì mà ngoái lại. Trên cây cầu ao tạm bợ cạnh thủy đình cũ là một cô gái tuổi chắc chắn ít hơn chàng đang khom lưng vo gạo. Dưới tay áo đã bạc màu là cánh tay thon trắng nõn đang xoay xoay rá gạo trắng tinh. Trên cổ, nơi buộc dải yếu, thiếu nữ có đeo thêm một chiếc túi nhỏ bằng gấm màu phấn hồng, mùi hương mà Tư Thành ngửi thấy chính là tỏa ra từ đó. Các cô đào có một thứ gọi là yếm đeo bùa, là chỉ cái túi bùa nhỏ đựng hương liệu giữ bên mình khiến bao người mê sắc, mêm hương, mê cả tiếng tơ tiếng trúc mà ngây ngất, chàng từng nghe đồn thế giờ mới được tận mục sở thị lần đầu. Thiếu nữ xóc rá, chăm chú nhặt sạn nên chẳng hề nhận ra có người đang nhìn mình. Đường nét trên nửa gương mặt thanh tú, hài hòa, tuy không rực rỡ, diễm lệ nhưng lại mang một ấn tượng hư ảo, xa xôi. Bước lại gần, tựa tay lên lan can, Tư Thành vui miệng đọc:

 

Gạo trắng, nước trong, mến cảnh lại càng thêm mến cả.

 

Những ngón tay chợt ngưng khi tai nghe những lời ấy, Hải Triều ngước mắt nhìn rồi lại quay đầu, chăm chú làm tiếp việc của mình, ngỡ như chỉ mới nghe thấy tiếng ếch nhái đâu đây. Ánh mắt đen lặng nhìn mà tựa hồ như chẳng thấy của nàng khiến Bình Nguyên vương chợt thấy thú vị. Nước nhỏ xuống khi đôi tay nhỏ nhắn vỗ vỗ vào vành rá, Hải Triều ung dung đứng dậy, cắp rá gạo bên hông rồi xoay người bỏ đi. Câu đối trêu ghẹo kia nàng cũng vờ coi như không nghe thấy. Chỉ tiếc rằng đuôi mắt vô tình liếc ngang lại chạm phải nụ cười như có như không trên môi cậu thiếu niên với gương mặt tuấn tú, sáng sủa nhưng có phần tự phụ nọ. Nụ cười ấy không phải của kẻ ghẹo gái không thành. Tựa như chỉ là chàng vào một ngày nắng đẹp thuận miệng ra một vế đối mua vui, người không đáp lại thì cũng coi như lời nói gió bay, chẳng hề vướng bận. Đôi chân trần đạp lên nhành cỏ ngập ngừng. Hải Triều hơi ngoái đầu, đưa tay gạt đi mấy sợi tóc bay lướt qua gò má, lặng lẽ bỏ lại mấy chữ:

 

Cát lầm gió bụi, lo đời đâu đấy hãy lo cho[7].

           

Đôi mắt Lê Tư Thành mở lớn chứa sự ngạc nhiên thú vị khi nhìn theo bóng lưng cô bé nọ khuất sau những tấm lụa điều, sau những tàu lá chuối xanh mỡ màng.

 

-Giáo huấn ta sao? Quả là một cô đào đáo để – Chàng tự nói với mình, gập cây quạt trúc lại.


[1] Tam sảnh gồm: Thượng thư sảnh, Trung thư sảnh, Môn hạ sảnh. Tam sảnh có trong bộ máy hành chính trung ương từ thời nhà Trần. Môn hạ sảnh là cơ quan thân cận của nhà Vua, có nhiệm vụ giữ bảo ấn, chuyển lệnh của Vua tới các quan, nhận lời tấu của Vua và các công việc lễ nghi trong cung.

[2] Vua Lý Thánh Tông (1054-1072) đã cho xây dựng chùa vào năm Long Thụy Thái Bình thứ 4 (1057), và cho đúc một quả đại hồng chung nặng 1 vạn 2 ngàn cân ta (tức 7.260 kg) đặt trong chùa. Chùa có Đại Thắng Tư Thiên bảo tháp (tháp Báo Thiên) có tầng trên cùng dát đồng, được xây dựng một năm sau khi chùa được xây xong (theo Wiki). Hiện nay, nhà thờ chính tòa Thánh Giuse của tống giáo phận Hà Nội hay còn được biết đến là nhà thờ Lớn đang tọa lạc trên đất cũ của Sùng Khánh Báo Thiên tự.

[3] Điển tích, giai thoại thiền Niêm hoa vi tiếu, ghi lại sự kiện Đức Phật Thích-ca Mâu-ni đưa cành hoa lên khai thị, tôn giả Ca Diếp phá nhan mỉm cười. Đạo Phật có rất nhiều chi, phái, Thiền tông Trung Hoa của Tổ Bồ Đề Đạt Ma được truyền vào Việt Nam là một trong số đó. Bên cạnh việc giác ngộ thông qua ngôn từ, giảng đạo, cũng có quan điểm đối lập cho rằng ngôn ngữ làm con người hiểu sai lệch đi bản chất của sự vật, có thể đốn ngộ (giác ngộ nhanh chóng – theo thiền phái Vô Ngôn Thông) mà không cần qua giao tiếp. Ở đây isis hiểu điển tích này cũng như bức tượng Thích Ca niêm hoa là việc Đức Phật dùng thuật tâm truyền tâm giữa mình và Ca Diếp để truyền đạo và biết tôn giả đã giác ngộ.

[4] Nghĩa là: Đàn bà, con gái là loại người khó giáo dục/không thể giáo dục được (theo quan điểm của Khổng Tử)

[5] Tên nôm của thành Thăng Long (Đông Kinh), thường được dùng để chỉ khu Đông của kinh thành (nay là quận Hoàn Kiếm) – tức khu thành thị dân cư (đối lập với thành thị quân vương ở khu Ba Đình ngày này) gồm 36 phường, chủ yếu là các phường nghề.

[6] Câu thoại trong bộ phim Khát vọng Thăng Long – đạo diễn Lưu Trọng Ninh (2010)

[7] Theo giai thoại về Lê Thánh Tông. Lời đối của cô gái có ý nhắc làm thân nam tử hãy lo việc lớn, để sức trai mà cứu dân giúp nước.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s