[Độc huyền cầm] 1 – 10


Chương 10: Diên Ninh

 

 

“Ba quan một chiếc thuyền nan

Trầu xanh, cau trắng, môi hồng, mắt ai…”

 

 

10

 

Đêm hè, vang lên từ những bụi cỏ là tiếng côn trùng rả rích. Gió từ sông thổi vào mát rượi mang theo mùi phù sa, hình như còn lẫn cả mùi lúa non, mùi đất, mùi khói rơm của mấy nhà thuyền chài đương nhóm lửa nấu nướng. Lam Ninh ngồi trên lớp cỏ hãy còn ươn ướt vì cơn mưa rào lúc chập tối, vuốt dọc cây sáo trúc trên tay, chầm chậm đặt lên môi rồi tấu khúc nhạc quen thuộc năm xưa Huyên thường thổi cho nàng nghe. Cô bạn đó giờ đi xa quá rồi, bặt vô âm tín. Trong cơn gió, kí ức chợt trải dài ra miên man. Cái lần thầy phù thủy ghé lại nhà, quan lớn và đích phu nhân mừng rỡ lắm. Bình thường Lam Ninh không bao giờ bén mảng đến chỗ người lớn nói chuyện, thế mà lần ấy nàng đã làm một điều hoàn toàn khác. Cuối cùng, những lời nghe lén được khiến thiếu nữ dần dần hiểu ra nguồn cơn của những yêu chiều ông bà nội dành cho mình suốt những năm tháng đã qua. Hóa ra những điều trước nay tin tưởng đều là giả dối, điều thật nhất trong cuộc đời nàng chỉ có những kí ức tuổi thơ với người bạn thoắt buồn, thoắt vui ấy. Ông thầy ăn mặc quái gở ấy vừa vào nhà, nhìn quanh quất một hồi đã lắc đầu bảo: “Phúc tinh đi mất rồi. Tiếc quá, tiếc quá!”. Mấy lời ấy thôi làm ông bà lớn bần thần mất mấy ngày, không hiểu thực hư ra sao khi đứa cháu gái vẫn còn đây. Và cũng mấy lời ấy làm cuộc đời của Lam Ninh có ít nhiều đổi khác.

 

Nàng trở nên giống mẹ, vô hình trong dinh thự rộng lớn ấy. Điều ấy ngẫm ra cũng không phải điều gì quá tệ hại vì ít nhất, khi không còn là cô tiểu thư được bao bọc trong nhung lụa, nàng có thể dễ dàng lẻn ra ngoài vào lúc đêm hôm thế này, làm gì tùy ý. Trăng bập bềnh trên sóng nước, lẫn vào bóng những bụi tre mọc dài theo triền sông.

 

“Cô bé này vận mệnh không tồi. Sau này cũng một bước lên bà, nở mày nở mặt. Ầy da… lại có tướng vượng phu ích tử nữa… Bé con, con cố mà đợi sợi tơ hồng của mình nhé!”

 

Những lời ấy ông bà nội hoàn toàn chẳng hay biết nhưng Lam Ninh lại nhớ rất rõ cái cảm giác lạnh sống lưng khi nàng đứng nép sau cây cột gỗ mà vẫn không thoát được ánh mắt nhìn như xoáy nước của ông thầy phù thủy ấy. Mơ hồ, mộng mị và… vớ vẩn. Cô gái đã luôn tin thế khi soi gương, nghĩ về bản thân mình đến mở miệng nói một lời cũng là giấc mơ chẳng thể nào thành hiện thực.

 

Ánh trăng trên mặt nước chòng chành rồi vỡ tan khi có một bóng người từ đâu ngoi lên, chầm chậm bơi vào bờ. Thiếu nữ nghiêng đầu, nheo nheo mắt nhìn nhưng nhanh chóng bị tiếng người cười nói phía sau làm xao nhãng. Trong ánh sáng vàng nhạt, nàng chỉ trông thấy lờ mờ những bóng người nghiêng ngả đi trên triền đê, nghe giọng đoán là đám trai làng rượu say, chân nam đá chân chiêu kéo nhau trở về. Tiếng nôn ọe của họ làm Lam Ninh rùng mình.

 

-Ai… đấy? – Có một thanh niên đột nhiên dừng lại, nhìn xuống chỗ có bóng người, lè nhè hỏi.

 

-Lẽ nào… là Hằng Nga… Hằng Nga tiên tử? – Một kẻ khác lảo đảo toan bước lại gần.

 

-Để tao lại xem! – Một thanh niên lực lưỡng khác trong giọng nói chỉ thoảng hơi men, dường như là người tỉnh táo nhất lừ lừ bước xuống bãi sông.

 

Sợ cứng người, đến thở cũng không dám thở mạnh, Lam Ninh đang tính xoay mình bỏ chạy thì bị một bàn tay ướt nước áp chặt lên miệng, lực ở đâu ấn lên nửa người buộc nàng phải nằm bẹp xuống nền cổ. Trước mắt chỉ còn thấy loáng thoáng một mảng trời xanh tím than và những cây cỏ mọc cao. Tim trong lồng ngực đập hơn trống trận.

 

-Nằm im! – Người con trai đó thì thầm vào tai thiếu nữ, giọng nói hoàn toàn bình tĩnh.

 

-Mày quáng gà à? Làm gì có ai. Thôi đi, về nhà tao làm thêm chầu nữa. Đêm nay… không… say… là… là không về!

 

Tiếng người xa dần, xa dần. Mồ hôi lạnh lấm tấm trên vầng trán, trong lòng bàn tay khi Lam Ninh cố dùng sức vùng vẫy để thoát khỏi cánh tay quàng trên vai mình.

 

-Xin lỗi đã mạo phạm! – Người kia vội buông cô gái ra, tự giác lùi lại, ánh mắt nghiêm chỉnh nhìn thẳng ra bờ sông, đến liếc ngang một cái cũng không dám – Cô là con gái, sao nửa đêm nửa hôm ra bờ sông làm gì? Đám rượu chè say khướt ấy không chuyện gì là không dám làm đâu.

 

Người con trai đợi mãi, đợi mãi mà không thấy có tiếng đáp liền đánh bạo nhìn sang. Trong đầu chàng thoáng nghĩ đến câu chuyện hồi chiều đám trẻ chăn trâu mới kể cho nghe, là chuyện về bóng ma thiếu nữ lởn vởn ở quãng sống này. Tự nhiên trong lòng thấy cũng hơi rờn rợn. Cảnh tượng trước mắt thực cũng khiến người ta giật mình đôi chút khi dưới ánh sáng trắng lạnh của trăng không phải là một gương mặt người. Phải nói là cô gái dùng cả hai tay bưng mặt, chỉ len lén nhìn qua kẽ ngón tay rồi nhanh chóng quay đi, vờ như chẳng trông thấy gì hết. Nhìn xuống người chỉ có độc một cái khố quấn ướt nhẹp, cậu thiếu niên ngay lập tức vỡ lẽ ra mọi chuyện.

 

-Cô là… – Chàng e hèm, tự quơ đống áo quẳng gần đó tròng vào người, lảng sang chuyện khác – …tiểu thư… nhà quan lớn họ Phạm?

 

Thiếu nữ ngẩng phắt lên, không kể lễ nghĩa nam nữ thụ thụ bất thân mà nhướn người về phía trước để nhìn rõ người trước mặt. Cũng không phải ai xa lạ gì, là cậu bạn của Huyên, người không những giỏi chơi đàn nhị, giỏi làm những con diều tuyệt đẹp mà tài học thì nức tiếng, được mệnh danh là thần đồng nhà họ Lương. Lam Ninh cũng chỉ nghe người ta đồn thế vì có muốn hỏi kĩ cũng chẳng biết hỏi ai, hỏi thế nào. Sau khi Huyên rời đi, thỉnh thoảng nàng cũng đôi lần lén đến chỗ căn nhà trên cánh đồng, đứng ngoài nhìn vào đến khi hết tích diễn mới ra về. Kí ức nhạt nhòa đến vậy mà cậu thiếu niên trước mặt có thể nhớ được nàng, điều ấy không biết có nên vui?

 

-Tôi… có nghe Huyên kể về tiểu thư. Lúc nãy lỗ mãng, mong tiểu thư thứ cho! – Thế Vinh thoáng lúng túng bởi từ nãy đến giờ chỉ có mình cậu nói. – Tôi họ Lương, tự Cảnh Nghị.

 

Lam Ninh gật đầu tỏ vẻ mình đã hiểu, rồi như nhớ ra điều gì liền áp ngón trỏ lên miệng rồi lắc đầu. Đó là điều nàng luôn làm khi gặp người lạ, người không biết về khiếm khuyết trên con người nàng. Những lúc ấy, thường người ta sẽ nhất thời không hiểu hoặc hào phóng dành cho thiếu nữ một cái nhìn ái ngại, thầm chuyển đến cái thông điệp rõ ràng: “Tội nghiệp. Trông nào đến nỗi mà lại bị câm!”. Lam Ninh quen như thế, quen đến nỗi thầm đoán trong đầu người trước mặt sẽ thể hiện thái độ thương hại thế nào. Nhưng Lương Thế Vinh nhìn cảnh đó liền xua vội tay:

 

-Không sao, không sao. Tôi… không phiền gì cả. Tiểu thư… tôi đưa cô về nhà. Con gái đi đường buổi tối không an toàn.

 

Câu này Lam Ninh không hề nghe thấy vì cô đang khom người, vội vàng đưa tay dò dẫm từng ngọn cỏ tìm vật gì, chốc chốc lại nhìn lên vẻ ân hận lắm. Là vừa nãy khi đứng dậy, do bất cẩn nàng nhỡ gạt phải đồ trên tay chàng trai trước mặt khiến cái vỏ trứng nằm trong chiếc áo cánh rơi nhẹ xuống đám cỏ. Đốm sáng nhìn vui mắt trong vỏ trứng mỏng từ từ tản ra rồi như biến mất vào khoảng không.

 

-Cô bỏ đi, có mấy con đom đóm thôi mà. Loại đèn này làm lúc nào chẳng được! – Thế Vinh cười thoải mái.

 

Nhưng Lam Ninh chỉ lắc đầu, vẫn cần mẫn vạch từng bụi cỏ tìm kiếm. Một đốm sáng chợt lóe lên giữa lớp lá ngả màu xanh đen nhẹ nhàng chuyển lên bàn tay để ngửa của thiếu nữ. Nhìn cách cô tiểu thư khum khum tay để giữ con côn trùng nhỏ bé bên trong, Thế Vinh không khỏi thấy thích thú, liền chìa cái vỏ trứng ra, hỏi mà không nghĩ gì quá sâu xa:

 

-Cô thích đom đóm?

 

Trước nay trừ Huyên, trừ mẹ, không ai hỏi nàng thích gì. Họ mặc nhiên quan sát mà tìm ra thói quen để chiều chuộng như cách người ta vẫn làm khi nuôi chó, nuôi mèo ở nhà. Trong đáy mắt đen có đốm sáng nhỏ lấp lánh khi Lam Ninh gật đầu. Nàng chỏ lên bầu trời rồi chỉ vào con đom đóm trong vỏ trứng, bất giác mỉm cười, đuôi mắt cong xuống hạnh phúc lắm, thứ hạnh phúc người ta thường chỉ thấy ở những đứa trẻ nhà làm ruộng.

 

-Là… – Thế Vinh cau mày suy nghĩ rồi ngập ngừng cất lời – Sao và đom đóm giống nhau? Ánh sáng của bầu trời rơi xuống mặt đất? Cách so sánh thật thú vị!

 

Ngây ra nhìn vẻ thản nhiên của người đối diện hồi lâu, cuối cùng cô gái mới gật đầu xác nhận.

 

-Nếu tiểu thư thích, tôi sẽ làm tặng tiểu thư một cái đèn như thế này. Tất nhiên là nhiều đom đóm hơn, cũng sáng hơn.

 

Gật đầu lia lịa, Lam Ninh nghe vậy vui lắm, đôi mắt sáng rực lên.

 

-Nhưng… phải đổi lại bằng một thứ khác – Thế Vinh nheo nheo mắt nhìn, ngầm tính toán trong đầu – Tiểu thư thổi sáo rất hay, lần sau thổi cho tôi nghe một khúc đi.

 

Vân vê gấu áo lụa, Lam Ninh ngượng ngập đưa trả vỏ trứng cho cậu thiếu niên rồi gật đầu một cái thật nhanh. Bước chân đã rời đi nhưng như nhớ ra việc gì, cô dừng lại, nhặt một cành cây rồi chạy về phía bãi đất gần mép nước được chiếu sáng dưới ánh trăng. Thế Vinh khoanh tay trước ngực, nhìn Lam Ninh tự chỉ vào mình rồi cúi xuống hí hoáy viết. Chàng lại gần, kiên nhẫn đọc từng chữ, từng chữ.

 

Phạm… Lam… Ninh? Đó là tên của tiểu thư? Là một cái tên đẹp! – Nụ cười nhẹ nhàng lướt qua bờ môi, nhưng Thế Vinh chưa kịp nghiền ngẫm cho hết nhẽ cái tên ấy thì đã thấy trên đất một dòng chữ khác. Đọc xong, chàng gật đầu tán đồng – Phải, chiếc đèn này là tôi học theo trạng nguyên Nguyễn Hiền.

 

Lấy mấy chiếc lá xóa đi cái tên tiền nhân, Lam Ninh chỉ vào người trước mặt. Trên khoảnh đất cạnh nàng chỉ còn lại duy nhất hai chữ “trạng nguyên”.

 

-Nếu có thể… vào một ngày nào đó! – Lương Thế Vinh nhún vai, cười nhẹ bẫng.

 

 

 

***

 

                                                                                   

 

Đầu đông năm Thái Hòa thứ mười một (1453).

 

Những hoạn quan, cung nữ đứng hầu ngoài cung Diên Khánh chốc chốc lại so vai, phồng má hà hơi nóng vào hai bàn tay rồi xoa lấy xoa để cho đỡ rét. Trên sân rộng lát gạch hoa cúc trước tẩm cung, gió mùa Đông Bắc thổi từng cơn lạnh buốt, cuốn theo những hạt mưa li ti càng làm cái lạnh như lưỡi đao sắc bén vung xuống, thấm vào sâu trong da thịt. Những chiếc áo sa đã được thay bằng những tấm áo sợi thô dày hơn nhưng xem ra cũng chẳng ăn thua. Đám người dưới đều không dám buôn chuyện qua lại, chỉ thỉnh thoảng nghiêng sang người đứng gần nhất nói một hai câu rồi thôi. Mới thấy bóng áo chủ nhân ngoài cửa chính, những kẻ vừa nãy còn co ro theo bản năng đã ngay lập tức đứng thẳng tắp lại, dáng vẻ vô cùng nghiêm chỉnh, đàng hoàng. Đôi giày gấm màu lam bước những bước thong thả trên con đường ngả sang sắc cam đậm do ướt nước mưa dẫn thẳng đến chính điện cung Diên Khánh. Bình Nguyên vương Lê Tư Thành nổi tiếng là người ít nói, dường như vô cùng lạnh lùng, khó tính nhưng thực ra lại là người rất dễ hầu hạ. Đám hạ nhân cứ đồn đại như thế, đến khi gặp mặt mới biết lời đồn đều là thật cả, tỉ dụ như viên hoạn quan đang khom lưng che ô cho chàng chẳng hạn. Trên thềm điện, Hạ Liên biết ý đã đứng đợi ngay cửa cung, vừa thấy Tư Thành bước vào liền cúi mình thi lễ:

 

-Kính chúc điện hạ an khang.

 

-Ta đến theo triệu kiến của Hoàng thái hậu! – Chàng đáp, ngữ điệu ôn hòa, ánh mắt nhìn cũng loáng thoáng thấy đôi chút ấm áp. Dung mạo này, dáng vẻ ung dung phủi những bụi nước vương trên mái tóc, trên chiếc áo gấm dễ làm người đối diện thấy an toàn nhưng Hạ Liên đủ sành sỏi để hiểu tất cả những hòa nhã ấy đều chỉ là xã giao mà với ai, Bình Nguyên vương cũng đều cư xử y như thế.

 

-Xin điện hạ đợi một chút để nô tì vào bẩm báo.

 

Cánh cửa vừa khép lại chưa được bao lâu đã mở ra. Hạ Liên khom người nói khẽ để mình Tư Thành nghe thấy:

 

-Bẩm điện hạ, hiện giờ Hoàng thái hậu vẫn đang nói chuyện với các vị đại thần, phiền điện hạ đợi thêm một chút.

 

-Ta biết rồi! Cảm ơn cô, Hạ Liên.

 

Đứng trong thời tiết này mới ngoảnh đi ngoảnh lại đã thấy tất cả đầu ngón tay, ngón chân dần dần đông cứng, mất đi cảm giác. Đám người hầu kẻ hạ hiểu rõ lẽ ấy nhưng trước sự bình thản của vị thân vương nhỏ tuổi, họ không dám công khai làm những việc để tự sưởi ấm mình như mọi khi, đành cắn răng đứng thẳng lưng cho nghiêm chỉnh. Vạt áo khoác ngoài khẽ đung đưa trong cơn gió lạnh, còn dáng đứng của Tư Thành trước sau không đổi. Chàng đợi được một lúc liền quay ra ước chừng trong đầu rằng chỉ cần mình đếm đến mười, cánh cửa gỗ sơn son trước mặt sẽ lập tức mở ra. Quả nhiên thế thật, khi cánh cửa hơi động một chút, khóe môi ấy đã nhếch lên. Hoàng thái hậu không bao giờ để Tư Thành phải đợi quá lâu, nhất là trong thời tiết thế này. Người đang đứng ở bên kia ngưỡng cửa không phải ai xa lạ, có điều đây không phải tòa Kinh Diên nên người đó chắc chắn phải khom lưng, nhường bước cho Tư Thành.

 

-Cung nghênh điện hạ! – Trần Phong dừng lại, khẽ nói.

 

-Thầy vất vả rồi! – Tư Thành khách khí đáp, điềm nhiên nhận lễ của người đối diện, điềm nhiên bước vào trong, đến buông thêm một ánh mắt liếc sang cũng không hề có.

 

-Con lạnh lắm không? Nhanh lại đây cho ấm! – Tuyên Từ Hoàng thái hậu ngẩng lên khỏi chồng tấu chương đã được Hoàng đế đích thân phê duyệt, trên đôi môi thậm chí còn điểm một nụ cười dịu dàng – Bình Nguyên vương thích trà ướp hoa, Hạ Liên, mau đổi bình trà khác cho ta.

 

-Người không cần làm vậy đâu ạ. Con thế nào cũng được! – Trao chiếc áo khoác ngoài cho viên hoạn quan, Tư Thành thoái mái tiến lại, ngồi xuống chiếc ghế đã được chuẩn bị sẵn cho mình ngay sát cạnh Hoàng thái hậu. – Dạo này người vẫn được an khang chứ ạ?

 

Than cháy trong chậu đồng rất đượm khiến cả căn phòng ấm áp hơn hẳn không khí giá buốt bên ngoài, lại thêm cách xưng hô, đối đãi muôn phần tình cảm giữa Nguyễn Thị Anh và Bình Nguyên vương càng khiến cho người ngoài trông vào lấy đây làm mẫu mực. Quan lại, quý tộc từ trên xuống dưới đều biết vị thân vương này không những được Hoàng đế yêu quý, lại còn được Hoàng thái hậu vô cùng sủng ái, tài trí cũng được xếp vào hàng trên trong đám học trò tại Kinh Diên. Thật không hổ danh người mang huyết thống của hoàng tộc! Ở Đông Kinh, ai cũng nói Tuyên Từ Hoàng thái hậu may mắn vì có những hai đứa con trai: một người hẳn nhiên là đương kim hoàng đế, người còn lại đâu thể là ai khác ngoài thân vương Lê Tư Thành. Tự tay rót trà dâng mời người phụ nữ trước mặt, chàng lắng tai nghe Hoàng thái hậu than thở:

 

-Khỏe thì vẫn khỏe nhưng ta lại cảm thấy mình già rồi. Nói thế nào ta cũng chỉ là là mẹ góa con côi, theo phép tổ tiên truyền lại mà buông rèm nhiếp chính, so với tiền nhân thì không bằng được thái hậu họ Mã, họ Đặng hay bà Tuyên Nhân của phương Bắc; càng không thể sánh với Linh Nhân Hoàng thái hậu triều Lý của nước ta[1] khi xưa. Với chuyện trong nhà, chuyện xã tắc vẫn còn nhiều điều chưa trọn.

 

-Hoàng thái hậu quá lời rồi. Hoàng huynh đăng cơ khi hãy còn ít tuổi, nhờ người cáng đáng lo liệu trước sau nên trong nước hơn mười năm mới được yên bình. – Tư Thành cười đáp – Người coi con và những thân vương khác như con đẻ, chúng con được như thế này cũng là nhờ phúc của người cả, đâu dám đòi hỏi, nghị luận không đâu.

 

Vỗ nhẹ lên bàn tay đứa bé đặt trên bàn, Tuyên Từ gật nhẹ đầu, ôn tồn nói:

 

-Tấm lòng này của ta, con hiểu được như thế khiến ta rất cảm động. Quan gia giờ cũng đã trưởng thành, so với năm xưa lúc Tiên đế đích thân chấp chính còn lớn tuổi hơn[2]. Đàn bà hậu cung không nên can dự vào việc triều đình là lẽ xưa nay… nên ta đang thu xếp để trao lại quyền trị nước cho quan gia. Nhưng… còn có điều này… ta cứ canh cánh mãi trong lòng…

 

Thị Anh ngập ngừng, đưa mắt nhìn đứa bé ngồi đối diện. Trong ánh mắt đen sắc ấy là sự tha thiết nhưng hẳn nhiên cũng ẩn kín những mũi dao. Tư Thành điềm nhiên đón nhận, quan tâm đến mức liền mở lời ngay:

 

-Xin người cứ nói, nếu có chuyện gì con có thể làm để giúp người giải mối bận tâm ấy, nhất định con sẽ tận lực làm.

 

-Điểm mạnh nhất của quan gia chính là sự lương thiện, là lòng tin vào người khác. Nhưng đã ngồi ở ngôi cửu ngũ, điểm mạnh ấy cũng có khi lại là yếu điểm để kẻ có dã tâm nhắm vào. Giang sơn này của tổ tiên giao lại cho quan gia, ta thực sự lo lắm. Con cứ nhìn quần thần thì thấy… Kẻ gian ngoan, cơ hội, lừa trên dối dưới đâu hiếm. Tư Thành, với quốc gia, với sơn hà, với Hoàng đế, con nghĩ thế nào?

 

Đan hai bàn tay vào nhau, chàng hơi cúi đầu tỏ vẻ suy nghĩ, cân nhắc lắm rồi ngẩng lên đáp bằng một giọng trầm, chậm rãi, ánh mắt nhìn thẳng không hề xao động:

 

-Tất cả những lo lắng trong lòng Hoàng thái hậu… con chỉ xin đáp: Phổ thiên chi hạ mạc phi vương thổ, xuất thổ chi tân mạc phi vương thần[3].

 

Đôi mắt đen sắc đang chăm chú nhìn đứa bé dần dịu lại. Những món đồ trang sức cầu kì trên mái tóc đen nhánh hơi rung lên khi người phụ nữ gật nhẹ đầu. Đoạn, Thị Anh ra hiệu cho Hạ Liên mang tới một chiếc áo ấm đưa cho Tư Thành:

 

-Trời trở lạnh rồi, con nên quan tâm sức khỏe bản thân một chút. Chiếc áo gấm lót lông này ta đích thân bảo người làm cho con, màu sắc và chất liệu đều là những thứ tương xứng với thân phận thân vương. Tư Thành, con cũng đã lớn, sống trong dân gian giản dị tuy là tốt nhưng cũng không thể quên thân phận thật của mình.

 

Tư Thành dùng cả hai tay nhận chiếc khay gỗ khảm trai đựng chiếc áo màu trắng bạc, gấm in chìm hình rồng, kính cẩn cúi đầu thưa:

 

-Tạ ơn Hoàng thái hậu ban thưởng. Những lời người dạy bảo, con đều ghi nhớ trong lòng.

 

Những ngón tay mềm mại đưa ra đỡ lấy hai cánh tay của đứa bé, Hoàng thái hậu ôn tồn bảo:

 

-Đứng thẳng lên nào, chúng ta là người nhà, ta cũng như mẫu thân con, không cần khách sáo. À, hôm nọ ta nghe quan gia nói con bị ngã ngựa, vết thương đã lành rồi chứ? Nguyễn Xí cũng thật là… con dù là học trò thì cũng vẫn là thân vương, thân thể trân quý, sao ông ấy có thể bất cẩn đến thế?

 

-Vết thương ngoài da không có gì đáng lo ạ! – Bình Nguyên vương vỗ nhẹ lên đầu gối, khẳng định lại điều mình nói – Trong lúc luyện tập, bị thương một chút đâu có là gì, xin người chớ lo lắng. Năm xưa Thái Tổ thân chinh cầm quân đánh dẹp giặc ngoài kiêu dũng như vậy, phận là con cháu, mới có chút khổ cực đã không chịu được thì con thực xấu hổ với tổ tiên, lại phụ tấm lòng quan tâm của Hoàng thái hậu mất rồi.

 

-Là con hiểu lễ nghĩa! – Tuyên Từ ban khen rồi ra hiệu cho viên hoạn quan đứng gần đó – Trời cũng muộn rồi, ngươi theo hầu điện hạ về phủ cẩn thận nghe chưa? Tư Thành, quan gia và ta thực sự mong con sớm có ngày trở thành bậc đại quan đứng đầu trong triều, giúp quan gia củng cố giang sơn thái bình thịnh trị.

 

-Thần xin lĩnh ý! – Cậu thiếu niên cúi mình thi lễ rồi từ từ bước lùi lại ba bước rồi mới đứng thẳng, quay lưng rời đi.

 

Gió ngoài trời thổi thốc tới làm gò má ửng hồng vì rét. Bàn tay Tư Thành nắm nhẹ lớp vải lót bên trong chiếc áo dày đang khoác trên vai, đôi lông mày hơi nhíu lại một chút khi vết thương ở đầu gối nhói đau. Nhưng chỉ thoảng qua thế thôi, đến bản thân chàng cũng không nhận ra, người xung quanh càng không kịp nhận ra.

 

 

 

***

 

 

Bức tranh thêu căng trên tấm bình phong rung rung trong cơn gió bấc. Hạ Liên sai cung nữ đi kiểm tra lại các cửa sổ, buông thêm rèm để khí lạnh không tràn vào phòng rồi quay lại, đấm bóp hai vai cho Tuyên Từ Hoàng thái hậu. Cô im lặng mãi rồi cũng mở lời, nói ra những suy tư trong lòng:

 

-Lệnh bà, người thực sự quyết định như vậy sao? Mới hôm rồi người còn sai nô tì đi gọi thủ hạ ở Lạng Sơn về bẩm báo…

 

-Ngươi nghe hết rồi đấy thôi. Sức đàn bà đến đây đã tận, quan lại trong triều giờ một mặt kiêng nể ta, một mặt nhìn gương Nguyễn Xí, Đinh Liệt mà làm theo, ta không còn nhiều mối quan ngại nữa. Đám tép riu có ý định can qua đều là những kẻ có miệng nói nhưng không có gan làm, từng có ý đợi những bậc đại quan cây cao bóng cả lên tiếng dẹp mẹ con ta trước rồi hùa theo đó, té nước theo mưa. Nay Trịnh Khả, Trịnh Khắc Phục đều đã chết. Hai vị đại thần quyền cao trức trọng tên Xí, tên Liệt lại không khuấy động triều chính, một lòng phụng sự Hoàng thượng là đủ để trấn áp triều đình rồi. Ta không cần biết họ có phục mình hay không, ta chỉ cần họ trước sau một lòng với quan gia là đủ.

 

-Người tin? – Hạ Liên nhanh tay rót trà nóng ra chiếc chén ngọc, dâng mời Tuyên Từ.

 

-Ta tin họ như tin Ngọc Dao. – Người đàn bà mỉm cười, ánh mắt điềm nhiên nhìn xuống mặt nước lặng trong chiếc chén – Khúc mắc cá nhân giữa ta và hai vị ấy không giải quyết được, nhưng họ đều là bậc chính nhân quân tử. Đang yên đang lành, Hoàng thượng lại được tiếng nhân từ quảng đại, họ dù có căm ghét ta cũng sẽ không mưu chuyện phế lập không có nguyên do. Hơn nữa, muốn làm việc ấy thì phải có người để tôn phò. Tân Bình vương không cần xét đến. Cậu ta và mẫu thân đã biết nhìn trước ngó sau mà an phận thủ thường thì ta cũng mở cho một con đường sống. Còn… Bình Nguyên vương… đứa trẻ này thực sự rất thú vị. Khí chất hơn người, dung mạo hơn người, tài trí cũng hơn người… nhưng ta ưng nhất ở một điểm… là thằng bé ấy có ý chí, nghị lực hơn người.

 

Đôi môi đỏ màu son cong lên, nụ cười ấy chắc chắn không phải là trìu mến, cũng thoảng qua đôi phần tán thưởng nhưng lấn át tất cả vẫn là sự lạnh lùng khác hẳn dáng vẻ vồn vã, yêu chiều ban nãy. Hạ Liên hiểu ẩn ý trong lời của Nguyễn Thị Anh. Những người bẩm sinh sinh ra trong nhung lụa, không phải lo cái ăn cái mặc, quan lộ sắp sẵn, đường đời thẳng băng, chuyện học hành, sách vở, chữ nghĩa dường như là điều hiển nhiên thong dong mà làm, lắm khi nghĩ cũng như một món đồ trang trí cho bản thân thêm hiển hách, sang trọng, quyền uy. Cái gọi là động lực thực ra rất khó xác định. Nhưng với Bình Nguyên vương thì khác, Ngô Sung viên đã cố tình chọn cho con trai mình một hoàn cảnh chẳng giống ai để đứa bé đó tự nguyện buộc bản thân không ngừng cố gắng. Những bài tập chất chồng, những câu hỏi khiến những học trò lớn tuổi hơn tại Kinh Diên phải chau mày, nhăn mặt, chưa chắc đã dám nhận là làm được vẹn toàn nhưng Tư Thành chẳng hề lộ ra một chút lo lắng, an nhiên đón nhận, lẳng lặng thực hiện để cuối cùng khiến người ta không khỏi ngạc nhiên. Thị Anh biết lớp vỏ bọc kinh sách bao xung quanh đứa bé, và nàng cũng biết rõ ẩn dưới tất cả những thản nhiên, khiêm nhường ấy là một sức mạnh rất lớn của con chiến mã muốn chứng minh bản thân giỏi hơn tất cả, không dễ dàng chịu khuất phục trước khó khăn. Trần Phong không thể ép Tư Thành bộc lộ tài năng trên lớp nhưng đầu óc tinh ranh của ông ta đủ sắc bén để đọc ra điều ấy trong những trang viết đứa bé đều đặn nộp chưa lúc nào trễ hẹn. Nhưng điều ấy không làm Tuyên Từ lo lắng bởi con chiến mã ấy là con chiến mã tình nguyện thuần phục Hoàng đế.

 

-Đào Biểu nói quan hệ của quan gia và Bình Nguyên vương rất tốt đúng không? – Tuyên Từ lơ đãng hỏi, tiện tay chỉnh lại mấy đóa hoa cắm trong chiếc bình men ngọc đặt trên bàn.

 

-Dạ! – Hạ Liên gật đầu xác nhận, ánh mắt lén nhìn về phía chủ nhân. Đào Biểu dặn cô phải quan sát cho kĩ xem thái độ của Hoàng thái hậu thế nào. Ông sợ chuyện Bình Nguyên vương giúp quan gia giải quyết một số chuyện chính sự nho nhỏ đến tai Hoàng thái hậu sẽ khiến người tức giận, không vừa ý. Nhưng điều cô cung nữ quan sát được chỉ là một vẻ bình thản ung dung, thậm chí còn như hài lòng.

 

-Quan gia biết dùng đúng người vào đúng việc, xem ra ngài đã trưởng thành rồi. Đặt lòng tin vào Bình Nguyên vương thì được! – Người phụ nữ cười nhẹ, lau tay vào chiếc khăn gập gọn đặt trên bàn – Ta từng đề phòng Tư Thành. Nhưng giờ, ta nghĩ người cần phải quan tâm thực sự là Dương Thị Bí và Lạng Sơn vương Lê Nghi Dân kia. Ta đã mắt nhắm mắt mở cho qua chuyện ả lên Lạng Sơn sống với con trai, nhưng xem chừng ả không biết điều được như Ngô Sung viên và thân mẫu của Tân Bình vương.

 

-Giấc mơ năm xưa của Ngô Sung viên người không tính nữa sao?

 

Lắc nhẹ đầu như đuổi một con côn trùng nhỏ xíu, vô hình, nàng cười, đôi mắt đen ánh lên những tia nhìn sắc lạnh:

 

-Một giấc mơ không nói lên điều gì cả. Người ta vẫn nói mẹ nào con nấy, Sung viên như vậy, con trai của cô ta cũng tỏ ra là người được giáo dục đàng hoàng, hiểu lẽ hơn thiệt. So với Ngô Thị Ngọc Dao, Dương Thị Bí ngu ngốc hơn nhiều. Đôi lúc, người cần đề phòng không phải là kẻ thông minh mà là lũ tóc dài nhưng óc ngắn. Kẻ thông minh, rõ lẽ quân tử sẽ biết không nên đùa với lửa, còn kẻ ngu thì…

 

-Lệnh bà… – Hạ Liên nhỏ giọng, quỳ xuống sạt cạnh Thị Anh – Người còn nhớ có lần đại nhân Trần Phong thưa lại với người những lời Bình Nguyên vương nói ở tòa Kinh Diên khi có học trò đem chuyện ma quỷ ra kể chứ ạ? Nô tì nghĩ từ lúc đó, có khi nào điện hạ đã biết chuyện giữa lệnh bà và Ngô Sung viên?

 

Bờ vai dưới lớp lụa vàng rung lên từng hồi khi nàng ngửa cổ cười lanh lảnh. Thị Anh liếc nhìn Hạ Liên, cất lời:

 

-Không phải nghĩ. Ta chắc chắn Tư Thành đã biết. Những lời ấy thằng bé thừa hiểu sẽ được đám học trò đem về kể cho thân phụ, thân mẫu. Những người đó không phải con em hoàng tộc thì cũng là đại quan trong triều. Nó càng rõ Trần Phong sẽ mang chuyện đến tâu với ta. Hạ Liên, Tư Thành thực sự rất thông mình, thông minh hơn tuổi thật của thằng bé nhiều! Quả nhiên nó không làm ta thất vọng. Như những đứa trẻ bình thường khác, khi biết được chuyện giữa ta và Ngô Thị Ngọc Dao, giả dụ Tư Thành thực sự có dã tâm với Hoàng đế, nó sẽ thay đổi cách đối xử, sẽ cố gắng thân thiết hơn rồi lập mưu ám hại chẳng hạn. Hoặc không, vì sự tức giận của mình, thằng bé hoàn toàn có thể chọn cách né tránh quan gia. Nhưng Bình Nguyên vương không hề chọn cả hai điều đó. Như những gì Đào Biểu thưa lại, thái độ của thân vương nhỏ tuổi hoàn toàn chẳng thay đổi chút nào, luôn biết nên làm gì, nói gì. Chính thế nên ta mới có lòng tin với đứa trẻ này, tin sự trung thành của nó dành cho quan gia là thật.

 

Gật đầu tỏ vẻ đã hiểu, Hạ Liên cắn nhẹ bờ môi, ngập ngừng mãi rồi mới thưa, giọng rất nhỏ như e sợ nghe xong, Tuyên Từ sẽ nổi trận lôi đình:

 

-Lệnh bà, nếu có một ngày quan gia biết được những chuyện đã xảy ra giữa người với thân mẫu của Bình Nguyên vương… Nội quan Đào Biểu luôn lo lắng chuyện này… Nếu có ngày đó…

 

-Ông ta luôn đối xử với quan gia như với con mình, ta rất yên tâm! – Tuyên Từ hào phóng ban khen, trong đáy mắt thoáng chút xao động nhưng rồi lại lặng yên như cũ, miễn cưỡng nghĩ về tương lai – Kim trong bọc chẳng giấu mãi được. Đến lúc nào quan gia biết thì sẽ biết thôi… Hạ Liên, ngươi nghĩ sao về Lạng Sơn vương?

 

Lặng lẽ bước theo sau người phụ nữ quyền lực nhất Đại Việt, cô cung nữ ngầm hiểu Tuyên Từ muốn đổi đề tài. Giúp chủ nhân thay đổi xiêm y, cân nhắc từ ngữ cẩn thận rồi cô mới thưa:

 

-Theo tin mật thám báo về, có vẻ như điện hạ không bận luyện tập cung kiếm, dùi mài kinh sử mà đang mải trêu hoa ghẹo nguyệt. Người ta đồn điện hạ phong lưu phóng đãng nhưng nô tì e chỉ là giả. Năm nay Lạng Sơn vương mới mười bốn tuổi, đâu lẽ nào lại… Màn kịch này sao qua mắt được Hoàng thái hậu.

 

Đặt chiếc trâm phượng hoàng cẩn hồng ngọc vào chiếc hộp đồi mồi, người phụ nữ ngắm nhìn hình bóng mình trong tấm gương đồng, trầm ngâm mãi. Rõ ràng sự yên lặng này chẳng hề liên quan đến những lời cô cung nữ thân tín vừa nói ra. Đôi môi đẹp đẽ cử động duyên dáng khi Nguyễn Thị Anh cất lời:

 

-Ai nói với ngươi mười bốn tuổi thì không thể trêu hoa ghẹo nguyệt? Hạ Liên, ta hiểu rất rõ điều ngươi nghĩ trong lòng mà không dám nói ra. Ngươi theo hầu ta ngần ấy năm, có chuyện gì có thể giấu được? Là ngươi nghĩ ta làm vợ Tiên đế, thế nào là phong lưu đa tình thực sự, ta là người rõ nhất, đúng không?

 

-Nô tì không dám!

 

-Dám hay không thì có khác gì nhau? – Tuyên Từ cười, ánh mắt nhìn thoắt cái trở nên sắc lạnh – Thế nên ta mới nói Bình Nguyên vương thông minh hơn.

 

Mới đầu đông mà trong chớp mắt trời đã sập tối. Sắc xám của trời thêm dày, mây dựng đứng như tạc ra từ đá, lạnh lẽo, vô cảm. Nguyễn Thị Anh hơi so vai, thở đều đều khi lật qua những tấu chương trước khi cho Đào Biểu mang về dâng lên Hoàng đế. Tư Thành và Nghi Dân, hai con hổ con đều tàng ẩn uy vũ của rồng, đều là những đứa trẻ giống Tiên đế: đầy tham vọng. Nàng không tự mãn đến nỗi nghĩ mình có thể thuần dưỡng được mãnh thú, nhưng nàng tin ở con mắt nhìn người của bản thân. Người ta không thể vắt tay lên trán cả đời, những điều không thật thì dù có khéo che đậy đến mấy cũng sẽ có ngày lộ ra, sẽ có ngày bị người khác phát hiện. Đó chính là kẽ hở trong sự tính toán của Nghi Dân. Thằng bé đó biết rõ Hoàng thái hậu lặng lẽ quan sát, lặng lẽ cô lập đứa con trưởng của Tiên đế với trăm quan, để dường như ba chữ Lạng Sơn vương chỉ là một nét bút phẩy qua trang giấy, người ta từ chỗ không dám nhắc lại chuyện xưa rồi dần dần cũng quên lãng mất, nói gì đến chuyện ra làm quan, có chỗ đứng trong triều. Tuyên Từ muốn nhìn thấy điều gì để có lòng tin, Nghi Dân sẽ cho người đàn bà ấy nhìn thấy thứ đó. Tiếc rằng Dương Thị Bí đã không nói với con trai mình một điều, loại chuyện nam – nữ ân ân ái ái, Nguyễn Thần phi là người lão luyện.

 

Còn Lê Tư Thành, thằng bé đủ khôn ngoan để lựa chọn một cung cách nửa mở nửa khép, làm người ngoài tưởng như hiểu được nhưng thực ra lại chẳng hiểu gì. Đứa bé năm xưa đối đáp Trần Phong đã là kẻ biết xem mặt người mà đối đãi, rất tinh ý và biết cân nhắc hơn thiệt. Nó biết bản thân mình không phải dạng người có thể giả ngây giả ngơ che đậy tài năng vốn có, nhưng cũng đủ tỉnh táo để biết nên phô diễn ra đến đâu để người khác không phải đề phòng. Đám trẻ ở Kinh Diên hẳn đã nhìn Bình Nguyên vương bằng con mắt khác; cha mẹ của đám học trò cũng sẽ tự nhiên hiểu ra rằng, thân vương dù mặc áo vải thì mãi mãi là thân vương, là người kế thừa huyết thống vàng ngọc của Hoàng tộc. Còn với nàng, với Tuyên Từ Hoàng thái hậu, thằng bé không dại gì che giấu tư chất của bản thân. Tư Thành rõ bản thân vẫn là một đứa bé con, còn nàng là người đàn bà ở hậu cung đã từng ra tay hãm hại mẹ nó. Cuộc đối đầu này, ai là trứng, ai là đá đã quá rõ ràng. Cách thể hiện bản thân khiêm nhường, kín kẽ của Tư Thành cùng vở kịch tình sâu nghĩa nặng mỗi lần nhập cung thằng bé vẫn diễn chung với Nguyễn Thị Anh chính là cơ sở của niềm tin nàng đặt nơi đứa bé trai đó. Nó không hề che đậy bản thân mình trước mặt nàng, ít nhất là không che đậy phần con người có thể dùng để mưu tính những chuyện dính dáng đến ngai vàng của Bang Cơ. Mỗi lần nhìn vào đôi mắt đen phẳng lặng ấy, dường như Thị Anh đều đọc được một thông điệp duy nhất: “Ta là như vậy nhưng ta không đấu với con trai người!”.

 

“Họa hổ, họa bì, nan họa cốt

Tri nhân, tri diện, bất tri tâm”

 

“Câu này điện hạ muốn gửi cho ta, xem ra phải để ta dành lại cho điện hạ mới đúng!” – Người đàn bà thầm nghĩ trong đầu trước khi đứng dậy, hạ lệnh:

 

-Di giá đến cung Khánh Ngọc. Quan gia nói muốn dùng bữa với ta. Cũng lâu lắm rồi mới có thể an nhàn như vậy!

 

 

***

 

 

Thanh kiếm gỗ giáng xuống, đập mạnh vào một thanh kiếm khác giơ lên thành thế đỡ, tạo ra những âm thanh khô khốc, trầm đục. Trong cơn gió bấc, hai cậu thiếu niên đứng đối diện nhau, mắt nhìn không chớp đến độ nếu không phải hai chiếc áo gấm kia đang khẽ cất mình bay lên trong gió, trong một thoáng tưởng như cả hai người đó là những bức tượng đá. Tư Thành chỉ ngừng lại trong thoáng chốc rồi nhanh chóng xoay mình, thanh kiếm vung lên thành một đường cong tuyệt mỹ nhưng lực lại đủ mạnh để hất vật trên tay Bang Cơ rơi xuống đất. Hoàng đế định giật lùi lại mấy bước thủ thế, nhưng vì không lường hết được lực cậu em sử dụng nên ngã nhào xuống đất.

 

-Quan gia! – Cậu hoạn quan mới được điều đến hốt hoáng định chạy lại chỗ Hoàng đế nhưng hành động đó nhanh chóng bị Đào Biểu ngăn lại.

 

Ông giữ thẳng lưng, chăm chú nhìn về phía đó, trong đôi mắt già nua ẩn chứa những tia nhìn kiên nhẫn, trìu mến.

 

-Cháu đừng can thiệp vào chuyện giữa anh em quan gia. Là tôi tớ hầu hạ chủ nhân, phải biết liệu nhìn nét mặt mà phán đoán xem nên làm gì. Không phải lúc nào sốt sắng, nhanh nhẹn cũng là khôn ngoan đâu, nghe chưa?

 

Đôi mắt đen thoáng động, Tư Thành thu kiếm lại, chìa bàn tay của mình ra.

 

-Em đúng là cao thủ! – Bang Cơ lơ đãng phủi phủi chiếc áo thêu rồng của mình, không biết vì lẽ gì mà một lúc sau mới mỉm cười ngẩng lên nhưng lại từ chối không để Tư Thành kéo mình đứng dậy.

 

-Anh quá lời rồi! – Chàng đáp, tự nhiên thu tay về, ánh mắt nhìn xoáy vào biểu cảm trên gương mặt cậu thiếu niên đối diện nhưng ngữ điệu vẫn rất bình ổn – Kỹ thuật hoàng huynh đã nắm vững, vấn đề là luyện tập thôi.

 

-Năm xưa phụ hoàng từng thân chinh đem quân đi đánh bọn người man quấy nhiễu vùng biên giới, là bậc trí dũng song toàn. Thân tuy kế thừa ngôi báu, ngẫm lại những chuyện đó, anh thực sự tự thấy thẹn.

 

Vạt áo tím phủ xuống lớp cỏ khô héo đổ rạp về một phía trong cơn gió lớn, Tư Thành chống mũi kiếm xuống nền đất, cúi mình nói:

 

-Quan gia có con đường của riêng mình. Những chuyện của tiền nhân chỉ là tấm gương, là bài học không hơn không kém, không thể là hòn đá ngáng trở bước chân của người, càng không thể là bóng cây rủ xuống che hết ánh sáng. Quan gia cũng có những điểm mạnh của riêng mình. Nhất định người phải nhìn ra, không được quên những điều đó để… trân trọng bản thân mình một chút.

 

Đôi mắt ngước lên không chớp. Một chút gì thoảng qua như lớp sương mỏng của chán chường, ngờ vực chợt tan đi hết, nhường lại một vẻ điềm tĩnh, trưởng thành.

 

-Năm xưa, nhà Lý sau đời Nhân Tông tuy không còn người kiệt xuất kế thừa nhưng có thể đứng vững mà truyền đến chín đời là vì trong triều có những bậc trung lương như Tô Hiến Thành. Nhà Trần giữ được cương vực lãnh thổ khỏi vó ngựa Nguyên Mông là vì có Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại Vương và những người khác trong tôn thất trên dưới một lòng.

 

Đường hoàng chống gối đứng dậy, Bang Cơ hơi vươn ưỡn ngực ra phía trước, uy nghiêm nhìn xuống, tiếp lời:

 

-Trẫm tài hèn đức mỏng, không hiểu có phúc phận được người hiền tài phò giúp như tiền nhân hay không?

 

-Thần đệ không hiểu rõ chuyện tướng số, chuyện duyên phận càng không hiểu, chỉ biết một điều, thân vừa là thần tử của quan gia, vừa là hoàng đệ, ân huệ xưa nay nhận không ít, những chuyện làm được nhất định sẽ tận lực làm.

 

-Anh đúng là luôn còn có em! – Thoắt cái, Bang Cơ cất ngay dáng vẻ hoàng đế của mình đi, hơi khom người xuống, nhoẻn miệng cười khi đưa tay vỗ vai đứa em đang cung kính chắp tay hành lễ – Đi, đi với anh đến một nơi.

 

-Dạ?

 

-Đào Biểu, di giá đến Bí thư các! – Hoàng đế ngoảnh lại, ra lệnh.

 

-Hoàng huynh, không được đâu! Nội quan, ông dừng lại hẵng! – Tư Thành đột ngột lên tiếng làm Đào Biểu vừa định quay người đi truyền lệnh vội đứng lại. Người đàn ông tuy cúi đầu đợi chủ nhân sai bảo nhưng mắt tự động liếc nhìn vị thân vương đứng phía trước, ngầm đoán định những hành động tiếp theo của người ấy thật giả đến đâu.

 

-Sao lại không được?

 

Tư Thành nhìn vẻ mặt thản nhiên nhẹ nhàng của Bang Cơ, chầm chậm nói:

 

-Bí thư các là nơi lưu giữ các thư tịch, kinh sách… vốn chỉ truyền lại cho đương kim thánh thượng, xưa nay không phải nơi để người lạ ra vào, dù cho thần đệ có là em ruột của quan gia đi chăng nữa. Sự ưu ái của hoàng huynh em xin nhận, còn chuyện này xin hoàng huynh rút lại.

 

Trái ngược với sự nghiêm túc của chàng, Hoàng đế nhìn vẻ mặt nghiêm trọng ấy rồi cười lớn, thoải mái:

 

-Bình Nguyên vương là nhân tài của trẫm. Trẫm muốn trọng dụng cũng không được hay sao? Bí thư các đúng là nơi dành cho đế vương, nhưng về luật lệ mà nói, đâu có điểm nào cấm hoàng đế không được để người khác bước vào? Tư Thành, riêng khoản này thì em đúng là không hiểu rõ thật rồi.

 

Người ta vẫn bảo ý Hoàng đế là ý trời, một khi người đã muốn, không ai có thể cản quả nhiên là thật. Bí thư các là lãnh địa vốn chỉ dành cho đế vương, xung quanh quân cấm vệ đứng thành hàng thẳng tắp, vũ khí lăm lăm, hoạn quan, cung nữ nếu không được truyền gọi thì không được phép bén mảng lại gần nên đều đứng phục dịch bên ngoài.

 

-Bẩm quan gia, chậu sưởi, đèn, trà và chút đồ ăn nhẹ thần đã chuẩn bị xong, xin người ngự lãm. – Đào Biểu xoa hai tay vào nhau, cúi xuống thưa.

 

-Được rồi. Ông lui đi, chỉ cần để hai hoạn quan, hai cung nữ ở lại, khi có việc cần ta sẽ gọi họ. – Bang Cơ quay sang, nhẹ giọng nói – Những người khác không cần đứng đây hầu hạ làm gì cho thêm khổ, rét mướt thế này…

 

Lạy tạ ân điển của Hoàng đế, điều Đào Biểu còn nhìn thấy trước khi cánh cửa sơn son của Bí thư các khép lại chính là vạt áo tím của Bình Nguyên vương nhẹ nhàng lướt qua bậu cửa cao, điềm nhiên tiến vào bên trong. Ông có chút đắn đo, cân nhắc xem chuyện này có nhất thiết phải báo ngay cho Tuyên Từ Hoàng thái hậu hay không. Từ lâu lắm rồi, có nhiều việc Hoàng thượng cùng làm với Bình Nguyên vương, nhưng nếu xét thấy đó là việc riêng, không ẩn chứa vấn đề gì nghiêm trọng, viên nội quan đều thực hiện trọn vẹn lời hứa của mình với Bang Cơ: tuyệt nhiên không hé răng nửa lời. Nhưng chuyện hôm nay lại là một vấn đề khác.

 

Những chiếc chậu đựng than bằng đồng sáng lên dưới ánh lửa tỏa từ những chân đèn sứ men lam hình rồng ngậm ngọc, cao đến ngang những cây cột gỗ. Trên bộ bàn ghế chạm khảm công phu hình đào tiên, hình chữ thọ hàm ý tốt lành trải những tấm đệm lông hổ vừa dày vừa ấm. Tư Thành nhè nhẹ thở ra, đôi mắt mở lớn ngắm nghía kĩ càng từng giá sách không vương dù chỉ là một hạt bụi xếp cạnh nhau san sát, giá nào cũng chất đầy những cuốn sách, những hộp gỗ dài sơn son thếp vàng đựng những mật chỉ bên trong. Bí thư các dù có thật nhưng những điều huyền ảo, kì bí xung quanh khiến nó tồn tại như một huyền thoại ngay trong mắt những học giả chứ đừng nói đến người thường. Người ta vẫn đồn tại đây chứa những trang sử mà các sử quan không được phép công bố, chứa những cuốn sách quý hiếm, chứa cả những bí mật của vương triều. Những ngón tay của Tư Thành thoáng run lên vì phấn khích khi chạm nhẹ vào những lớp giấy mỏng tang ấy.

 

-Cứ đọc những gì em muốn. Từ nay về sau khi nào anh đến đây, nếu rảnh rỗi, em có thể đi theo. Cái miệng… lại sắp nói những lời khách sáo rồi đấy. Anh không muốn nghe! – Bang Cơ vừa nhác thấy vẻ mặt của cậu thiếu niên kia liền phẩy tay ra hiệu không cần đa lễ rồi ngồi xuống chiếc ghế gần nhất, thong thả tự rót cho mình một chén trà. Trong căn phòng rộng với những giá sách cao ngất, ánh sáng ngự trị là ánh lửa từ những chân đèn vừa to vừa vững chãi, tuyệt nhiên chỉ thấy ánh sáng mờ nhạt ảo não của thế giới bên ngoài hắt vào qua những cánh ô sổ khép kín. Hương trầm tản mát. U tịch đến mức nghe được tiếng gió thổi vi vút lạnh lùng qua những viên ngói mũi hài. Thời gian trôi qua là nhanh hay chậm cả hai người đều chẳng hay, ai cũng cắm cúi vào trang sách trên tay mình. Hiếm hoi lắm chen giữa tiếng lật sách là tiếng một tờ giấy đã viết kín đặc chữ được cẩn thận đặt sang bên.

 

-Hoàng huynh… thứ này… chẳng phải là…

 

Giọng nói hơi lạc đi của Tư Thành khiến Bang Cơ chú ý, vội đứng dậy chạy lại gần. Trên tay Tư Thành là cuốn sách vẫn còn như mới nguyên, ngoài bìa đề ba chữ ngay ngắn, đẹp đẽ: “Dư địa chí”.

 

-Đây cũng là lần đầu tiên ta nhìn thấy nó. – Bang Cơ nuốt nước bọt xuống cổ họng khô khốc, nhìn chăm chăm vào cuốn sách kia nửa tin vào sự thật bày ra trước mắt, nửa lại bàng hoàng – Lại kia, chúng ta cùng đọc.

 

Ham muốn được lật ngay trang bìa ra làm ngón tay đặt trên tờ giấy của Tư Thành hơi run lên, đến mức chàng phải bấm mạnh đầu ngón tay xuống để trấn áp sự mừng rỡ trong lòng. Ai cũng biết sau khi ba họ nhà Hành khiển Nguyễn Trãi bị xử tử, toàn bộ tác phẩm của ông trong chớp mắt đều hóa thành một đống tro tàn. Bậc thức giả, nho sinh toàn cõi nuối tiếc đến mấy cũng chỉ biết để trong lòng, buông thêm mấy tiếng thở dài. Cuộc đời con người dễ bị định đoạt như thế. Sự nghiệp cả một đời người cũng dễ hóa tàn tro như thế. Chính vậy nên người đời chỉ còn nhớ tên những tác phẩm Nguyễn Trãi từng viết để hoài niệm về một cái gì vẻ vang, kì vĩ đã qua. Tư Thành vẫn tin dưới gầm trời này lệnh của triều đình không thể quét xuống mọi ngóc ngách, vẫn tin những môn sinh, bằng hữu, gia quyến của Hành khiển đại nhân vì mến tài, vì xót người mà lén lút giữ lại những thư tịch vô giá ấy. Tiếc rằng dân gian mênh mông quá, chẳng ai rõ những bảo vật ấy giờ trôi nổi ở chốn nào.

 

Dư địa chí, tìm được ra nó ở Bí thư các quả nhiên là một chữ duyên, là duyên phận với quá nhiều người.

 

Cẩn thận dẹp bình trà, lư hương sang bên, Tư Thành thận trọng đặt cuốn sách lên bàn, ngay trước mặt Bang Cơ. Lấy thêm một chiếc đèn cho sáng, cậu nói:

 

-Anh đọc trước đi.

 

-Anh đọc cho cả hai chúng ta cùng nghe! – Hoàng đế cười, kéo gọn hai tay áo rộng thêu chỉ kim tuyến lên.

 

-Vậy để em ghi chép! – Chàng đáp lại bằng một vẻ mặt háo hức, tươi tỉnh.

 

Ánh sáng chiều đông mờ đục dần nhạt đi nhường chỗ cho sắc lam thẫm lúc hoàng hôn. Chấn song hoa mai trên ô cửa sổ in bóng xuống trang giấy làm hai cậu thiếu niên nhận ra trời cũng đã muộn. Bang Cơ vươn vai, thoải mái ngáp một cái rồi tựa lưng ra sau, bàn tay xoa xoa bụng:

 

-Đói rồi. Nghỉ tay ăn gĩ hẵng. Này…

 

Bẻ chiếc bánh làm đôi, chàng vươn người đặt vào tay Tư Thành rồi thuận tiện lấy cuốn sách ra khỏi mấy ngón tay của đứa em, nghiêm giọng:

 

-Ăn uống, sinh hoạt phải có quy củ. Chúng ta ghi chép cũng được nhiều rồi đấy nhỉ?

 

Trên mặt bàn la liệt những tờ giấy, tờ họa lại hình, tờ lại ghi chữ. Qua mấy trang giấy mỏng mà địa lý mọi vùng chợt hiện ra rõ nét, đủ đông, tây, nam, bắc, tên gọi lẫn thổ sản đặc trưng. Không ít lần hai cậu dừng lại, ngẫm ngợi về những sản vật nào vải thiều, nào nhãn lồng, nào chuối ngự… rồi bật cười với nhau.

 

-Cố Nhập nội Hành khiển đại nhân quả thật là người uyên bác, trong mười ngày đã có thể hoàn thiện một cuốn sách với nội dung đồ sộ, tỉ mỉ thế này để dâng lên Tiên đế! – Tư Thành lật qua lật lại cuốn Dư địa chí trên tay, ánh mắt không giấu vẻ ngưỡng mộ.

 

Gật đầu đồng tình, Hoàng đế nhỏ lắng nghe những lời ấy liền hơi cau mày một cái khi cậu em lại dùng từ “Tiên đế”. Không sai, không vô phép nhưng nó cứ sao sao ấy. Rồi, rất nhanh thôi, Bang Cơ tự lý giải tất cả trong đầu mình, là em ấy không hề biết đến phụ hoàng nên chẳng trách được trong lòng có chút xa cách. Đung đưa chân trên ghế, chàng nghiêng nghiêng đầu, khoanh tay đặt lên bàn, ánh mắt lém lỉnh:

 

-Tư Thành, em là người thông minh, có biết tại sao Ức Trai tiên sinh lại viết Dư địa chí dâng lên phụ hoàng không?

 

-Chẳng phải ngài ấy làm vậy là để giúp Tiên đế có thể nắm vững cương vực lãnh thổ của Đại Việt một cách nhanh nhất, hệ thống nhất sao? – Chàng đáp ngay, trong giọng có chút ngờ vực.

 

Đôi môi mỉm cười, cái đầu lắc lắc, Bang Cơ nhảy xuống khỏi ghế, bắt chước người ta chắp tay sau lưng đi đi lại lại vẻ như đang suy tư rồi đột nhiên quay ngoắt lại, chỏ vào Tư Thành:

 

-Đúng nhưng thiếu rồi!

 

Nhìn đôi mắt sáng lên lấp lánh của anh trai tựa như đang tự mãn vì nắm được một chuyện mà chàng không biết, Tư Thành bắt chước cúi mình cho giống mấy văn nhân, kính cẩn rửa tai lắng nghe.

 

-Mẫu hậu kể hồi xưa khi phụ hoàng còn nhỏ, tầm tuổi chúng ta ý, chuyện nghịch phá gì người cũng đã từng thử qua: trèo tường, chọi gà, câu cá,… Vì người ham vui như vậy nên cố đại nhân Nguyễn Trãi mới quyết định nhanh chóng soạn rồi dâng Dư địa chí lên để giúp phụ hoàng trị nước, trở thành minh quân. Thế nên là…

 

Đang mải lắng nghe câu chuyện lạ lẫm trước giờ bản thân chưa từng hỏi, Ngọc Dao cũng chưa một lần nhắc đến, giờ đang được kể bằng giọng vui vẻ, thân thiết và hào hứng, Tư Thành hơi giật mình khi Bang Cơ đưa tay vần vò gương mặt chàng, bảo:

 

-… Em đừng trưng bộ dạng ông cụ non đó ra nữa.

 

-Dạ?

 

-Sống thoải mái một chút, muốn cười thì cười, muốn nghịch ngợm thì nghịch ngợm – Hoàng đế nhún vai, mắt nheo lại – Em hãy còn bé mà. Với cả, anh rất ghen tị với em đấy!

 

Vừa nhìn thấy vẻ mặt kia rõ rành rành là không hiểu hết ý tứ của mình, chàng nói tiếp:

 

-Vì em rất giống phụ hoàng, trong số mấy anh em, Tư Thành là giống người nhất. Hồi phụ hoàng còn tại thế, nói thật là anh cũng không rõ. Nhưng trong tưởng tượng, anh luôn nghĩ về người bằng cách liên tưởng đến em.

 

-Vậy sao?

 

Âm thanh thoát ra nơi đầu môi rất nhỏ, rất mỏng, nửa có nửa không khi ánh mắt đen rơi lại xuống những trang giấy. Sắc đen thẳm sâu, trầm ổn đến mức ngỡ như tất cả những lời ban nãy của Hoàng đế trôi từ tai trái qua tai phải chẳng hề lưu lại dù chỉ là một dấu vết nhỏ. Nhấp môi vào chén trà, hướng ánh nhìn về phía trước, chàng đề nghị:

 

-Hoàng huynh, chúng ta tiếp tục chứ?

 

Đêm đó, ánh đèn trong Bí thư các không hề tắt.

 

 

 

Trong gió đông, những phiến lá xanh sớm trở nên héo quắt dù vẫn còn giữ nguyên màu xanh lục. Không nằm ngoài dự đoán của Tư Thành, sự kiện tại Bí thư các đưa lại một vài điều phiền phức. Dư địa chí một lần nữa xuất hiện công khai ngay giữa Cung thành, tuy chỉ là mấy trang giấy mỏng nhưng lại thổi bùng lên những lời bàn tán râm ran. Người ta từ ngày Hoàng đế đăng cơ đã không ai dám hé răng mở mồm nhắc lại cái tên Nguyễn Trãi với Nguyễn Thị Lộ vì sợ vạ miệng. Thế nhưng giờ không những cuốn sách của người ấy đột nhiên xuất hiện, lại còn được đích thân Hoàng đế chọn làm chính thư để tại ngự tẩm của người, điều ấy làm lắm kẻ không ngồi yên được.

 

-Khởi bẩm quan gia, chuyện người chọn Dư địa chí làm chính thư e rằng không ổn bởi tác giả của cuốn sách đó là nghịch thần tặc tử, cấu kết với nữ nhân mưu hại Tiên đế, tội không thể dung thứ, theo lẽ phải hủy hết sách vở.

 

Rời mắt khỏi bản tấu, Bang Cơ chậm rãi đáp:

 

-Người chết cũng đã chết rồi, không nên quá so đo. Trần Phong, khanh vừa là thần tử của trẫm, vừa là thầy học của trẫm, trẫm nhớ khanh từng dạy học trò tại Kinh Diên phải biết trân quý những cuốn sách hay còn hơn cả vàng ngọc, đất đai. Hôm nay khanh lại nói với trẫm những lời này, trẫm phải nghĩ thế nào cho phải?

 

Lặng lẽ quan sát vẻ mặt chỉ thoáng qua chút sững sờ của Trần Phong khi những lời lẽ vừa rồi được vị hoàng đế hãy còn nhỏ tuổi nói ra, Tư Thành đoán chứng ông ta cùng mấy vị học sĩ khác đến đây là kết quả của vài cuộc gặp kín nào đó từ trước với quan lại trong triều, mượn thế là thầy dạy của đương kim thánh thượng mà gây sức ép. Vì lẽ gì thì giờ chàng mới chỉ có thể đoán chắc đến năm phần là liên quan đến chuyện đấu đá hậu cung năm xưa giữa mẹ mình với Nguyễn Thị Anh. Nhưng hẳn nhiên đó mới chỉ là một khía cạnh rất nhỏ. So với chuyện chính trị, tranh đấu chốn hậu cung lại là điều quá tầm thường nhạt nhẽo. Nguyễn Trãi, con người này dù chẳng còn ở đây nữa nhưng sức ảnh hưởng lên hậu thế chỉ có hơn chứ nhất quyết không hề kém đi.

 

Đứng dậy khỏi chiếc ghế sau án thư, Bang Cơ cầm cuốn sách giơ lên cho mấy viên quan đang đứng trong thư phòng mình nhìn cho rõ, cất giọng cứng cỏi:

 

Nguyễn Trãi là người trung thành giúp đức Thái Tổ dẹp yên giặc loạn, giúp đức Thái Tông sửa sang thái bình. Văn chương và đức nghiệp của Nguyễn Trãi các danh tướng của bản triều ta không ai sánh bằng. Cuốn sách này là báu vật, là thứ ta muốn các đời hoàng đế tiếp sau đều phải đọc qua.

 

-Quan gia, chuyện này… Nhưng Nguyễn Trãi là kẻ đã dám mưu sát Tiên đế! – Trần Phong quỳ rạp xuống, thảng thốt nói như trời sập đến nơi.

 

Tư Thành khẽ nhắm mắt lại, môi nhếch lên kín đáo tạo thành một nụ cười mỉa mai. Thành tựu cả đời của cố đại nhân Nguyễn Trãi là thứ lắm kẻ vừa thèm muốn, vừa đố kị, kiểu lòng dạ đó ngoài dân gian hay chốn quan trường đều đầy rẫy. Những kẻ tiểu nhân mượn vào huyết án Lệ Chi Viên để hả hê khi thấy cả tòa sự nghiệp cao vòi vọi kia sụp đổ, còn người nằm xuống mang tiếng nhơ dễ gì gột sạch. Giờ những lời Hoàng đế ban xuống chẳng hóa phủ định đi tất cả?

 

-Trần Phong, người từng tận mắt thấy Nguyễn Trãi cấu kết với ái thiếp của mình mưu sát phụ hoàng ta? – Bang Cơ cau mày, hỏi lại – Thế sự vô thường. Không may người đàn bà ấy gây ra tai biến, để người lương thiện mắc tội, rất đáng thương.

 

-Quan gia…

 

-Quan gia anh minh! – Tư Thành cất tiếng, quỳ xuống hành lễ làm đám người kia nhất thời lúng túng.

 

-Hoàng thái hậu giá đáo!

 

Lời truyền ấy vọng vào thư phòng tại cung Khánh Ngọc đột nhiên làm thế trận có nguy cơ bị đảo lộn. Đặt cuốn sách xuống bàn, Bang Cơ nhanh chóng bước xuống cung nghênh mẫu hậu của mình. Đám quan lại xoay ra mừng rỡ ra mặt, hận không thể bẩm tấu ngay. Trái ngược với những cung bậc cảm xúc đa dạng đó, quỳ xuống hành lễ, lòng Tư Thành ngầm đoán định những chuyện sẽ xảy ra tiếp theo khi Nguyễn Thị Anh biết quyết định của Hoàng đế. Cá nhân chàng sẽ không hoan hỉ được như đám người kia.

 

-Ta nghe hết tất cả mọi chuyện rồi. – Tuyên Từ phẩy tay ngầm ra hiện cho Trần Phong không cần thưa bẩm gì thêm – Ta tán đồng với điều quan gia lựa chọn.

 

Những lời ấy khác gì sét đánh ngang tai những kẻ đang định xun xoe quanh gấu váy người đàn bà đó. Tư Thành không nghĩ Nguyễn Thị Anh sẽ bác bỏ ý kiến của con trai mình nhưng đồng tình đến thế lại là chuyện khác. Hoàng thái hậu tiếp lời:

 

-Quan gia là vua một nước, người đã có thể tự mình quyết định những việc hệ trọng đúng đắn như vậy làm mẫu hậu rất an lòng. Từ nay, người không còn cần đến mẹ già này giúp người trông coi chính sự nữa rồi.

 

Gió đã đổi chiều đúng như những gì Tư Thành đoán định. Cuộc chuyển giao này quả nhiên êm ấm, vẹn toàn. Cán cân quyền lực hơn mười năm nay nghiêng về phía Hoàng thái hậu khiến lắm kẻ quên mất người ngồi trên ngai vàng kia thực là ai. Hôm nay Nguyễn Thị Anh đã khéo nhắc cho quan lại trên dưới trật tự vốn có của nó, khéo chỉ ra rằng Hoàng đế quần thần phải phụng sự giờ đã trưởng thành, không còn là một đứa bé con để cho mẫu hậu buông rèm nhiếp chính ngày xưa. Tất cả những gì có thể làm ảnh hưởng đến sự tôn nghiêm của Hoàng đế cuối cùng đã được dẹp sạch, kể cả đó là cái bóng của chính mẹ đẻ mình. Nguyễn Thị Anh, Nguyễn Thị Anh, người đúng là không phải hạng đàn bà tầm thường.

 

 

 

Tháng mười một năm Thái Hòa thứ 11 (1453), Hoàng đế lên 12 tuổi, có thể tự coi chính sự, Thái hậu trả lại quyền chính cho nhà vua rồi lui về ở cung riêng. Khi tự mình chấp chính, quan gia xuống lệnh đại xá, đổi niên hiệu là Diên Ninh. Năm 1454 trở thành năm Diên Ninh thứ nhất.

 

 

 

***

 

 

 

Trên đời không thiếu kẻ mơ mộng muốn một lần gặp tiên nữ, gặp được tiên nữ ngay giữa cõi trần càng hay. Chuyện ấy nghe thì có vẻ hoang đường nhưng lại hoàn toàn có thực. Chẳng qua đó là cách nói hoa mỹ về cuộc hát xướng bên bờ hồ Dâm Đàm[4] mà các đào nương được ví như những tiên tử hạ phàm. Chỉ là hát múa, tấu nhạc nhưng lại được ưu ái, đồn thổi như vậy bởi một năm chỉ có một lần lúc xuân sang, các giáo phường trong kinh thành cử đến những cô đào, kép đàn giỏi nhất, người ta không cần trả tiền mà vẫn có thể được nghe hát, xem múa mãn nhãn thì thôi. Tuy không trình diễn ca trù hay những màn hát thờ độc đáo nhưng cũng đủ để các ông trùm vừa là phô trương thanh thế, vừa truyền bá văn hóa dân gian theo sắp xếp của Ty giáo phường[5]. Những người từng vọng tưởng đào nương xinh đẹp coi đây là cơ hội để ngắm nhìn, để cầm tay các nàng nói đôi câu tình ý mà những lúc bình thường khó có khả năng làm được. Tiếng lành đồn xa, tiếng xấu đồn xa, càng làm cho nhiều người vì hiếu kì mà tìm đến. Bang Cơ cũng vậy. Rời cung vi hành gặp lúc tối trời trăng sáng, lại nghe danh đồn đại đã lâu, Hoàng đế đâu thể không dừng bước. Tư Thành quan sát đám đông, thấy yên tâm một chút khi lẫn giữa những người bình thường là những cấm quân tinh nhuệ nhất, mình mặc thường phục đứng lẫn vào rải rác, mắt kín đào không rời khỏi bóng áo trắng của chủ nhân.

 

-Công tử của tôi ơi, cái mạng già này của lão sống được mấy năm mà người lại hành hạ nó đến thế? – Đào Biểu phe phẩy cái quạt trong tay, não nề nói.

 

-Anh ấy không mấy khi ra ngoài, vui vẻ một lần cũng tốt. Chúng ta thận trọng là được! – Chàng ngước lên, cười trấn an – Đào Biểu, ông có thấy dạo này anh ấy đã thay đổi không?

 

-Ý công tử là… – Viên nội thị nhìn xuống, rõ ràng hiểu ẩn ý trong lời của Bình Nguyên vương nhưng vẫn cố tình nói lảng sang chuyện khác – … công việc bận rộn không lúc nào ngơi nên chủ nhân thay đổi cũng là điều bình thường.

 

-Nói cũng phải!

 

Tư Thành cười nhẹ, chắp hai tay ra sau lưng, thong thả bước về phía trước. Từ hồi đầu năm, khi Bang Cơ triệu chàng nhập cung cùng học võ thuật, rồi chuyện tại Bí thư các hay đến cả lần xuất cung này, tất cả bề ngoài chỉ là những sự kiện rời rạc nhưng dường như lại có quan hệ mật thiết với nhau. Hoàng đế là người cần cù chịu khó, chuyên tâm học hành, càng chuyên tâm hơn nữa với việc quốc gia đại sự, nhưng sự tỉ mỉ ban nãy trong lúc đi thăm thú dân tình làm Tư Thành có chút băn khoăn. Bang Cơ là người lương thiện, thật thà nhưng dù sao cũng là Hoàng đế, lòng dạ đế vương chẳng sớm thì muộn cũng sẽ thành chốn chẳng ai dò xét cho hết nông sâu. Chàng nhận ra thế, Đào Biểu càng nhận ra thế vì ngày ngày kề cận cạnh đức vua nhưng sự thể thế nào thì ông tạm thời chưa thể đoán ra, đành cất mối tơ vò ấy vào tận sâu trong lòng.

 

-Nói điều này thì hơi thừa thãi… – Tư Thành nhìn lên – … bên trong những người có thể tin tưởng được không nhiều, mong ông tận tâm tận sức giúp đỡ anh ấy. Chuyện gì tránh được thì nên tránh đến cùng.

 

“Bên trong” mà Bình Nguyên vương nhắc đến chính là Cung thành. Đào Biểu cúi mình nhận lời dặn dò, trong lòng thầm nể phục đứa bé trước mặt. Đúng là huyết thống của gia đình đế vương, ý tứ thâm sâu khiến kẻ làm nô bộc nhất thời khó hiểu hết.

 

-Xem ra mấy anh học trò kia hát không được hay lắm nhỉ? – Bang Cơ cười cười huých tay vào hông Tư Thành.

 

Chàng nén tiếng cười trong cổ họng, gật đầu tán đồng. Chen chen lách lách một hồi, cuối cùng hai đứa trẻ và mấy người tùy tùng cũng có thể đứng ở hàng đầu, nhìn thật rõ những cô đào xinh đẹp không ai giống ai, mười phân vẹn mười. Dung nhan đẹp đẽ như hoa như ngọc đến vậy bảo người khác bình tĩnh mà hát đối đáp với các cô kể cũng khó. Mấy anh học trò nhất thời nổi hứng, tuy bụng đầy kinh sử nhưng lại không hát cho trọn lời một khúc dân ca để đáp lại các cô đào. Tư Thành thầm phục mấy cô gái ấy khi có thể kiên nhẫn tiếp những vị khách này mà nụ cười trên môi không hề nhạt đi dù chỉ một chút.

 

-Đắc Ninh, anh với cậu Khiết chẳng phải hát rất hay sao, đối đáp các cô ấy cho ta! – Bang Cơ thấy mấy người kia vì thẹn mà dần tách đám đông rời đi liền ra lệnh cho hai người đàn ông trẻ đứng sau lưng mình tiếp tục cuộc hát xướng đang đến hồi hấp dẫn.

 

-Chuyện này… – Lê Đắc Ninh thân là Đô chỉ huy giữ cấm binh trong cung chưa hề quên năm xưa, khi xa giá của vua về Lam Kinh, Trịnh Khả từng tâu lên quan gia xin dẹp không cho trai gái Thanh Hoa hát rí ren vì coi đó là thói dâm tục xấu. Nay Hoàng đế lại ra lệnh này làm anh ta thực sự khó nghĩ.

 

-Ta biết anh cũng là khách quen của chốn nhà trò con hát! – Bang Cơ nhẹ giọng nói nhưng lại khiến những người xung quanh len lén quay đi – Chuyện ấy chẳng có gì đáng xấu hổ cả. Nào, giờ anh có làm không đây?

 

-Anh thật là… – Tư Thành cười khùng khục trong họng khi thấy dáng người lực lưỡng của Đắc Ninh và người thanh niên còn lại tên Khiết lục đục tiến về phía trước, ngoái sang Hoàng đế của mình.

 

-Em chẳng bảo không nên làm những cô gái đẹp buồn đấy thôi! – Chàng vươn người thoải mái, ánh mắt háo hức nhìn về phía trước – Các nàng ấy hát hay như vậy, để cuộc vui đứt gánh giữa chừng thì không hay cho lắm!

 

Bên lầu hóng gió sát mép nước hồ, bóng lá xào xạc trên nền gạch nung được soi tỏ bởi ánh trăng, bởi những ánh đèn lồng rực rỡ. Gió động những tà áo lụa đủ màu, đùa nghịch những lọn tóc mây óng ả làm bao người hồn xiêu phách lạc. Các ca nương của giáo phường Khán Xuân nhìn nhau, nhìn quan khách, chưa biết hát tiếp thế nào bởi khúc dân ca này là đối đáp giao duyên, nếu chỉ có nữ thì không thể nào kết thúc được, mà bỏ ngang đấy thì quá mất mặt. Mấy anh kép đặt cây đàn đáy xuống định ra ứng cứu thì giữa đám đông đã vang lên tiếng hát khiến những gương mặt kia rạng rỡ hẳn ra.

 

Trên trời… có đám mây xanh, có con ngựa bạch chạy quanh gầm trời.

 

Ô mấy dậu tình rằng, ô mấy dậu tình ơi… – Các cô ngoảnh lại, trên môi điểm một nụ cười tươi tắn mà hòa tiếng vào.

 

Đắc Ninh chầm chậm tách khỏi đám đông, đứng về một phía trên khoảng sân rộng, dáng điệu đường hoàng tiếp lời:

 

Đôi ta… muốn lấy nhau chơi… nhưng cái duyên chưa định vì trời chưa se. Những đôi… bến nước bờ tre… nhưng cái duyên đã định,  trời se cứ thành…

 

Những ánh mắt liếc ngang lúng liếng, những mái đầu xanh chụm vào nhau như đang định giá người vừa xuất hiện, vành nón quai thao che lấp nụ cười trên những đôi môi ấy càng làm người ta tò mò, phấn khích.

 

Ba đồng… – Anh Khiết hát tiếp ngay, nghiêng người về phía những cô gái đang đứng túm năm tụm ba, tay vờ vò vò tà áo tứ thân màu hoa đào.

 

Ba đồng… – Các cô nhại lại bằng giọng trong vắt, cao vút, trong tiếng gió vẳng đưa tiếng cười khúc khích vui tươi.

 

… một sợi chỉ đào. Áo vóc không vá vào áo tơi…

 

Bóng hai người đàn ông in trên nền đất thoáng động khi cô đào đẹp nhất bị đám chị em đẩy ra ngoài, chạm bờ vai thon lên cánh tay Lê Đắc Ninh nhẹ như một cành hoa lướt qua nhưng lại khiến viên Đô chỉ huy bối rối ra mặt, làm đám đông xung quanh ồ lên thích thú. Ánh mắt đen khẽ liếc vờ như thẹn rồi quay đi nhưng thực ra lại sóng sánh xuân tình, gò má kia ửng hồng bẽn lẽn. Là Đắc Ninh may mắn khi được mục sở thị đào nương đệ nhất kinh thành – cô đào Kim Oanh của giáo phường Khán Xuân, Hoàng đế xem ra đúng là người tốt.

 

Tủi lòng… thiếp lắm chàng ơi… dẫu rằng lên ngược, xuống xuôi lỡ làng… – Nàng chuyển giọng từ hát qua nói, lần tìm trong dải thắt lưng ra miếng trầu têm cánh phượng, ngước mắt trông sang – Gặp chàng dưới ánh trăng thanh. Xin mời ăn miếng trầu xanh thắm nồng. Trầu xanh, cau trắng, chay hồng. Đẹp duyên phải phận tơ hồng trời se.

 

Những cơi trầu sơn son trên tay những cô đào đang tuổi trăng rằm lần lượt tỏa ra vào đám đông. Ai cũng phấn khích đến độ cố giành cho được một miếng để nhìn cho kĩ những gương mặt ấy. Đắc Ninh chần chừ mãi, ái ngại liếc nhìn về phía Hoàng đế trong khi bàn tay mình đã bị Kim Oanh mở ra, nhẹ nhàng đặt miếng trầu têm rất khéo vào đó.

 

Ăn một miếng trầu, gặp đây ăn một miếng trầu. Không ăn cầm lấy… Không ăn cầm lấy… cho nhau bằng lòng. Trầu này… trầu tính trầu tình…

 

Lời hát ấy, ánh mắt êm êm như sóng nước vỗ bờ mà chan chứa ý tình, nàng mới thấy vị khách có ý định không nhận liền nhẹ nhàng dùng những ngón tay thon mà cản, khép bàn tay Đắc Ninh lại. Bàn tay mềm mại chỉ khẽ lướt qua tựa hồ như cánh hoa mỏng rơi xuống nhưng lại có sức mạnh hơn cả những cú ra đòn uy vũ nơi thao trường. Nhìn vẻ mặt đỏ rần rần của viên Đô chỉ huy cấm binh của mình, Bang Cơ thích chí vỗ tay vào đùi cười sảng khoái. Anh hùng khó qua ải mỹ nhân, anh hùng đúng là khó qua ải mỹ nhân.

 

-Bé con… đi theo anh nhé?

 

Tư Thành đang mải nhìn nam thanh nữ tú trao nhau những ánh mắt nồng nhiệt vào một đêm trăng thanh gió nhẹ, cảnh đẹp, người còn đẹp hơn nữa thì chợt nghe thấy bên tai tiếng bông đùa không được đứng đắn cho lắm. Kẻ buông lời cũng là một thanh niên ăn mặc quần là áo lượt, trông không có vẻ là thất học nhưng lại tay giữ tay níu một cô bé con tóc còn chưa cài trâm[6]. Bàn tay cầm cây quạt trúc giơ lên định cản hành vi thất thố đó chợt khựng lại. Cổ tay thon kia ban đầu còn cố dùng lực để giằng ra, ánh mắt đen thẫm vừa thoảng qua chút sững sờ rồi trầm sâu trở lại. Đôi môi phơn phớt màu son của Hải Triều nhoẻn cười, thoắt cái làm Tư Thành nhận ra đứa bé đó giờ mang một vẻ mặt không hề khác những đào nương trưởng thành. Chạm nhẹ hai đầu ngón tay lên bàn tay gã thanh niên kia, nàng hát:

 

Đứng ở đằng xa… yêu nhau… đứng ở đằng xa. Con mắt liếc lại… con mắt liếc lại… bằng ba đứng gần.

 

Những người xung quanh nhìn thấy hết cảnh tượng đó, nghe đến thế liền râm ran bật cười. Gã trai kia cũng biết thẹn mà buông vội tay cô bé ra, định lủi đi ngay nhưng khi thấy nàng khẽ cúi đầu chào đáp lễ như chẳng có việc gì thì đâm ra lúng túng, chân dẫm phải tà áo, loạng choạng mà ngã nhào. Dáng điệu che miệng khi cười đó, cái cách cô bé quay đầu bước đi đàng hoàng, đúng mực, nom chẳng khác dáng vẻ của các tiểu thư là mấy. Ấm áp thế, xinh đẹp thế, ấy vậy mà khi đuôi mắt liếc ngang chạm phải gương mặt Tư Thành, ấn tượng đọng lại trong lòng chàng không phải là một nhành hoa xuân hãy còn phong nhụy mà là một vẻ băng lạnh xa cách.

 

Bang Cơ lúc hồi cung, trên xe ngựa có ý trêu Lê Đắc Ninh, nói rằng tình nồng ý đượm như thế với cô đào Oanh thì nên nhanh nhanh chóng chóng mà cưới nàng về làm thiếp. Đắc Ninh một mặt không dám, mặt khác nói thẳng đại ý rằng: Đào nương chỉ là người nên gặp để vui vẻ, tuyệt đối không nên lấy về nhà. Đẹp quá cũng là một chuyện nguy hiểm. Các tiểu thư khuê các ít khi lộ mặt ra chốn phố chợ, còn các cô đào lại công khai làm chuyện ngược lại, cười cười nói nói với đủ dạng người. Hơn nữa, lòng dạ đàn bà đã khó dò, lòng dạ các ả đào còn khó dò hơn nữa. Đâu là thật, đâu là giả thực sự quá mong manh.

 

Là khách phong lưu gặp kẻ phong trần giữa chốn hương phấn. Tình duyên nồng đượm, mĩ mãn kia chỉ thoảng qua trong một canh hát rồi như bướm vờn hoa đậu rồi lại bay. Hoa vẫn đẹp vẫn tươi để đợi chờ những con bướm khác, chẳng nhung nhớ, cũng chẳng đợi chờ. Không khí mùa xuân vấn vương hương hoa mộc thơm ngọt đến nao lòng, rải sắc trắng tinh khôi trong những chùm hoa bé xíu, níu áo người từ chốn đàn hát ấy suốt cả một quãng đường xa.

 

Lòng dạ đàn bà khó dò hay lòng người thực ra vốn đã khó dò?

 


[1] Tức Ỷ Lan (vợ vua Lý Thánh Tông, mẹ đẻ vua Lý Nhân Tông), bà đã từng hai lần buông rèm nhiếp chính, đích thân trị nước.

[2] Lê Thái Tông (Lê Nguyên Long) lên ngôi năm 1433 khi mới 10 tuổi.

[3] Nghĩa là: Dưới gầm trời này, không đất đai nào không phải đất của Thiên tử, không con dân nào không phải con dân của Thiên tử.

[4] Tức Hồ Tây

[5] Theo Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ: Ty giáo phường là cơ quan làm nhiệm vụ sưu tầm, chỉnh lý, biểu diễn, truyền bá… âm nhạc dân gian.

[6] Con gái đến tuổi trưởng thành (có thể gả đi được) thì mới được cài trâm, coi như dấu hiệu để người ngoài có thể biết. Người ta gọi đó là tuổi cập kê. Ở đây ý nói cô bé này còn nhỏ.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s