[Truyện ngắn] Quân cờ (3)


.III.

 

Phu phụ nhân gian

 

***

 

 

 13

 

 

“Một cỗ nhung y chiến thắng,
Nên công oanh liệt ngàn năm
Bốn phương biển cả thanh bình,
Ban chiếu duy tân khắp chốn.

Xa gần bá cáo,
Ai nấy đều hay”[1]

 

(Bình Ngô đại cáo – Nguyễn Trãi)

 

 

Sau hội thề Đông Quan, quân Ngô theo đường thủy bộ rút về nước. Lê Tư Tề cùng Lưu Nhân Chú hoàn thành trọn vẹn vai trò con tin của mình. Sự nghiệp Bình Ngô phục quốc của nghĩa quân Lam Sơn trải gần mười năm đến đây là kết thúc.

 

Bình Định vương sau khi lên ngôi đặt niên hiệu Thuận Thiên, có ban chữ húy tông miếu và chữ húy tên vua, trong các văn tự đều phải dùng tránh đi. Sắc chỉ ban xuống có đoạn: “Tuyên Tổ Hiến Văn Hoàng Đế húy là Khoáng, Trinh Từ Ý Văn Hoàng Thái Hậu húy là Thương, húy của vua là Lợi, của hoàng hậu là Trần”. Trịnh Thị Lữ trở thành Trịnh thần phi. Lê Tư Tề được phong Hữu tướng quốc, ban đến tước Quận vương. Cùng năm ấy ngài lập ái thiếp theo mình từ những năm vào sinh ra tử là Lý Thị Kim Nga làm đích phu nhân. Mọi người từ đấy đều gọi nàng là Quận vương phi. Công danh nở rộ, quan lộ trải thảm vẻ vang, ái tình đằm thắm, ai nhìn vào vương phủ cũng lấy thế làm mừng. Chỉ có Kim Nga là không cười nổi, lắm lúc nghĩ bản thân quá đa nghi hay đúng như Tư Tề nói, tại nàng quá cảnh giác mà tự làm khổ bản thân. Là Kim Nga không thể sống tự do tự tại như chàng thì đúng hơn.

 

Chưa đầy một năm sau, Thuận Thiên năm thứ hai (1429), trong cùng một ngày, Hoàng đế một đằng sai Nhập nội kiểm hiệu bình chương sự Phạm Vấn, Nhập nội đại tư mã Lê Ngân, Nhập nội thiếu phó Lê Văn Linh mang kim sách lập Hữu tướng quốc Khai quận công Lê Tư Tề làm Quốc vương, giúp coi việc nước; một đằng lại bảo Nhập nội tư khấu Lê Sát, Tư không Lê Nhân Chú, Nhập nội tư mã Lê Lý, Nhập nội thiếu úy Lê Quốc Hưng mang kim sách lập Lương quận công Lê Nguyên Long làm Hoàng thái tử[2]. Từng bước, từng bước sự việc an bài, hiện lên rõ ràng như những gì cả hai người đoán định từ cái ngày đại nghiệp chưa thành.

 

-Chàng mệt lắm không? – Kim Nga đón lấy chiếc áo khoác của Tư Tề, mỉm cười hòa nhã, cất vẻ bướng bỉnh của mình đi để không làm chàng phân tâm, chuyện trong triều giờ đặt cả lên vai chàng cũng đủ mệt rồi.

 

-Một chút! – Chàng đáp, đôi mắt đen nheo nheo nhìn cô gái trước mặt, đưa tay chỉnh lại mái tóc buộc hờ hững của nàng – Vẻ mặt này là sao đây, định giả làm thục nữ? Người như nàng cố làm vậy chỉ chuốc lấy thất bại thôi.

 

Nàng vẫn cười, vẫn giữ dáng vẻ ung dung để khỏa lấp hết những lo lắng trong lòng. Có người nói càng ngày Kim Nga càng giống Tư Tề, trầm lặng đi rất nhiều. Giờ nàng không còn có thể như lúc trước, muốn đi đâu thì đi, muốn làm gì thì làm. Nhiều khi ở bên chàng, Kim Nga vẫn hay nhắc lại chuyện cũ, nói năm xưa vì hiếu kì mà cải trang đi nghe ngóng khắp nơi có phải là ngang ngược, là không quan tâm đến an nguy của chàng hay không. Lần nào nghe đến đó, Tư Tề cũng chỉ cười lớn, sảng khoái đáp: “Phu nhân của ta dễ để người ta tóm được đến thế? Nàng không phải người thích làm liên lụy đến kẻ khác nên ta rất an tâm!”.

 

Kim Nga nhận ra càng ngày chàng càng thức khuya hơn, sớm ra đã đi mất, thậm chí có ngày còn chẳng về nhà. Mấy lần đi lễ chùa, có vị phu nhân trêu nàng rằng phải chăng Quốc vương điện hạ đã để mắt đến ai bên ngoài, Kim Nga cũng chỉ cười đáp lại. Gánh nặng trên vai, gánh nặng trong lòng, chàng luôn tự giữ lấy, biến nàng thành người ngoài, nghĩ rằng thế là bảo vệ nàng nhưng thực ra chẳng phải. Lăn thêm mấy vòng trên gường rồi nhỏm dậy, bước chân trần trên sàn gạch, Kim Nga khẽ khàng ngồi xuống cạnh Tư Tề, đan bàn tay mình vào bàn tay ấm áp đặt hờ trên án thư của chàng, nhỏ giọng hỏi:

 

-Chàng vẫn chưa quên được cái chết của đại nhân Trần Nguyên Hãn, vẫn cho đấy là lỗi của mình?

 

Chưa kịp định công ban thưởng, đùng một cái khai quốc công thần trở thành kẻ lộng quyền, sinh mưu đồ phản nghịch, oan kêu trời chưa thấu đã uất ức trầm mình nơi đáy sông. Trần Nguyên Hãn là chỗ qua lại thân tình với Tư Tề, cũng có thể kể là thầy của chàng, giờ nhìn người ra đi không minh bạch như vậy, sao có thể không để trong lòng. Tư Tề xiết nhẹ những ngón tay có phần thô ráp của Kim Nga, cười khổ:

 

-Không thể trước mặt phụ hoàng nói một tiếng công bằng cho ngài ấy, giương mắt nhìn bè phái lẳng lặng dâng hết mật thư nọ đến bản tấu kín kia để trừ khử hết người này người khác ở phe đối nghịch, nàng nói xem đó không phải lỗi của ta thì của ai? Trị nước đâu phải chỉ dựa vào sức của gươm bén, đao sắc, cái lẽ hiển nhiên này…

 

-Người có học thì cho võ tướng là lũ thất phu, dùng sức chứ không dùng đầu. Kẻ cầm gươm thì cho đám quan văn là thư sinh mặt trắng chỉ giỏi nói chữ lòe người, không nếm mật nằm gai, chẳng đem tính mạng mình ra nơi hòn tên mũi đạn để đoạt thiên hạ nên không có tư cách nói lớn – Kim Nga lặng lẽ nói – Thời đại thay đổi, địa vị tất đổi thay. Còn chàng, chàng không vui, chàng dằn vặt là bởi người ta không dám nhắm thẳng vào chàng, lại đi đường vòng lần lượt dằn mặt những ai dám không ủng hộ Hoàng thái tử điện hạ như họ.

 

-Sau đại nhân Nguyên Hãn, sẽ đến những ai nữa đây?

 

Tư Tề thở dài, đưa mắt nhìn vầng trăng lạnh trên nền trời tối thẫm. Chàng chợt cảm thấy mừng vì Kim Nga không như ngày trước, giữ lại cho chàng chút thể diện khi tránh nói thẳng rằng: phụ hoàng không phải chỉ đơn giản là đa nghi, đề phòng cả những người từng theo mình nếm đủ mọi đắng cay, công danh sánh ngang nhật nguyệt mà còn bởi Tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn mang trong mình huyết thống của tôn thất nhà Trần trước đây[3]. Dù họ Lê đoạt được thiên hạ từ tay giặc Ngô nhưng ai dám đảm bảo trong trời đất không còn người tưởng nhớ đến những trang sử vẻ vang của họ Trần ngày trước. Công lao của Trần Nguyên Hãn lại lớn đến vậy, chẳng phải cũng là một mối nguy? Nhổ cỏ phải nhổ cả rễ, lý lẽ này từ thời Trần Thủ Độ dù cay độc nhưng buộc phải làm để củng cố đế vị. Tư Tề thân là thần tử, lại là con trai Hoàng đế, há có thể đường hoàng nói ra những lời đó?

 

 

***

 

 

Sức khỏe Hoàng đế càng ngày càng giảm sút, việc triều chính lại càng lúc càng nhiều, cuối cùng ban chiếu xuống rằng:

 

“Như Tư Tề hiện đã lớn tuổi, vào hạng thành nhân, tuy liệu việc chưa chu đáo tinh vi cho lắm nhưng mắt thấy tai nghe, cũng đã từng trải qua nhiều việc. Hãy tạm coi việc nước để giúp đỡ trẫm. Nguyên Long tính tuy minh mẫn nhưng tuổi còn non, hãy nên nuôi dưỡng dự trữ trong Thanh cung, chờ ngày đức tính đầy đủ. Khi nào Tư Tề lên ngôi chấp chính thì lúc ấy Nguyên Long lại coi việc nước việc quân”[4].

 

Tờ chiếu ra nhằm năm Thuận Thiên thứ tư (1431).

 

Chủ vinh hiển, đầy tớ cũng được thơm lây. Thế nhưng đám gia nhân không hiểu sao vẻ mặt như hoa mùa xuân của mình lại khiến Kim Nga không vui. Nàng từ trong nhà bước ra, nghiêm khắc cất lời:

 

-Từ nay các ngươi chỉ nên chuyên tâm lo chuyện trong phủ, bớt mồm bớt miệng tào lao bên ngoài cho ta. Chuyện của mình, mình biết rõ thì hẵng thưa bẩm, còn không chớ bép xép. Đức ông trong triều có đủ việc để lo rồi, đừng tự bày ra thêm chuyện phiền não nữa.

 

Người ta nghĩ đơn giản rằng nhiệm vụ giám quốc trên vai Tư Tề là do Hoàng đế tin tưởng giao cho, được mấy người hiểu đó là chỗ cả ngàn con mắt dồn vào, trên trông xuống, dưới nhìn lên, lắm kẻ lăm le chỉ cần chàng có chút sơ hở là ra tay hãm hại. Bao nhiêu người hóng được “tin vui” ấy liền mang quà cáp đến mừng, mượn cớ này cớ kia bày tỏ lòng thành kính, ngưỡng mộ… đều bị nàng mời về bằng sạch. Kim Nga không thể cùng Tư Tề vào triều, cũng không hiểu hết chuyện trên quan trường, những điều nàng làm được chỉ có giữ vững vương phủ này tránh xa khỏi tất cả thị phi, bè phái càng lâu càng tốt.

 

Dinh thự được ban cũng gọi là rộng rãi, không tráng lệ xa hoa nhưng không đến nỗi hai người chỉ có một phòng chia nhau. Thế nhưng vẫn là lề thói cũ, trong thư phòng của Tư Tề có kê một chiếc sập gỗ lớn để nàng có thể ngả lưng hay nhìn chàng đọc sách. Vươn người thổi tắt ngọn nến, Kim Nga cuộn mình trong tấm áo lụa, nằm gọn trong vòng tay chàng.

 

-Nàng không vui vì chiếu chỉ phụ hoàng ban xuống? – Chàng nhỏ giọng hỏi, ngữ điệu dịu dàng, ngón tay khẽ cuộn rồi lại duỗi lọn tóc đen của Kim Nga.

 

-Thiếp chỉ sợ chàng lao tâm tổn trí cuối cùng… người ta thí tốt giữ xe. Ý của hoàng thượng không phải càng ngày càng rõ ràng rồi sao? Đông cung kia không thuộc về chàng nhưng hà cớ gì lại lôi chàng ra đảm đương những chuyện của Hoàng thái tử? Làm không được cũng chết, làm được cũng chết. Cây to tất đón gió lớn, phải đứng mũi chịu sào. Thiếp lo là lo chuyện ấy.

 

-Vẫn là nàng nghĩ cho ta! – Chàng cười, nhận ra cánh tay ôm ngang người mình chặt thêm một chút. Kim Nga rúc sâu vào lòng Tư Tề, lặng thinh không nói nữa. – Ta sẽ không sao, nhất định sẽ không sao, nàng chớ lo lắng quá!

 

Thứ tình cảm của Kim Nga bao giờ cũng thế, thẳng thắn hệt như lưỡi kiếm của nàng, đã muốn đâm thì không chùn bước, còn đã không thì nhất định không xuất kiếm khỏi bao. Tư Tề ôm nàng vào lòng, hôn nhẹ lên mái tóc ấy, lặng lẽ nghĩ về tương lai. Thân là con trưởng, chuyện phụ hoàng đã giao nhất định phải hoàn thành nhưng luận công trạng từ thời nam chinh bắc chiến, lại thêm những việc từng qua tay những ngày làm giám quốc, không ít thì nhiều địa vị của chàng cũng dần được củng cố. Xét thế nào thì đây cũng chỉ là việc trước mắt buộc phải làm để giữ gìn an nguy xã tắc, so với những suy tính của Hoàng đế, càng lúc càng xa với mục đích ban đầu. Ý của người đã quyết về chuyện kế thừa đại thống tuyệt đối không thể thay đổi, nhưng những kẻ luôn ngờ vực sợ phạm đến kế hoạch đồ sộ tinh vi của mình giờ này chắc như đang ngồi trên đống lửa. Giả như chàng có thể học người ta hất tung tất cả, giả điên giả khùng, mũ ni che tai không màng thế sự thì hay biết mấy. Nhưng ai khiến Lê Tư Tề sinh ra đã là tướng quân, đã kinh qua trận mạc, đã trót biết giang sơn thái bình này có được đã phải đổi những gì, để nên nỗi giờ phải tận sức chèo chống, không dám phụ lòng những người nằm xuống. Hóa ra chàng cũng như Kim Nga, đều là những kẻ ngang bướng, đến cuối cùng vẫn nhất nhất giữ lấy bản ngã của mình dù biết trùng điệp trước mắt vô vàn trắc trở.

 

-Thiếp tin chàng! – Nàng đáp nhưng đôi mắt mở lớn chứa đầy ưu tư, lòng thầm đếm những ngày yên bình trời trong gió nhẹ còn được bao lâu.

 

Bình phong, chàng chỉ là một tấm bình phong không hơn không kém. Người được nâng niu giờ chưa đủ lông đủ cánh, nước nhà lại cần kẻ lo loan nên mọi việc dồn cả lên vai chàng. Vẻ vang lắm, giỏi giang lắm, tín nhiệm lắm! Được việc lúc này ắt sau thành họa. Trần Nguyên Hãn bị bức tử, Nguyễn Trãi cũng vào tù ra tội rồi bị quẳng sang bên. Những người có học giờ hữu danh vô thực. Mới hôm rồi đến lượt Phạm Văn Xảo – một công thần lừng lẫy đến thế – cũng bị xử tử vì cái tội mưu phản ở đâu rơi xuống đầu. Là ngẫu nhiên? Hay có người sắp đặt mà tất cả những người ủng hộ Tư Tề đều lần lượt ra đi theo cách này hay cách khác. Chiến trường năm xưa tiền hô hậu ủng, toàn quân một lòng. Còn giờ, chỉ có chàng đơn thương độc mã.

 

Tình yêu của Kim Nga hóa ra là vậy, xót xa để yêu người. Giả như Tư Tề áo gấm phong hầu, đường hoàng trở thành chủ nhân Đông cung, Kim Nga biết chắc nàng sẽ không yêu chàng đến vậy. Thậm chí có khi giờ này, nàng đã trốn biệt đến một nơi nào đó có núi, có sông, sống cuộc đời tự do như nàng từng xếp đặt lúc bố mang nàng đến gả vào nhà họ Lê. Kim Nga, Tư Tề, hóa ra điểm khởi đầu đều giống nhau cả, đều là những kẻ chỉ có một mình. Chàng đã có thể chọn quay đầu, chọn thoái thác để tự dứt mình ra khỏi cục diện chẳng mấy có lợi này. Nhưng cuối cùng Tư Tề lại chọn con đường thẳng về phía trước, biết là chết mà vẫn lao vào.

 

Mùa đông năm ấy, dù vụ án của thái úy Phạm Văn Xảo đã được xử xong từ đầu năm, người cũng đã chôn xuống đất, thế mà không hiểu thế nào khi Đèo Cát Hãn ở Mường Lễ làm loạn lại bị quàng thêm rằng, y dám khinh nhờn triều đình là bởi đã thông đồng với Xảo.

 

Khép cánh cửa sổ lại, Kim Nga châm lửa thắp lại ngọn nến trong phòng rồi tiếp tục công việc chuẩn bị của mình. Những ngón tay nàng lướt trên bộ áp giáp lạnh ngắt, đôi môi mím chặt lại, ánh mắt đăm đăm.

 

-Có phải lần đầu ta ra trận đâu mà nàng lại mang vẻ mặt như vậy? – Đặt cuốn sách xuống, Tư Tề khẽ nâng gương mặt Kim Nga lên để ngắm nàng cho kĩ, dịu giọng hỏi.

 

-Người mạn ngược có câu rằng: “Đường lên Mường Lễ bao xa. Trăm bảy mươi thác, trăm ba mươi gềnh”. Đó là chốn rừng thiêng nước độc, người ở chỗ thiếp cũng rất khác người dưới xuôi, những thứ như bùa ngải không thiếu. Huống hồ lần này chàng xuất binh lại là đi cùng Tư đồ Lê Sát. Người quen này… – Nàng cười nhạt rồi đưa tay vào trong bọc đồ của chàng, rút ra một chiếc kiềng bạc trắng vô cùng tinh xảo. Thứ này Tư Tề đã từng có lần trông thấy, là vào đêm hôn lễ của hai người lúc còn ở Lam Sơn.

 

-Bố của thiếp là kẻ cơ hội nhưng dù sao với thiếp, ông vẫn là thân phụ tốt. – Nàng đặt vật ấy vào tay chàng, chậm rãi nõi – Chàng lại là con rể quý của ông, chỉ cần chàng đưa vật này ra, có đôi lời chắc chắn ông sẽ tận tâm dốc sức. Nhà thiếp không có đại quân nhưng địa hình Mường Lễ cũng gọi là thân thuộc, những chuyện do thám, vẽ bản đồ, tìm đường tắt hay gài bẫy… đều có thể làm. Chàng cứ tùy ý sai phái người nhà của thiếp… Tư Tề, như năm xưa lúc chàng vào thành Đông Quan làm con tin, thiếp cũng chỉ xin chàng hai chữ “bình an”.

 

Đặt chiếc kiềng bạc lên bàn, chàng không nói không rằng kéo Kim Nga vào vòng tay mình, ôm chặt lấy thân hình ấy, nghe thật kĩ tiếng trái tim đập dồn của nàng. Gió luồn qua khe cửa hẹp lạnh buốt làm ngọn lửa rung rung. Bên ngoài, gió mùa Đông Bắc cuốn tung lá khô xào xạc.

 

 

 

-Vương phi, vương phi! – Giữa đêm đột nhiên ngoài phòng Kim Nga vang lên tiếng đập cửa gấp gáp.

 

-Chuyện gì? Ai vậy? – Nô tì theo hầu nàng thắp nến, mở cửa rồi sững người khi thấy một bóng áo đen bước nhanh vào phòng. Người này ăn mặc không giống người dưới xuôi nên làm con bé có phần sợ hãi.

 

-Pha trà. Đây là người nhà ta! – Nàng nói, ánh mắt nhìn thoáng xôn xao.

 

-Vương phi, không cần trà nước gì đâu ạ. Thần theo lệnh tù trưởng về báo tin cho người hay, việc của Quốc vương điện hạ không thuận, đến giờ vẫn chưa dẹp được Đèo Cát Hãn vì trong quân có chút khúc mắc.

 

Thả người xuống ghế, đôi mắt nhắm lại, nàng day day hai ngón tai quanh thái dương:

 

-Ta biết ngay là có chuyện mà. Điện hạ xưa nay cầm quân luôn rất vững vàng, sao một Đèo Cát Hãn có thể làm khó được người, kéo dài cuộc chiến đến tận lúc này kia chứ? Cụ thể là sao?

 

-Là Tư đồ Lê Sát cố tình dùng dằng, viện hết cớ nọ đến cớ kia, khi thì quân lương, lúc lại địa hình để trì hoãn. Tù trưởng đã ra mặt giúp sức cho điện hạ nhưng ông ta có ý không tin, nói rằng đây là chuyện của triều đình. Điện hạ sợ Tư đồ lại vin vào cớ này nói nhà mẹ đẻ của vương phi nảy sinh mưu đồ bất chính cho nên… Tù trưởng còn nói…

 

-Bố ta nói gì? Ngươi mau miệng lên! – Nàng vươn người về phía trước. Ngoài cửa, con bé nô tì đang đứng canh, hết nghiêng trái lại nghiêng phải.

 

-Thân phụ của vương phi có bảo thần chuyển lời tới người rằng, sợ lần này ý của Tư đồ Lê Sát là tạo thế trận tiến thoái lưỡng nan, buộc hoàng thượng thân chinh đánh dẹp. Như thế, uy tín của điện hạ nhất định sẽ lung lay. Chưa kể trong triều, không ít lần Quốc vương điện hạ dẹp sang bên ý kiến của những người thuộc phe Lê Sát, Phạm Vấn khiến họ găm hận trong lòng, lần này là họ quyết dùng chính điểm mạnh nhất của điện hạ để hạ uy tín của người.

 

Những lời ấy về sau đều thành thật cả. Giả như còn người bấu víu, giờ… ngoài giương mắt nhìn, tuyệt đối không thể động tay.

 

 

 

***

 

 

Lần ấy Hoàng đế thân chinh đánh dẹp quả nhiên thắng lợi, đổi Mường Lễ ra châu Phục Lễ, bức hàng được Đèo Cát Hãn và con trai y là Đèo Mạnh Vượng. Tuy khải hoàn về lại kinh sư nhưng rõ ràng Quốc vương Lê Tư Tề thất bại. Không cần ai phải lời ra lời vào, tự khắc Hoàng đế đã có cái nhìn khác về đứa con này. Dù hàng ngày chàng vẫn vào triều nhưng những lời tâu không còn được quan tâm như trước. Những người ở phe đối nghịch trước sự việc ở Mường Lễ còn một hai tỏ ra sợ cái uy của Tư Tề, sau lần ấy lật mặt hơn trở bàn tay, công khai giữa đại điện lớn tiếng đôi co với chàng. Những người có thể hiểu những kiến giải của Tư Tề không còn, chàng nói có đúng thì cũng vẫn chỉ là thiểu số, chẳng khác gì dã tràng se cát biển Đông.

 

Tư Tề càng ngày càng trầm lặng hơn lúc trước. Kim Nga cũng dần ít lui đến thư phòng của chàng hơn. Với người thân, với kẻ dưới chàng luôn rất hòa nhã nhưng dù sao chàng cũng là nam nhân, cũng có sự kiêu hãnh riêng của mình, hẳn nhiên không muốn để bất kì ai trông thấy dáng vẻ bất lực, u uất này.

 

-Vương phi, vương phi… – Con bé nô tì níu níu tay áo nàng, gọi khẽ.

 

-Sao kia? – Kim Nga giật mình nhìn xuống, con dao phay nắm hờ trong tay còn thần trí thì để đi đâu.

 

-Người cứ để đấy để chúng con làm nốt – Con bé cười khổ sở, cũng ngầm đoán ra tâm tư của nàng – Lệnh bà xem, người chặt hết vây cá rồi mà giờ lại thả con cá vào chậu nước, nó sống thế nào được nữa?

 

-Phải, nói cũng phải… – Đôi môi thoáng mỉm cười, ánh mắt nàng đăm đăm nhìn con cá trôi chìm dần trong chậu nước. Nó cố quẫy mình nhưng đâu còn có thể bơi được nữa.

 

-Vương phi, xin người… xin người lên nhà trên. Đức ông, đức ông đang nổi trận lôi đình! – Thằng bé hay đứng hầu ngoài cửa thư phòng Tư Tề ba chân bốn cẳng chạy xuống nhà bếp, thở không ra hơi mà vẫn cố nói, tiếng nào cũng ríu vào nhau.

 

Nàng bất cần đến lễ nghi, nâng cao chiếc váy lĩnh để guồng chân chạy cho mau. Mới cách phòng khách hơn chục bước chân đã nghe thấy tiếng chàng gầm lên giận dữ:

 

-Bị bắt quả tang mà ngươi còn dám cãi?

 

-Đức ông, không phải con, không phải con! – Có tiếng thút thít van xin. Kim Nga nhận ra đó là giọng của con bé nô tì từng theo hầu nàng nhưng sau vì thấy nó có chút gì không bình thường nên nàng đã điều chuyển nó đi làm việc khác.

 

-Ngươi còn dám già mồm. Chính ta đã nhìn thấy ngươi nấp ở bên ngoài nghe đức ông và lệnh bà nói chuyện. Ban đầu ta cũng chỉ nghĩ đám con gái các ngươi tọc mạch, ai dè nhân lúc đi chợ, ngươi lại xăm xăm đến phủ Tư đồ Lê Sát. Đời có lắm chuyện ngẫu nhiên đến thế?

 

Người đang nói chính là thân tín của Tư Tề, thường giúp chàng lặng lẽ quan sát mọi việc. Xem chừng từ lúc Kim Nga nói về những biểu hiện bất thường của con bé ấy, chàng thực sự rất lưu tâm.

 

-Ta và vương phi đối xử với ngươi không bạc, vậy mà ngươi dám làm vậy với nhà chúng ta? Giờ một con tiện tì cũng không coi ta ra gì nữa! Cái gọi là trung thực, trung thành cũng chỉ là đồ bỏ, đúng không? – Chàng cười lớn, lạnh lẽo đến rợn người.

 

Tiếng lưỡi kiếm miết vào lớp vỏ.

 

-Vương gia, xin người nghĩ thông! – Có tiếng người can lại.

 

Lúc Kim Nga bước vào phòng, đứa phản trắc ấy chỉ còn là một cái xác vô hồn. Lưỡi kiếm đâm trúng tim làm trào ra dòng máu đỏ thẫm. Ánh mắt chàng lúc ấy còn đáng sợ hơn trăm lần, vạn lần ánh mắt nàng từng thấy lúc trên chiến trường.

 

-Điện hạ! – Nàng chạy lại, hai tay níu lấy chuôi kiếm, từ từ tách từng ngón tay Tư Tề ra – Loại người này cần gì người phải trực tiếp ra tay?

 

-Là ả định bán đứng vương phi. Ban nãy, thần có hỏi lại vương gia vào hôm trước, tại thư phòng ngài và lệnh bà đã nói chuyện gì. Xem chừng, nếu cái tin chính lệnh bà chủ ý dùng người nhà mình giúp Quốc vương điện hạ trong lần thân chính đánh Mường Lễ lọt đến tai Lê Sát, thêm chút mắm muối nhất định sẽ thành nhà ngoại của người có mưu đồ thoán nghịch. Thảm án như với đại nhân Nguyên Hãn, Văn Xảo hoặc vào bị tống vào ngục như đại nhân Nguyễn Trãi rất dễ xảy ra. – Người áo đen lạnh giọng nói.

 

-Điện hạ biết chuyện giết người này nhất định sẽ truyền ra bên ngoài, nhất định sẽ ảnh hưởng đến người kia mà. Người hà tất… – Kim Nga quỳ xuống, lắc lắc tay chàng. Đôi môi nàng run run cất giọng hỏi.

 

-Ta là chồng nàng, đúng không?

 

Chuyện to có thể hóa ra nhỏ rồi thành không có gì. Nhưng chuyện nhỏ nhất định có thể xé ra to, làm ra một chuyện tày đình trời không dung, đất chẳng tha. Có lẽ đến tin đồn chốn phố chợ cũng chẳng lan nhanh đến thế. Ấy vậy mà chưa đầy một ngày, chuyện Quốc vương Lê Tư Tề giết bừa nô tì trong phủ đã lan ra khắp cấm cung. Chưa đầy một tuần đã lại có tin khẳng định chắc nịch rằng Quốc vương mắc chứng điên khùng nên mới lên cơn cuồng sát đến thế. Chàng vào cung thỉnh tội, quỳ trước cửa điện hết ngày này qua ngày khác nhưng Hoàng đế nhất định không chịu truyền gọi. Người ta không ai dám lại gần Tư Tề. Có người cho rằng chàng điên thật. Còn những kẻ tính táo hơn thì chẳng dại dột gì đụng vào một thân vương đang thất thế hoàn toàn trước bè phái của Lê Sát, Phạm Vấn.

 

Chim khôn chọn cành mà đậu”, cái lẽ năm xưa của bố Kim Nga giờ lại ứng nghiệm tiếp rồi…

 

 

 

***

 

 

 

-Cây trong vườn nhà chúng ta đến mùa nở hoa thật đẹp! – Kim Nga tay bưng khay trà, ngửa cổ nhìn vòm lá trên đầu điểm những đóa hoa màu hồng hồng, cánh nào cánh nấy mỏng tang tựa giấy, phơ phất trong gió, trong ánh sáng của một ngày êm dịu.

 

Những cánh hoa rơi đáp xuống mặt nước trong chén trà, rơi trên mặt bàn đá tạo ra những vệt màu điểm xuyết tươi đẹp, an nhàn, trong trẻo. Chỉ là phiến đá xám dùng làm bàn uống trà ngoài vườn nhưng được Tư Tề cao hứng vạch lên đó mấy đường để thành một bàn cờ tướng, nàng vẫn cho như vậy thật thú vị. Lặng lẽ ngồi xuống đối diện chàng, đôi mắt đen long lanh thoáng nhìn thế cờ đã sắp sẵn, nhìn từng quân cờ bị lấp dưới những cánh hoa mỏng. Cảnh tượng này không hiểu sao khiến Kim Nga mỉm cười.

 

-Trên bàn cờ này, ta là người chơi cờ hay là quân cờ bị người ta chơi, điều đi hết chỗ này đến chỗ khác? – Tư Tề ngẩng lên, nhìn nụ cười trên môi nàng, hỏi.

 

-Chàng là người chơi cũng được. Là quân cờ cũng được. Chỉ cần không phải thẹn với lòng mình thì là thứ gì trên đời cũng đâu còn quan trọng nữa?

 

Từ lâu tình phụ tử bị đổi ra nghĩa quân thần, Tư Tề đâu phải không hiểu, chỉ là cứ im lặng mãi, giữ chặt chúng trong lòng. Chàng không mong thế sự xoay vần bởi xưa nay chàng là người thực tế, tính khí của phụ hoàng sau bao nhiêu năm cùng chinh chiến nói Tư Tề không hiểu thì quả thật quá ngây thơ. Chàng chỉ mong… mong đúng những điều Kim Nga hay nói, chỉ có hai chữ “bình an”. Đế vị này chàng từng nghĩ mình tạm trông coi giúp Hoàng thái tử Nguyên Long cũng được, chỉ cần Hoàng đế ban chỉ, sẽ kính cẩn dùng cả hai tay dâng lên, vui vẻ lui về vị trí một thân vương của mình. Ý nghĩ đó thực sự rất ngây thơ, chàng có thể thực tâm nhưng không có nghĩa người ngoài sẽ tin hết.

 

Người ta cúi mình hô Hoàng thái tử thiên tuế nhưng trong bụng vẫn biết rõ đó chỉ là một đứa bé con. Người còn ham chơi, vẫn là một đứa trẻ thích gì làm nấy, giờ chỉ riêng việc học cũng đã là quá bận bịu huống hồ nói đến chuyện trị nước, an dân. Vị chủ nhân này không ít thì nhiều cũng khiến có kẻ thở ngắn than dài so bì với thời Quốc vương làm giám quốc, lo chuyện trong thiên hạ. Anh trai trưởng thành, địa vị không nhỏ khác gì cây cao bóng cả, đem so với một đứa trẻ chưa lớn mà lại được nhắm vào ngôi thiên tử, ai nặng, ai nhẹ không cần nói nhiều cũng đã đủ hiểu rõ. Hoàng đế đương nhiên nhìn xa trông rộng, biết rằng giờ đây mình còn tại thế, lòng dạ đứa con trưởng kia chưa thể lộ ra hết, ít nhiều vẫn phải kính sợ long uy mà không dám làm càn. Nhưng một mai người nằm xuống, quyền lực khuynh đảo thiên hạ ấy cũng những người ủng hộ Tư Tề liệu có để yên cho ấu chúa đăng cơ theo đúng di chiếu của ngài? Chuyện quyền thần ức hiếp vua nhỏ rồi cảnh bức cung đâu phải là điều xưa nay chưa từng có?

 

Âu tất cả cũng chỉ là một ván cờ giăng ngàn ngàn cạm bẫy. Tốt thí dùng xong tất bỏ sang bên, chỉ có quân tướng là quan trọng nhất.

 

Di chuyển những quân cờ trên mặt bàn đá, chàng khẽ cười, nhẹ tay nhấc những quân bị “ăn” lên, xoay chúng giữa những ngón tay rồi nhẹ nhàng xếp ngay ngắn sang bên cạnh. Gió thổi tới cuốn phăng những cánh hoa mỏng vương đầy trên bàn cờ.

 

-Thánh chỉ tới! Quốc vương điện hạ cùng gia quyến tiếp chỉ.

 

-Cuối cùng cũng tới rồi! – Tư Tề điềm nhiên đứng dậy, chỉnh lại y phục trên người, bàn tay chàng để mở đợi Kim Nga đặt tay mình vào.

 

Thuận Thiên năm thứ sáu (1433), tháng mười, Hoàng đế ban tờ sắc cho thiên hạ, đại thần, bá quan văn võ và quân dân rằng:

 

 

 

“Làm tôi phải trung, làm con phải hiếu, thế mà con trẫm là Tư Tề không trung hiếu với cha mẹ, ngược đãi quần thần, khinh nhờn trời đất, không theo đạo các đấng tiên vương. Nay giáng Tư Tề xuống chức quận vương. Vậy bố cao thiên hạ”[5].

 

Lại ban tờ chiếu rằng:

 

“Hoàng thái tử tuy hãy còn trẻ tuổi nhưng nổi tiếng hiếu nhân, ai ai cũng đều tin cậy, ngôi báu đáng về tay. Vậy trao ấn kiếm để trông coi việc nước thay trẫm”[6].

 

 

 

Để giết chết một dũng tướng không cần đến vạn tiễn xuyên tâm, càng không phải bằng nhục hình tra khảo. Uy nghiêm của một người thống lĩnh đại quân cuối cùng như tàn tro trước gió, vì đôi ba lời mông lung mà trắng đen đảo lộn. Chuyện nối chuyện như sấm giữa trời quang. Kim Nga thấy mình như chết đứng còn chàng muôn đời vạn kiếp vẫn bình thản như không. Những việc trong triều giờ chẳng đến tay Tư Tề nữa, lúc trước quá bận rộn, bây giờ lại quá an nhàn. Lật qua lật lại trang sách, chàng cười cười rồi kéo tay Kim Nga đứng dậy:

 

-Đi, đi luyện kiếm với ta!

 

Những ngày tháng cũ… Một con sông với tiếng sóng nước ì oạp vỗ bờ, mùi cỏ ngai ngái, cả một trời hoa gạo đỏ rực không lẫn dù chỉ một sắc xanh. Mây trời một dải phiêu diêu giờ chỉ còn là kí ức. Âm thanh lưỡi kiếm chạm nhau vẫn đanh, vẫn sắc nhưng chẳng còn thấy ai lanh lanh cất tiếng cười.

 

Mỗi lần vung kiếm, từng lời căn dặn năm xưa của phụ hoàng khi trao chức Quốc vương cho Tư Tề lại cứa mạnh vào tâm can. Nào là “đối với họ thân nên hết tấm lòng thân ái; đối với dân chúng nên ban chính sách khoan nhân”; nào là “đừng vì ơn riêng mà lạm thưởng, đừng vì cơn giận mà gia hình”…

 

Mỗi lần vung kiếm, gương mặt tĩnh lặng của chàng lướt qua như đâm một nhát ngập sâu vào trái tim Kim Nga, khiến bàn tay nàng run lên, đôi lông mày cau lại.

 

-Tướng quân, người quả nhiên là thiên hạ vô địch! – Kim Nga cúi gập người xuống, thở hồng hộc. Từng giọt, từng giọt nước mằn mặn lăn theo gò má, chảy xuống cằm.

 

Tư Tề chống thanh kiếm xuống đất, nhẹ nhàng nâng gương mặt nàng ngẩng lên. Nụ cười trên môi chàng nhạt đi một chút, ánh mắt thẫm lại. Những ngón tay khẽ khàng chạm lên từng giọt nước trong veo lăn trên má Kim Nga khiến chúng vỡ tan.

 

-Nàng khóc cái gì?

 

Mái tóc đen rung lên khi nàng lắc đầu rồi đột ngột vươn người ôm lấy bờ vai người đàn ông phía trước. Những ngón tay bấu chặt lấy lớp vải áo của chàng, Kim Nga áp nửa gương mặt lên bờ vai rắn rỏi ấy khiến tiếng khóc bị đè lại, chỉ còn là những âm thanh đứt gãy, rời rạc. Chẳng mấy chốc trên nền lụa xanh đã loang những vệt nước sẫm màu. Tư Tề xoa bờ vai nàng, không nói một tiếng, cảm thấy những giọt nước mắt trên vai mình cũng tựa như cơn mưa rào đổ xuống đất cằn.

 

-Rượu… thiếp muốn uống rượu.

 

-Được, ta uống với nàng.

 

 

 

 

Thủy đình trên hồ cá nhỏ lồng lộng gió thu. Nắng ngọt như mật. Mùi rượu thơm nồng.

 

-Đã không uống thì thôi, uống là phải uống theo lề thói nhà thiếp! – Kim Nga nhoẻn miệng cười, cho nô tì mang lên đôi bát sứ trắng.

 

-Vậy mà những lần phụ hoàng ban yến trong cung, nàng đều nói không uống được rượu! – Tư Tề nhìn cô gái nghiêng đầu rót đầy hai cái bát trước mặt.

 

-Lúc đó không thể làm chàng mất mặt được! Vương gia, kính!

 

Đôi mắt nàng lặng lẽ quan sát phu quân chậm rãi, đĩnh đạc nâng bát rượu lên ngửa cổ uống cạn, mỗi cử chỉ đều rất tao nhã, chừng mực. Rượu cay nồng nhưng hết chén này đến chén khác, càng uống chỉ càng làm người ta tỉnh ra.

 

-Chúng ta có thể bỏ hết không? Bỏ kinh thành, bỏ chức tước… Chàng có thể đến quê thiếp sống… cùng trời cuối đất cũng còn hơn là ở chỗ này. – Nàng nghiêng đầu cười cười, tựa cánh tay lên lan can gỗ, nhoài người nghển cổ để cơn gió thu thổi tới xoa nhẹ lên gò má nóng bừng.

 

-Nàng nhìn cố đại nhân Trần Nguyên Hãn đi, người đã xin về quê, xa rời kinh thành mà có thoát được đâu. Số phận này không bỏ được, lẽ nào cũng không bỏ được. Bỏ nó là từ bỏ bản thân mình. – Chàng vươn tay lấy một vò rượu khác, lại rót đầy.

 

-Thiếp đùa thôi. Chàng là tướng quân, chưa bao giờ đầu hàng hay thoái lui một cách hèn hạ. Có chết cũng phải chết thật hiên ngang. Rượu này để thiếp rót.

 

-Nàng uống đủ rồi. Rượu không giải quyết được gì cả! – Tư Tề không say, một chút cũng không say, giọng nói bình thản ngăn nàng nâng hũ rượu lên lần nữa – Kim Nga, lại đây.

 

Mái tóc đen dài nương theo gió bay bay. Nàng ngả đầu lên bờ vai ấy, từ từ, chậm rãi thưởng thức ánh tà dương buông xuống như muôn vạn lớp rèm mỏng, có tấm màu vàng, có tấm lại mang sắc đỏ điều, tấm màu cam, tấm lại màu lam tím. Một tiếng chim vỗ cánh bay cao trong ánh chiều sa xuống. Tựa cằm mình lên mái tóc nàng, Tư Tề hỏi:

 

-Đến giờ nàng vẫn muốn theo ta?

 

-Sao lại không theo? – Kim Nga ngước lên, mỉm cười – Lần đầu tiên nhìn thấy chàng mình mặc giáp trụ, thống lĩnh đại quân, thiếp đã biết chàng là nam nhi đại trượng phu của thiếp, là người có thể làm thiếp tự hào, kiêu hãnh.

 

-Nàng đang mỉa mai ta?

 

-Thiếp chọn theo chàng không phải vì chức tước, không phải vì tương lai. Giờ chàng đâu còn cả hai thứ ấy nữa. – Chạm ngón tay trỏ lên bờ môi ấy, nàng nhướn người, thì thầm vào tai Tư Tề – Thiếp chọn chàng… vì thiếp cần phải làm như thế.

 

 

 

***

 

 

Hoàng đế băng hà. Hoàng thái tử Lê Nguyên Long kế thừa ngôi báu, đại xá, đổi niên hiệu, lấy năm sau là năm Thiệu Bình thứ nhất. Tháng giêng ngay năm đó, có ba thị nữ chạy đến tâu với vua rằng: Quận vương nói nhiều điều càn bậy quái gở, tỏ ra không thuận. Hoàng đế nổi giận, bảo các văn võ đại thần và bá quan không được vãng lai đến nơi ở của Quận vương. Còn Quận vương nếu không có người tới gọi thì không được vào triều. Nếu ai dám tư tình dẫn vào cửa hoặc trăm quan có ai dám tự ý đến nhà Quận vương thì bị tội nặng.

 

Tháng năm, năm Thiệu Bình thứ năm (1438) phế truất Lê Tư Tề làm thường dân.

 

Năm năm tháng tháng, từ chỗ giam lỏng tách biệt với chuyện chính sự đến đây phải chăng đã là điểm kết? Chàng đã từng nổi giận. Nàng đã từng bật khóc. Nhưng đến những nước cờ cuối cùng ấy, cả hai đã cùng mỉm cười. Giờ chẳng còn ai là Quận vương Lê Tư Tề, càng chẳng còn ai là Quận vương phi Lý Thị Kim Nga nữa. Cuộc sống bình thường vẫn là tốt nhất.

 

Bố nàng từng sai người xuống tận Đông Kinh để ướm lời dò ý rằng, có cần ông cùng những người vẫn nuôi chí phụng sự Tư Tề ra tay với Nguyên Long hay không. Đó không phải là giết một đứa bé, trong kiếm pháp chính là lấy tấn công để phòng thủ. Bố còn nhắn với nàng rằng, thời cơ chỉ có một, nhân lúc Tiên đế không thể quản hết chuyện hậu cung, ngôi thiên tử chưa định thì phải xuống tay. Một chút chần chừ nhất định đổi lại không phải bằng nhà cửa, tài sản mà là mạng sống. Ta không diệt người, người tất diệt ta, ta không vì mình thì trời tru đất diệt.

 

“Lý Thị Nam, lời này là bố dốc hết gan ruột nói với con. Sau này giả như vì một chút do dự này của con mà cả vương phủ bị dồn đến bước đường cùng, thân vương bị bức tử, nhớ lại lời bố nói hôm nay, con nhất định sẽ hối hận! Con đường này muốn sống thì chỉ có một, nhất định phải giúp thân vương trở thành chủ nhân của giang sơn.” – Những con chữ ấy theo ánh lửa của ngọn nến trong chớp mắt chỉ còn lại một nắm tro tàn. Là ông cụ thương nàng, hay bởi nước cờ năm xưa hạ xuống giờ thành ra sai cả, lòng người không phục, vẫn muốn cố vớt vát đến cùng?

 

Cắp chiếc rổ con bên hông, thiếu phụ ngước mắt nhìn vòm trời thanh sạch sau trận mưa rào, thầm hồi tưởng lại quãng đời lúc trước, khi Thái Tổ Cao hoàng đế băng hà. Bầu trời ngày ấy với hôm nay hình như chẳng khắc nhau là mấy. Nàng là con dâu nên chỉ được đứng ngoài, nghe tiếng khóc xé lòng của những người bên trong tẩm điện bằng một vẻ đau thương giả dối. Nếu có đau, có lẽ chỉ vì dáng vẻ thất thần của chàng, vì một câu nói: “Kim Nga, phụ hoàng đi rồi!” mà thôi.

 

Nàng từng nhìn trời xanh hỏi rằng: “Hoàng đế, cuối cùng người đã có thể đứng ở một nơi cao hơn chín bậc thềm rồng để nhìn thấu hết những chuyện nông sâu chốn nhân gian. Người trả lời cho thần biết, giả như lúc này người nhận ra mình đã sai, giả như vì những chuyện đã sai hôm nay ngày sau còn sai hơn nữa, đứa con này của người, người chồng này của thần nếu có một ngày không sống nổi thì phải làm sao?”

 

Chẳng ai trả lời được câu hỏi ấy của nàng.

 

“Thần không sợ chết. Đến nước này thần chẳng còn sợ gì hết. Nhưng nếu để Tư Tề phải mang những vết nhơ ấy trên những trang sử rồi lặng lẽ chết đi thì thần không phục. Ngàn đời, vạn đời không phục!”

 

 

 

-Lần đầu tiên gặp nhau, chàng có nói với thiếp người dưới xuôi bảo chỉ cần cơm tẻ, rau muống luộc với mấy quả cà muối là có thể sống qua ngày, ăn không biết chán. Lâu rồi thiếp không xuống bếp, chàng thử xem. – Kim Nga dọn mâm bát ra chiếc bàn nhỏ dưới dàn hoa thiên lý rồi mỉm cười cúi xuống ôm lấy lưng chàng.

 

Đôi gò má ửng hồng trong cái nắng đầu hạ, dù đứng phía sau chàng nhưng ánh mắt vốn quen nhìn thẳng của nàng giờ nghiêng ngó đi đâu. Nàng ngập ngừng:

 

-Tư Tề, chúng ta… sinh con đi.

 

-Không! – Chàng lãnh đạm gạt bàn tay Kim Nga ra, rõ ràng đáp. Thân thể trong vòng tay nàng đột nhiên cứng ngắc, lạnh lùng.

 

Một chút sững sờ tỉnh táo lướt qua, nàng buông tay, nhỏ giọng nói rồi xoay người lui xuống bếp:

 

-Là thiếp nhiều lời, chàng đừng để bụng. Đợi thiếp một chút, thiếp xuống nhà bê nồi cơm lên.

 

-Kim Nga, nàng rời khỏi đây đi! – Tư Tề nhìn tấm lưng ấy, trầm giọng nói, từng lời đều không nhuốm dù chỉ một chút do dự, một chút lưu luyến.

 

-Chàng chán thiếp rồi? – Nàng ngoái lại, nụ cười lạnh nở trên môi.

 

-Phải.

 

-Chàng thực sự muốn thiếp đi?

 

-Phải.

 

-Được, nếu điều đó làm chàng thấy thoải mái thì thiếp đi.

 

Nàng không ưa khóc, cũng không nũng nịu dây dưa, không van xin, không thắc mắc, luôn quyết định nhanh như vậy bằng dáng vẻ kiêu hãnh nhất, tự chủ nhất. Ngày Kim Nga bước chân vào thế giới của Tư Tề chóng vánh thế nào thì ngày nàng ra đi cũng y như vậy.

 

Gian nhà nhỏ cuối cùng chỉ còn một người, một vò rượu, một cái bát rỗng.

 

…Nàng theo ta ngần ấy năm, hạnh phúc chưa hưởng được bao nhiêu mà khổ đau thì chồng chất. Ta chưa từng thấy nàng mặc những tấm áo bằng lụa thượng hạng, cài kim thoa lên tóc, chưa từng thấy nàng điểm trang cho giống những quý phu nhân của quan lại trong triều. Nàng vẫn bảo những chuyện ấy chỉ khi nào thực cần thiết mới cần làm để không làm ta bẽ mặt trước quần thần, còn giờ thế sự chưa yên, mấy chuyện phù phiếm đó chưa cần xét đến. Nhưng chữ “bình an” mà nàng mong chờ, sợ rằng chẳng bao giờ đến được nữa. Kim Nga, là ta không nỡ, cũng không thể buông tay nàng. Nhưng giờ đến thân ta còn không lo giữ được, sao dám đảm bảo cho mẹ con nàng những ngày yên ấm?

 

Tư Tề đã tính hết, tính cách để đẩy Kim Nga ra xa khỏi mình, đã lường cả đến ngày mình nằm xuống. Nhưng tính toán tinh vi đến mấy, thông tỏ đến mấy cũng không nghĩ được một sớm thức dậy đã thấy dáng hình đó ngồi sát cạnh mình. Đó là điều chàng sợ nhất.

 

-Ta bảo nàng đi, giờ về làm gì? – Chàng chống tay ngồi dậy, gương mặt rõ ràng không vui.

 

-Chàng nghĩ thiếp làm vợ chàng bao lâu rồi? – Nàng nheo nheo mắt nhìn, cười phá lên – Chẳng nhẽ thiếp không biết chàng là người không giỏi nói dối. Nói dối nhất định không dám nhìn mặt thiếp, nhất định sẽ to tiếng, ra vẻ cục cằn. Lê Tư Tề, chàng nghĩ mình lừa được thiếp chắc? Là thiếp chiều theo ý chàng, tạm rời khỏi nhà đôi ba hôm thôi. Giờ thiếp không về đây thì biết đi đâu bây giờ?

 

-Kim Nga, ta…

 

Lời nói chưa thốt ra hết thì ngoài cửa đã có tiếng truyền vào. Tư Tề khoác lại áo đứng dậy, mạnh tay đẩy nàng vào buồng trong, cúi xuống ra lệnh:

 

-Tuyệt đối không được lên tiếng, nhớ chưa?

 

-Nhưng…

 

-Ta là chồng nàng, ta nói nàng dám không nghe? – Tư Tề nghiêm mặt nhìn rồi khép cửa lại.

 

Cái giọng eo éo nam không ra nam, nữ không ra nữ đó chắc chắn là của một viên thái giám trong cung. Nói xong đôi ba câu chuyện nhạt nhẽo cuối cùng họ cũng ra về. Kim Nga nghe ngóng một hồi rồi đánh bạo đẩy khẽ cánh cửa, qua khe cửa hẹp thấy Tư Tề ngồi lặng đi bên một bình rượu ngọc đựng trong khay gỗ khảm trai, tấm vải nhiễu đỏ phủ lên trên được vo tròn, quẳng sang một phía. Hóa ra tất cả những điều nàng nghe tiếng được tiếng mất đều là thật, là Hoàng đế ngự ban mỹ tửu?

 

Nụ cười bình lặng lướt qua môi, chàng ngắm nghía nước men xanh màu ngọc quý rồi từ tốn nâng chén rượu lên. Nhưng miệng chén chưa đến môi, một bàn tay đưa ra thô bạo toan giằng lấy.

 

-Nàng buông ra! – Chàng gằn từng chữ.

 

-Thiếp không buông! – Kim Nga lớn tiếng nói lại – Chén rượu này… mười phần chết chín. Thiếp là người được chàng đàng hoàng cưới về, danh chính ngôn thuận. Sống thì cùng sống, chết thì cùng chết. Thiếp theo chàng đến lúc này đã luôn nghĩ có thể nắm tay đi đến cuối cùng đã là viên mãn.

 

Đôi lông mày của chàng dãn ra vẻ như mệt mỏi lắm, Tư Tề buông tay để chén rượu rơi xuống đất vỡ tan, trầm giọng nói:

 

-Sao nàng nhất nhất bướng bỉnh như vậy? Là ta không có gì để cho nàng.

 

Đôi mắt đen hoảng hốt dần dịu lại, nàng lắc đầu, chậm rãi nói:

 

-Chàng nói sai rồi. Chàng đã cho thiếp một cuộc đời đủ mọi phong vị. Chàng nói xem, dưới gầm trời này, có người phụ nữ nào hạnh phúc được như thiếp hay không? Năm xưa khi chàng trở về từ thành Đông Quan, thiếp đã từng nói…

 

-… sẽ ở bên ta đến khi nào ta chán ghét nàng thì thôi! – Chàng lặng lẽ tiếp lời, để mặc cho Kim Nga nắm chặt lấy tay mình. Từng chút, từng chút một Tư Tề muốn kéo mạnh nàng vào vòng tay, không để nàng đi đâu nữa nhưng lòng lại phải nhủ thầm: tuyệt đối không, tuyệt đối không được mềm lòng.

 

Đôi mắt đỏ hoe ngân ngấn nước nhìn người đàn ông trước mặt, Kim Nga vừa nói vừa cười:

 

-Giờ chàng có chán ghét thiếp, thiếp cũng sẽ không buông. Người dưới xuôi chẳng phải có câu một ngày cũng nên nghĩa vợ chồng sao?

 

-Ái thiếp của ta sao lại bướng đến vậy? – Tư Tề cười khổ, đưa tay gạt đi những giọt nước mắt lã chã rơi xuống từ khóe mặt nàng – Chắc bố nàng hận ta lắm, lại lẩm bẩm bảo biết trước thế này thì đã đem nàng gả cho người khác.

 

-Biết trước thế này thì thiếp sẽ xin bố đến gặp chàng sớm hơn. Mà kể cũng may, đúng là trong cái rủi có cái may.

 

-May gì? – Chàng nhất thời không hiểu.

 

-Vì chàng thất thế nên không lấy thêm vợ lớn vợ nhỏ nào nữa, để thiếp một mình độc chiếm chàng.

 

-Nàng đúng là, bao năm rồi vẫn giọng điệu ấy.

 

Chàng cười nhẹ, cúi xuống hôn lên đôi môi ửng hồng của Kim Nga, hôn qua cả những giọt nước mắt trên đôi gò má ấy rồi nhanh tay cầm lấy bình ngọc trên bàn, uống ừng ực. Chỗ rượu còn lại trong bình, chàng cũng  thẳng tay hất xuống đất.

 

Âm thanh vỡ choang ấy làm nàng chết đứng, thấy toàn thân mềm nhũn. Kim Nga lạc giọng nói, đôi mắt mở trừng trừng:

 

-Chàng… chàng làm gì vậy?

 

-Hiền thê chung tình. Quân vương sáng suốt. Ta còn gì để hối tiếc nữa? – Tư Tề ngửa cổ cười lớn – Rượu ngon. Rất ngon. Nhưng riêng thứ này ta không cho nàng uống.

 

Cả thân hình vạm vỡ thoáng run lên rồi khuỵu xuống. Kim Nga loạng choạng dùng cả hai tay đỡ lấy bờ vai Tư Tề, thấy phía trước cả một làn nước nhòe nhoẹt liền vội chớp mắt, cúi thấp xuống. Dải lụa trên mái tóc buông rơi làm từng sợi tóc đen óng xõa xuống bờ vai thon, đung đưa trong cơn gió nhẹ.

 

-Kim Nga… cuối cùng… cuối cùng… ta tưởng… mình… mình không… còn gì cả… – Tư Tề thở dốc, cố vươn tay chạm lên gương mặt xinh đẹp đẫm lệ của nàng, nhoẻn cười – Hóa ra… vẫn… còn nàng…

 

-Chàng còn Kim Nga, chàng còn thiếp mà! – Hơi thở nóng hổi của nàng phả lên nước da, lên đôi mắt ấy gấp gáp, níu kéo. Bàn tay run rẩy áp những ngón tay quen thuộc kia lên gương mặt nhòe nước của mình.

 

-Phải, là ta… còn nàng! Nếu… còn có… kiếp sau…

 

-Nếu còn có kiếp sau thì sao?

 

Nước mắt rơi xuống, lăn qua khóe môi đang cười của thiếu phụ nhưng đôi mắt bao nhiêu năm lặng lẽ nhìn theo nàng không bao giờ mở ra nữa.

 

 

 

 

 

Chiều tàn, trăng lên. Trong tiếng ếch nhái, tiếng côn trùng đập cánh có những tiếng bước chân rất khẽ trên nền đất.

 

-Ngươi là ai? – Ánh sáng từ ngọn nến leo lét được thắp lên làm đám người nhận ra trong căn nhà yên ắng vẫn còn một người đang sống.

 

-Các người đến lượm xác chàng? – Người phụ nữ trẻ cười nhạt, lặng lẽ hỏi khi nhác trông thấy màu áo của nội quan trong cung trên người những kẻ đứng trước mặt mình.

 

-Ngươi là ai?

 

-Là ai à? Là vợ chàng. – Nàng cất tiếng cười lanh lảnh trống rỗng mà sắc tựa thanh kiếm đặt trên bàn – Sao? Xuống tay đi chứ còn chờ gì nữa, ta không chống cự đâu. Quân xử thần tử, thần bất tử, bất trung. Phụ xử tử vong, tử bất vong, bất hiếu[7] kia mà.

 

Năm xưa, Kim Nga đã có thể bóp chết thằng bé đó nhưng đến những khắc cuối cùng, nàng vẫn chùn tay. Là nàng không dám, là nàng không nỡ. Cả Kim Nga và Tư Tề đều tin ở cái gọi là tình thân, ở một chữ “trắc ẩn”. Nhưng hóa ra đều là lầm cả. Hoàng đế nào có chữ ấy trong lòng.

 

“Tư Tề, thiếp không cần, càng không tin vào cái gọi là kiếp sau nên chàng phải đợi thiếp, nhất định phải đợi thiếp, đợi… Kim Nga đến… gặp chàng…”

 

Những lơi ấy theo gió ngoài bãi sông truyền đến, thì thầm như mơ, như thật.

 

Tháng năm, năm Thiệu Bình thứ năm (1438) phế truất Lê Tư Tề làm thường dân, sau đó ông mất. [Hoàng đế tức Lê Nguyên Long] Truy phong [ông] là Quận Ai vương.

 

Sinh thời, Quận Ai vương chỉ lập một đích phu nhân là Lý Thị Kim Nga. Sau khi vương bị giáng làm dân thường, không ai rõ vương phi đã đi đâu.

 

Sử sách đến đây không chép nữa.

 

 

 

 

***

 

 

 

-Này thì quân vương, này thì quang minh chính đại, này thì tiếng thơm muôn thuở, ta nhổ vào. Người chết là đáng lắm, chết hay lắm[8]. Bức tử anh trai rồi cuối cùng nhận lấy hậu quả cũng chẳng hay ho gì. Ta cuối cùng đã đợi được đến ngày này. Ta không đòi vương vị, ta không đòi quyền thế, ta chỉ hỏi một lẽ công bằng…

 

Từ khóe mắt in hằn những vết chân chim trào ra một hàng nước mắt lăn xuống nước da đồi mồi. Mụ lớn tiếng chửi rồi cười dài trong tiếng khóc. Thiếu nữ lặng lẽ nghe, lặng lẽ nhìn nhưng không nói một tiếng nào. Những lời người đàn bà điên đó nói nàng có thể hiểu hết nhưng tìn đến đâu lại là việc khác. Có điều, hẳn nhiên như nó phải thế, cùng một chuyện không phải ai cũng có những cách nhìn giống nhau. Tầng tầng lớp lớp những trùm phủ, những mưu toan, thật thật, giả giả, giá như không bước đến, giá như có thể làm một đôi phu phụ bình thường dệt vải, thả cá bên sông thì hay biết mấy. Nhưng đời người vốn không có chữ giá như… Những chuyện đã qua cũng như âm thanh của sợi dây đàn, đã vang lên, đã in vào lòng người thì không cách nào vãn hồi trở lại.

 

-Ta kể cho ngươi nghe chuyện của ta rồi, ngươi phải trả giá cho ta – Mụ nghiêng người về phía cô gái, lạnh nhạt nói

 

-Người muốn gì?

 

-Giết ta. Ngươi yên tâm, ta không oán thán, ngươi cũng không mang danh giết người. Là ngươi tạo phúc, là ngươi giải thoát cho ta.

 

Ánh trăng lọt qua vết thủng rộng ngoác trên tấm liếp làm cả gương mặt bình lặng như nước hồ thu của thiếu nữ hiện ra trọn vẹn, đẹp đẽ, trinh nguyên nhưng giá lạnh. Phải nhìn kĩ lắm mới thấy nơi đáy mắt chút sóng sánh ẩn tình.

 

-Người còn cần cháu làm gì nữa không? – Nàng chậm rãi, lịch sự nói.

 

-Mang xác ta… đến chôn cạnh mộ phần của chàng.

 

Thiếu nữ trầm ngâm suy nghĩ một hồi, hàng mi rủ xuống như một tấm rèm mỏng:

 

-Vậy người phải để cháu thu xếp hẵng, phải tìm ra chỗ chôn cất Quận Ai vương rồi cháu sẽ giúp người toại nguyện. Giờ cháu phải về!

 

-Ta tin ngươi! – Mụ nhìn theo bóng áo lụa hư hư thực thực ấy lướt qua mặt, thật tình cất lời – Ta chỉ không hiểu tại sao ngươi lại muốn nghe chuyện của ta. Những điều ta nói nhỡ là dối trá thì sao?

 

-Chuyện đã qua, người đã chết, cho là quan trọng thì là quan trọng, cho là gió thoảng mây bay thì là gió thoảng mây bay. Chỉ có chân tình là không thể làm giả. Cháu là đào nương, muốn nghe nhiều chuyện chốn dân gian là mong có ngày tấu lên những khúc nhạc có thể làm giang sơn nở hoa, cũng có thể làm đất trời đổ lệ, vậy thôi! – Nàng cười nhẹ, giọng nói cất lên nghe cũng trong veo, mỏng mảnh như tấm lụa trắng phơ phất dưới trăng.

 

-Ngươi chơi đàn gì?

 

-Là độc huyền cầm!

 

-Độc huyền cầm, chỉ một dây đàn – Mụ ngẫm nghĩ một hồi rồi cười lớn – Ranh con, hợp với ngươi lắm. Ta đợi ngươi quay trở lại.

 

 

 

 

Y như lời hẹn, độ mười ngày sau cô bé trở lại căn chòi đó, thu xếp để đám trẻ ăn mày không lai vãng xung quanh rồi tỉ mẫn giúp người phụ nữ chải đầu, vấn tóc, mặc một bộ đồ lụa mới.

 

-Sao ta cứ có cảm giác ngươi trì hoãn rồi làm tất cả những việc này là để ta cảm thấy mình nên sống tiếp? – Mụ ngoái đầu lại, ánh mắt nhìn thẳng vào gương mặt của thiếu nữ.

 

-Bị người nhìn ra rồi – Con bé không né tránh, nhoẻn miệng cười.

 

-Sống là tốt. Ta cũng mong ngươi không bao giờ rơi vào hoàn cảnh như ta, để đến nỗi cảm thấy sống là một gánh nặng, chết đi thì tốt hơn. Xong rồi đấy, quãng đường còn lại, phiền ngươi giúp ta.

 

Lưỡi kiếm mảnh lóng lánh trong ánh sáng, thiếu nữ đứng dậy, chĩa mũi kiếm về phía trái tim người đàn bà, ánh mắt không chút lay động.

 

-Ta không nhớ ở giáo phường người ta có dạy các cô đào dùng vũ khí!

 

Mụ liếc mắt nhìn cô gái rồi lao mình đến mũi kiếm của nàng. Máu loang ra trên nền lụa hệt như một đóa phù dung đỏ thẫm. Mụ ngẩng lên cười:

 

-Ngươi là một đứa bé ngoan nên ta không muốn mới từng này tuổi bàn tay đẹp đẽ thế này của ngươi phải nhuốm máu. Phu quân ta cũng luôn nói thế, người không muốn ta phải cầm kiếm, phải giết người. Chàng bảo… chàng bảo đó là việc… của tướng quân, của người chồng… Là ta tự tìm đến cái chết. Không liên quan đến ngươi, nhớ chưa?… Cuối cùng… Kim Nga cũng đến… tìm người rồi…

 

-Vương phi, xin vĩnh biệt! – Cô gái đưa tay vuốt mắt cho người phụ nữ, thì thầm.

 

 

 

***

 

 

 

 

Cả một đời người ba chữ: “thiếp yêu chàng” chưa bao giờ Lý Thị Kim Nga nói ra. Đến lúc nhắm mắt, chỉ có một câu rằng: “Thiếp theo chàng. Cùng trời cuối đất cũng theo chàng!”.

 

Gió thổi vi vút. Mây bạc trùm qua trăng làm ánh sáng chiếu xuống mặt đất mờ đục tựa như những bóng ma vất vưởng. Bên ngôi mộ đã xanh cỏ là một nấm mồ mới đắp. Hương khói như tơ vấn vít rồi tan ngay trong không khí. Vang lên đâu đây là tiếng đàn độc huyền cầm. Không như nước chảy, không ai oán, không than thở, chỉ có một nỗi trầm buồn mà nhắm mắt lại thấy hiện ra một màu lam thẫm thẳm sâu. Từng nốt, từng nốt rung lên rồi ngân ra mãi trong tứ bề, mang vẻ ma quái tịch mịch.

 

Đàn dừng, tiếng đứt, hương khói cũng tan.

 

Người không còn thấy đâu nữa.

 

 

 

.: HẾT :.


[1] Bản dịch của Ngô Tất Tố

[2] Theo Đại Việt sử kí toàn thư (tập 2)

[3] Trần Nguyên Hãn là dòng dõi tôn thất nhà Trần, là cháu (miêu duệ) của Thái sư Trần Quang Khải, là cháu nội Đại tư đồ Trần Nguyên Đán. Ông là con cô con cậu hoặc anh em con cô con bác đối với Nguyễn Trãi.

[4] Theo Đại Việt thông sử – Lê Quý Đôn

[5] Theo Đại Việt thông sử – Lê Quý Đôn

[6] Theo Đại Việt thông sử – Lê Quý Đôn

[7] Nghĩa là: Vua xử thần chết, thần không chết là bất trung. Bố xử con chết, con không chết là bất hiếu.

[8] Ám chỉ việc Lê Thái Tông (tức Lê Nguyên Long) qua đời năm 1442 tại Lệ Chi Viên khi mới 20 tuổi, không rõ lý do cái chết.

19 thoughts on “[Truyện ngắn] Quân cờ (3)

  1. Pingback: [Truyện ngắn] Quân cờ (1) « isis's world

  2. Pingback: [Truyện ngắn] Quân cờ (2) « isis's world

    1. isis-chan Post author

      Cảm ơn bạn vì chữ “bạc bẽo” – đó chính là cảm tưởng của mình khi đọc sử xoay quanh nhân vật Tư Tề, và cũng vì chính cảm giác đó khiến mình viết về người đàn ông này.

    1. isis-chan Post author

      Cảm ơn bạn vì sự đồng cảm với nhân vật và cốt truyện của mình dù nói thực là lúc viết mình không chủ ý làm ai cảm động đến mức phải khóc hết :”>

  3. bachyencongtu99

    Quyền lực, danh phận, địa vị cũng chỉ là phù du, hoa trong gương, trăng trong nước. Vậy mà lại có những kẻ vì nó mà vứt bỏ cả tình phụ tử, tình huynh đệ, vì nó mà chà đạp lên nhiều sinh mạng con người. Đọc truyện của bạn, mình thật sự vừa cảm thông, vừa uất ức cho số phận bi thảm của người anh hùng.
    Với Lê Tư Tề, mình nghĩ nên nói rằng bất công chăng, mình thật sự rất ghét lê lợi- người được cả dân tộc biết ơn, ông ta có thể hy sinh cả cuộc đời con trai mình, biến con trai mình thành quân cờ, thành tấm bình phong, thành cái cớ để răn đe kẻ khác, thật đáng khinh!
    Cảm ơn câu chuyện của bạn, rất hay và ý nghĩa, lại giúp mình có thêm kiến thức và cái nhìn mới về kịch sử nước nhà.

  4. bachyencongtu99

    Bàn cờ chính trị thật vô cùng đáng sợ, trong đó mỗi con người đều là những quân cờ, số phận, danh dự, nhân phẩm và cả gia đình họ đều bị lợi dụng, bị chà đạp và khi đã hoàn thành nhiệm vụ của mình thì sẽ bị triệt tiêu.
    Có lẽ Tư tề cũng nhận ra bản thân mình cũng là một con cờ, nhưng ông cam chịu số phận, ông hoàn thành trách nhiệm của mình với dân, với nước để rồi cuối cùng phải mất tất cả, mất danh dự, mất quyền lực, lại bị vết nhơ muôn đời khó rửa sạch mà vẫn không oán thán
    Còn Lê Thị Kim Nga, cô vùng vẫy, chống lại số phận nghiệt ngã, cô căm hận kẻ đứng đầu một triều đại, cô oán trời, oán người nhưng cuối cùng vẫn không thể thoát khỏi vòng xoáy ấy.- vòng xoáy quyền lực đã nhấn chìm cả cô và Tư Tề, đẩy họ đến cái chết như một sự giải thoát.

    1. isis-chan Post author

      Trong chính trị như các thầy ở trường mình nói thì không có đúng sai hay trắng đen, chỉ có người thắng kẻ thua, chính trị là một lời nói dối. Thân đã sinh ra trong nhà đế vương, lại dính đến chuyện triều chính, bối cảnh lịch sử khá đặc biệt thời Lê Sơ (có những tranh đấu phe phái trước cả khi lấy lại được Đại Việt) nên cái chết của Tư Tề lẫn Kim Nga thực sự cũng hợp lý thôi. Mình khi viết Quân cờ thuần túy chỉ vì cảm thấy không phục: không phục chuyện Lê Lợi truyền ngôi cho Nguyên Long, không phục những gì sử gia chép về Lê Tư Tề, không phục cái chết bí ẩn của nhân vật này, không phục vì anh ấy mất tất cả. Nhưng như mình lý giải rồi, Tư Tề không thể trở thành Hoàng đế một phần chính vì cung cách làm việc, quan điểm trị nước của anh trái ngược với những gì những khai quốc công thần trông chờ. Những quyết định ấy, đường hướng ấy của Tư Tề ảnh hưởng đến họ nên họ cô lập và hạ bệ anh để tự bảo vệ mình. Khoảng cách tuổi tác của Nguyên Long và Tư Tế quá lớn nên nói thật cái gọi là tình nghĩa anh em mình cũng thấy nghi ngờ lắm, chỉ cảm thấy chuyện Nguyên Long cô lập anh trai mình, rồi giáng làm dân thường thực sự hơi bị thái quá. Còn mình, mình bức xúc về quan hệ Lê Lợi – Tư Tề hơn. Đứa con này là con ruột của Thái Tổ, cùng người nam chinh bắc chiến như vậy, nếu nói người không hiểu con mình để rồi đi đến những quyết định như thế thì quả thực số của Tư Tề quá thảm. Đọc những đoạn trong chính sử như “trên khinh nhờn trời đất, bất hiếu với cha mẹ”… mình thực sự thấy rất xót ý.

      Bản thân Tư Tề mình xây dựng là người đã từng tranh, từng không phục Nguyên Long. Hẳn nhiên thế vì anh có kinh nghiệm, có vị thế, hơn hẳn đứa em trẻ con. Nhưng điểm mình thích nhất ở cả Tư Tề lẫn Kim Nga chính là, họ không để những cái tranh địa vị đó làm mờ đi sự tỉnh tảo. Họ nhìn quá rõ số phận đã an bài nên không cố chống lại, chỉ cầu hai chữ “bình yên”. Cả Kim Nga lẫn Tư Tề đều không cam chịu. Tư Tề không chống Nguyên Long vì biết võ tướng theo phe đứa em này, phụ hoàng cũng theo đứa em này, tương quan lực lượng là không cân bằng. Hơn nữa đất nước mới lấy lại, nội bộ hoàng tộc tranh cướp nhau tất sẽ loạn. Đó chính là điểm trưởng thành của Tư Tề. Còn Kim Nga, cô ấy thẳng thắn, mạnh mẽ. Nếu là cô ấy của trước đây, dám là sẽ giết Nguyên Long thật nhưng Lý Thị Kim Nga là vương phi thì không làm thế. Cô ấy đã nói rồi, cô ấy không dám giết người, không nỡ giết một đứa bé con vô tội vì cuộc đấu đá này đơn thuần là người lớn xếp đặt để anh em đối đầu nhau. Chính vì những thủ đoạn chính trị mưu cầu vinh thân phì gia của mấy vị đại thần, Kim Nga từ chỗ được gả đến vì mục tiêu chính trị y như Phạm Thị Ngọc Trần, cuối cùng điều chị ấy chọn là nội dung mình muốn nói: một tấm chân tình không thay đổi.

      Cảm ơn bạn đã dành thời gian đọc truyện lảm nhảm của mình nhé!!!

  5. bachyencongtu99

    Mình thấy đối với Tư Tề như vậy là không công bằng, ngày xưa người ta coi trọng chữ trung, chữ hiếu vậy mà lời bố cáo thiên hạ lại là khinh nhờn trời đất, bất trung, bất hiếu lại không có bằng chứng rõ ràng khiến anh ấy sống không bằng chết, mất cả danh dự lẫn địa vị. Còn vế việc Tư Tề không được lên ngôi mình cũng nghĩ như bạn, có thể là cách làm việc của anh ấy không phù hợp nên lê lợi không chọn, có lẽ ông cũng đã suy nghĩ trăn trở nhiều. Nhưng mình cũng không đồng ý với cách đối xử của ông với các công thần như Trần Nguyên Hãn hay với chính con ruột mình. Dù vậy cũng không thể phủ nhận công lao của lê lợi với nước nhà, nhưng đây có lẽ là một vết nhơ của ông, của cả một triều đại mà không thể xóa mờ.

  6. bachyencongtu99

    Còn về Lý thị kim nga, mình nghĩ trên đời này không ai không mưu cầu bình an, hạnh phúc, chỉ có điều đối với họ thế nào mới là hạnh phúc mà thôi. Nhưng là một quân cờ chính trị, chị ấy không thể có cuộc sống hạnh phúc như một đôi phu phụ bình dân, bên người mình yêu đến chọn đời. Chị ấy cũng không mưu cầu địa vị hay quyền lực, chỉ cầu chữ công bằng mà cũng không thể.
    Nhưng mình cũng rất cảm động trước tình yêu của chị với chồng, tình yêu ấy không diễn tả bằng lời mà bằng hành động, thấu hiểu và cảm thông, chia sẻ. Mình nghĩ có một người vợ như vậy, đối với Tư Tề cũng được coi như là mãn nguyện rồi.
    Đây là một vài suy nghĩ lảm nhảm của mình, cảm ơn và chúc bạn sẽ tiếp tục viết những câu chuyện lịch sử nhiều hơn nữa.

  7. Minh

    Mình lại nghĩ Lê Lợi làm thế là đúng. Vì lịch sử chứng minh những trường hợp anh em lên ngôi không theo thứ bậc như thế sẽ dẫn đến giết nhau, như con trưởng Nghi Dân giết Bang Cơ, rồi người mạnh hơn vẫn giết người có nguy cơ ảnh hưởng đến mình như Tư Thành giết Khắc Xương, cùng những trường hợp khác trải dài trong lịch sử. Lê Lợi lựa chọn Nguyên Long vì lý do gì đi nữa thì cũng đã được sự ủng hộ của đa số, để Tư Tề nắm binh quyền hay giữ cả một vùng đất, dù Tư Tề không có ý phản thì người ta cũng không để yên.

    Loại bỏ tất cả quyền hành, chức tước lẫn uy tín của Tư Tề thật ra là Lê Lợi chừa cho con đường sống, không ai chấp hay còn nuôi ý định lợi dụng nào với “người điên”. Nhưng hoặc là Tư Tề không chịu an phận, hai là Nguyên Long quá tuyệt tình quyết phải trừ người anh này bằng được. Về cách giải quyết Tư Tề, mình cảm thấy phục Lê Lợi vì ông quá khôn ngoan, chỉ tiếc là những đứa con của ông lại không chịu tha cho nhau. Trong lịch sử thì mình nghiêng về giả thuyết Tư Tề không chịu yên phận, vì con đường Lê Lợi mở cho Tư Tề quá lớn rồi, cứ thế mà bình thản sống tiếp cũng không ai có lý do đụng tới, nhưng chắc không ai đã từng nam chinh bắc chiến mà chịu mang danh “người điên” sống tiếp.

    Lê Lợi với Tư Tề từ ngoài nhìn vào bảo tuyệt tình, nhưng đó là cách tốt nhất có thể làm trong trường hợp của ông. Con nào cũng là con, chưa chắc Tư Tề lên ngôi sẽ không diệt Nguyên Long, đứa nào giết đứa nào cũng bi thảm như nhau, mà nếu xảy ra đánh nhau thì đất nước còn non trẻ sẽ sụp đổ. Cách tính của Lê Lợi nhìn rất xa, có tâm có tình, rất hợp lý chứ.

    1. isis-chan Post author

      Câu chuyện này chỉ là cách nhìn của mình về nhân vật, về những tình tiết hiện thực trong lịch sử chứ không phải lịch sử. Giả thuyết bạn đưa ra cũng có nhiều người đồng tình như vậy. Còn Quân cờ là giả thuyết của mình về những gì đã xảy ra, nó xây dựng trên những cảm giác của mình khi tìm hiểu về Lê Tư Tề. Mình vẫn nghĩ ở giữa những sự kiện được chính sử, giai thoại ghi chép lại luôn có rất nhiều khoảng trống ở giữa để những người viết có thể thoải mái thể hiện tư tưởng, cách xây dựng nhân vật của mình. Mình cũng thế, dựa vào những sự kiện có thật cùng với tính cách của Lê Tư Tề mình xây dựng, mình chỉ cố đưa đến cái logic và suy nghĩ của bản thân mình thôi.

      Mình có thể hiểu được lý do, căn nguyên Lê Lợi chọn Lê Nguyên Long làm Hoàng thái tử ngay từ lúc ngài đặt tên cho đứa con này là Nguyên Long. Ngài cũng chọn NL vì phe võ tướng đang thắng thế lúc đó phò tá đứa con thứ này thay vì phò tá Lê Tư Tề. Chuyện triệt hạ danh dự, quyền binh của con trưởng để bảo vệ ấu chúa đăng cơ an toàn là chuyện chính trị và nó có logic của nó, không phải chuyện giời ơi đất hỡi. Nhưng từ việc hiểu những điều ấy về mặt lý trí đến sự chấp nhận, phục hay ca ngợi về mặt tình cảm là khác nhau. Với mình, vào thời điểm mình viết Quân cờ, mình không phục cách gán cho Lê Tư Tề tội cuồng điên trong khi trong thời gian giám quốc, người này không gây ra điều tiếng gì. Cũng chẳng có bằng chứng nào nói anh ta là bất trung bất hiếu. Việc Lê Tư Tề không có được lòng các võ tướng như Lê Sát, Lê Ngân… có nhiều lý do, không bàn đến lý do mình luận giải trong phạm vi truyện ngắn này, việc một người con trưởng đối đầu với chính những người giúp cha mình có được giang sơn để rồi không được lòng là một chuyện về mặt chính trị mà nói là không khôn ngoan. Với Lê Lợi, rất có thể chi tiết đó làm ông cảm thấy không thể giao Đại Việt cho đứa con trưởng của mình.

      Chuyện nếu Tư Tề lên ngôi liệu có giết em hay không thì mình xin phép không bàn vì lịch sử không có chỗ cho từ nếu, không thể dựa trên chữ nếu với một loạt những việc không hề xảy ra để đi đến kết luận về một con người. Hơn nữa, như trong lịch sử, trường hợp con trưởng lên ngôi theo đúng phép tắc đột nhiên giết con thứ vì tranh giành đế vị, như những gì mình đọc đến lúc này thì mình chưa thấy. Cũng có thể do mình đọc ít quá.

      Còn chuyện bạn cho rằng Lê Lợi gán cho Tư Tề chuyện điên khùng… là mở cho nhân vật này một đường sống, đó là quan điểm của bạn. Mình chỉ muốn hỏi một câu ngược lại, giả như trong cuộc sống bình thường, nói đến chuyện thừa kế, bố mẹ bạn cũng dựa vào những chi tiết cho bạn là khùng điên, hỗn lão… rất chung chung rồi loan tin cho toàn họ tộc, hàng xóm… rồi tống cổ bạn ra khỏi nhà, truất quyền thừa kế, để lại toàn bộ tài sản cho đứa em mới lên 2 tuổi chưa rõ tiền đồ thì bạn có cho đó là một con đường sống quá lớn và bạn chấp nhận điều đó, bình thản sống tiếp hay không? Bất trung bất hiếu đâu phải cái tội dễ dàng gánh trên vai nếu như bạn không thật sự làm. Người ta, với mình, không chỉ cần toàn mạng mà còn cần sống cho ra hồn một con người. Với 1 mãnh tướng mà truất quyền binh, gán cho tội trời không dung đất không tha thì chẳng thà chém bay đầu đi còn hơn. Đó là ý kiến chủ quan của mình.

      Còn nếu bạn theo giả thuyết ngay từ đầu Lê Tư Tề là một người bất tài vô dụng lại thêm điên khùng, không chịu an phận…v…v nên xứng đáng bị như vậy thì coi như mình chưa hỏi gì cả.

      P/S ngoài lề: Với mình Cung vương Lê Khắc Xương không phải là đối tượng nguy hiểm với ngai vị của Lê Tư Thành vì thời điểm Cung vương chết, đó là thời Hồng Đức, là lúc đế chế của Lê Tư Thành quá vững mạnh, quá chói sáng rồi. Lúc ấy ai có gan chống Tư Thành, ai có gan theo và tin việc lật đổ sẽ thành công? Với mình, hành động đó của Lê Tư Thành chẳng có gì đáng để tự hào hay bao biện, đó chỉ đơn giản là sự đa nghi, đa nghi hệt như ông nội người – Lê Lợi – dành cho Trần Nguyễn Hãn, Phạm Văn Xảo và Nguyễn Trãi… Cung vương không có thế lực trong triều, không nổi danh, không tiền, vậy cơ sở nào cho thấy con người này có thể gây nguy hại đến Tư Thành hay đó chỉ đơn giản là Hoàng đế mượn lời nói suông, không bằng không chứng để bức tử anh trai???

      1. Minh

        Chúng ta không nói về chuyện thường dân, mà là chuyện của vua chúa. Việc thừa kế tài sản của ba mẹ bạn không khiến bạn phải giết người, mà không được thừa kế thì bạn cũng không phải chết. Trong trường hợp của Tư Tề, giữ binh quyền, danh tiếng hay bất cứ cái gì khi NL lên ngôi thì cũng đồng nghĩa với việc trở thành mục tiêu tiêu diệt của người khác, đồng nghĩa “anh không chết thì tôi chết”. Cho nên rõ ràng ở đây là đường sống, đơn giản như 2 con đường khác hẳn nhau. TT “đã mất tất cả”, “vô tội”, “cao thượng” theo ý bạn mà còn bị giết – thì TT có quyền có danh như cái gai đâm vào mắt người khác sống được à?

        Bạn có thể cảm tính khi cha mẹ tước quyền thừa kế của bạn, đối xử tệ với bạn, nhưng trong trường hợp liên quan đến sinh mạng, bạn còn ở trong nhà thì bạn sẽ phải chết, bạn lựa chọn thế nào? Và cha mẹ bạn chọn đứa em bạn vì cơ hội giữ gìn nhà cửa của nó cao hơn bạn, có họ hàng của nó ủng hộ, giúp đỡ nó, trong khi bạn không làm được điều đó. Nếu cả 2 anh em cùng mất tất, đặt cả 2 trong nguy cơ mà bạn không có khả năng bảo đảm an toàn vì bạn không được lòng ai, thì cơ hội lựa chọn nào sẽ cao hơn?

        Mình chưa nói câu nào TT “ngu ngốc” nhé.😐 Nhưng trong trường hợp lựa chọn và xử lý lựa chọn, LL rõ ràng đã dàn xếp có mục đích, con đường tiếp theo là do bọn họ tự chọn. Và mình cũng đã nói trên, đây không phải là chuyện thừa kế cái nhà chẳng chết ai, sống trong hoàn cảnh của TT thì phải thừa hiểu “người sợ tiếng, lợn sợ béo”. Mình đâu có nói Khắc Xương đe dọa TThành, “có nguy cơ” bao hàm cả nghĩa sự tồn tại của họ đem đến chia rẽ khiến người ta lợi dụng – Như các quan từng đi giết Nghi Dân phò TT. Nếu TT làm điều gì phật ý, các quan này sẽ lập tức giết vua cũ phò vua mới – Điều này xảy ra liên tục trong triều Lê, bất kể trưởng hay thứ. Ngay cả vua Lê Tương Dực do quan đưa lên rồi cũng do quan giết đi. Điều vô cùng dễ thấy trong triều Lê là thế lực của quan lại tạo nên sức mạnh của vua chứ chẳng có cái luật nào hết, với 1 loạt con thứ được “nhờ cậy quyền thần” đưa lên ngôi, các cuộc tiếm ngôi do quyền thần lãnh đạo.

        Cả nhà Hậu Lê chỉ có mỗi Lê Hiến Tông là con trưởng của ông vua tập trung được quyền lực mạnh nhất Thánh Tông. Mà Thánh Tông thì cả triều đại cũng dựa vào họ Nguyễn của nhà vợ Trường Lạc, Hiến Tông lên ngôi vì sự ủng hộ của Trường Lạc thái hậu, mà Uy Mục cũng phải giết Trường Lạc thái hậu mới chiếm được ngai vàng, rồi cũng họ Nguyễn của thái hậu giết Uy Mục. Các ông vua nói thật ra toàn quyền do triều đình phế lập. Ngay cả Uy Mục có giết hết cả anh em họ hàng, còn sót lại mỗi Tương Dực mà người ta cũng phò lên ngôi được.

        Anh em giết nhau gần như là cái “luật” thời Lê. Nghi Dân không giết 2 em nên mới bị lật đổ, đến Uy Mục giết gần hết, cũng do Hiến Tông lên ngôi quá bình an nên mới để lại hậu hoạn. Mà quyền thần giết vua thì càng nhiều hơn, cả nhà Lê được đúng 2 ông không bị giết.

        Với thứ “quyền lực sau ngai vàng” này, sự đe dọa mà mình nói không phải chỉ là “hành động”, mà còn là “danh nghĩa”, thứ mà LL phải hủy đi triệt để ở TT. Nhà vua chẳng có sự lựa chọn lớn đến thế đâu để cân đong đo đếm đứa nào hơn đứa nào, càng không có khả năng lựa chọn vì sở thích hay cảm tính. Sự thực đã cho thấy NL được ủng hộ hơn, và thế lực của Lê Sát lớn đến thế nào. Ngay cả khi Lê Sát bị tiêu diệt, thế lực ấy vẫn còn đủ lớn để tiêu diệt nốt Nguyễn Trãi.

        Cho nên có những sự thực không thể thay đổi: Thứ nhất, TT không có khả năng lên ngôi trong hoàn cảnh nhà Hậu Lê như thế. Thứ hai, trong hoàn cảnh không có lựa chọn, LL phải tìm cách bảo toàn được cho TT.

        Rõ ràng là nếu không được đa số ủng hộ, TT lên ngôi cũng 1 là bị giết, 2 là phải giết người khác để giữ ngôi vị. Đây lại là sự thực trải suốt thời Lê thôi. Nhưng nếu ở mức dở dở ương ương, nghĩa là được 1 số ủng hộ, 1 số đông hơn phản đối, mà còn không lên ngôi, thì cầm chắc là chết. Xui xẻo hơn nữa là 2 phe phái này sẽ đánh nhau trước khi chết, rồi cuối cùng chẳng lẽ ông vua lại tha cho kẻ mà đám người kia phò tá? Cái kết cuộc rõ rành rành ra như thế, mình chỉ phục LL ở chỗ ông ấy là nhà vua đầu tiên mà đã nhìn ra được thế cuộc của cả thời đại.

        Có những quy luật hiển nhiên như thế trong hoàn cảnh như vậy, chả liên quan đến đạo đức người này người kia ra sao. Mà trong hoàn cảnh ấy, LL đã không để thế cuộc đổ vỡ như cuối thời Lê sơ, cũng không khiến “cả nhà giết nhau” như con của Thái Tông, việc giữ được thế cuộc như thế cũng đáng kể là khôn ngoan rồi. Xét cả nhà Lê thì rõ ràng LL quá thừa khôn ngoan ấy chứ.

        1. isis-chan Post author

          Hì hì, mình thấy thực ra quan điểm của 2 đứa mình khá là giống nhau. Như mình đã nói ý, việc Tư Tề chết là việc hoàn toàn hợp lý trong tiến trình chính trị, cũng như xét về tương quan lực lượng, lợi ích, tính toán sâu xa… cho việc củng cố vương triều. Lê Lợi chọn Nguyên Long vì Nguyên Long có được sự ủng hộ của phe công thần chiếm đa số, chiếm thế thượng phong trong triều. Dù giả thuyết của mình TT là người tốt hay giả thuyết của người khác anh ta cũng chả tốt mấy hay sao đó cũng không quá quan trọng. Việc người ấy bị triệt tiêu quyền lực, cắt đứt vây cánh ủng hộ rồi đi đến cái chết là điều không hề ngạc nhiên. Chính trị chính là như vậy. Như mình nhớ quan điểm chính trị của Nho giáo chính là đặt người vào đúng vị trí của nó mà :”>.

          Nhưng giữa việc hiểu cái lẽ hiển nhiên dẫn đến quyết định của Lê Lợi đến việc điều chỉnh cảm xúc của mình là khác nhau. Chính vì dù mình hiểu như thế nhưng bản thân lại không khỏi cảm thấy tiếc cho Lê Tư Tề nên mình mới viết câu chuyện này, thử nhìn nó dưới một góc độ khác của chính trị, nhìn nó dưới góc độ của cha con trước khi là quân thần. Nho giáo quan điểm tu thân, tề gia, trị quốc rồi mới bình thiên hạ đúng không? Ở đây mình muốn nhìn nhận quan điểm “tề gia” dưới góc độ bình dân một chút. Ở góc độ đó chuyện nói đứa con cùng mình vào sinh ra tử là bất trung bất hiếu v…v.. với bạn, bạn cho đó là LL cho TT 1 con đường sống, còn với mình thực sự rất khó để chấp nhận điều ấy. Đương nhiên làm chính trị, làm vua thì giữa giang sơn và con cái, người ta sẽ chọn giang sơn, chọn trăm họ, con cái sinh ra trong gia đình đế vương đương nhiên phải chịu nhiều thiệt thòi rồi. Mình nghĩ điểm khác nhau giữa chúng ta không phải là việc bàn xem quyết định của LL là hợp lý, là hợp quy luật, điều kiện khách quan hay không mà là chuyện cùng là sự kiện đó, đánh giá về mặt tình cảm của người đời sau có thể rất khác nhau. Mình thấy bạn là người rất lý trí, còn mình thì khá là duy tình nên dù mình hoàn toàn đống ý với ý kiến của bạn, trong truyện mình cũng lý giải tại sao TT bị truất quyền, tại sao anh ấy không được lòng quần thần… nhưng mình vẫn dành cho nhân vật này một sự xót xa, tiếc nuối nhất định.

          Còn về việc Lê Thánh Tông, Nghi Dân, rồi chuyện Trường Lạc… như bạn phân tích, mình hoàn toàn đồng ý. Khi đọc sử mình cũng có những suy nghĩ giống vậy :”>

          Cảm ơn bạn đã dành thời gian thảo luận với mình nhé! Nếu có gì mình viết hơi gay gắt quá hoặc chưa rõ ý khiến bạn hiểu lầm thì cho mình xin lỗi😛

      2. Minh

        À, nói riêng chuyện TThành. Cái đế chế Hồng Đức chói sáng ấy được lập trên mấy dòng họ chính: Nguyễn Xí, Lê Niệm, Nguyễn Đức Trung. Nguyễn Xí chết, Nguyễn Đức Trung dần nắm quyền, TT bỏ chức tể tướng thì NĐT là quyền thần cao nhất. Sau thế lực họ Nguyễn này ảnh hưởng đến hết cả thời Lê sơ.

        Trước đó có vụ Lê Lăng vì ủng hộ KX mà bị TT ghét đến mức giết luôn chỉ 2 năm sau khi lên ngôi. Nên bảo KX không nổi danh, không tiền, thế lực thì cũng võ đoán quá. Có thể thấy từ vụ Lê Lăng là TT để tâm đến KX từ lâu rồi, nhưng KX nhường ngôi cho thì không có lý do gì đụng tới, hoặc cũng có thể là vì các quan còn bảo vệ KX. Sau này Nguyễn Xí chết, NĐT cáo lão, TT mới giết KX. Điều này cho thấy TT thực sự là “lựa chọn thứ 2” của chính các quan, và sự tồn tại của các quan này đã bảo vệ cho KX chứ không phải ngược lại.

        Sự thù ghét của TT với KX chỉ cần nhìn vụ Lê Lăng là thấy rõ. Mà đã ghét rồi thì… cần gì lý do?

        1. isis-chan Post author

          mình đánh giá Khắc Xương không nổi danh là theo những gì mình đọc trong Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn thôi. Hơn nữa việc Lê Lăng chọn Khắc Xương mình nghĩ là do quan điểm Nho giáo, theo đúng thứ bậc trên dưới. Hơn nữa nhìn qua chuyện Nghi Dân cũng vì trưởng – thứ mà giết Bang Cơ, mình nghĩ việc chọn Khắc Xương là để tránh một lần con lớn – con nhỏ nữa. Mình cũng cho rằng TT không ưa KX có thể trước nhưng trực tiếp là vì LL phò KX chứ không phò tá TT như những đại thần khác. Mình thì lại nghĩ các quan chủ ý tôn TT vì đại thần trong triều lúc đó là Đinh Liệt và Nguyễn Xí vừa là khai quốc công thần, vừa có tầm ảnh hưởng lớn đều theo TT, những người còn lại muốn hay không cũng gió chiều nào theo chiều ấy. Hơn nữa nhà ngoại của TT là gia đình thái bảo Ngô Từ, xét địa vị hơn hẳn xuất thân của thân mẫu của KX.

          Mình thích nhà họ Nguyễn của Trường Lạc hoàng thái hậu lắm :”>

          Còn chuyện TT giết KX, mình nói rồi ấy, cái cớ làm loạn cũng là cái cớ rất chung chung vin vào để thực hiện cái mục đích là giết cho kì được thôi :”>

          Những quan điểm của bạn thực sự rất có ích cho mình, có một số khía cạnh mới mẻ hơn những gì mình từng nghĩ lúc trước. Nếu có thể, mình được phép tham khảo nó để viết tiếp dự án về Lê Thánh Tông và Trường Lạc của mình được không?

  8. jackfruit2307

    Tư Tề là một vị tướng giỏi, một người con hiếu thảo, ít nhất theo cảm nhận của Mít trong truyện.
    Cũng là một người anh không đủ nhẫn tâm. Bản thân Lê Lợi đã đặt Tư Tề vào một ván cờ. Dẫu sao với một người từng trải như Lê Lợi, và đang làm vua thì Tư Tề có muốn chống chọi cũng không dễ.
    Có thể Lê Lợi làm thế vì cục diện nhưng mình nghĩ vua cũng là người, cũng sẽ có cảm tính. Có thể Phạm Thị Ngọc Trần ngã giá nhưng rõ ràng bản thân Lê Lợi cũng có ý để ngai vàng cho Nguyên Long từ trước.
    Còn để cho Nguyên Long cũng có thể vì phe ủng hộ Nguyên Long, cũng có thể vì lời hứa, cũng có thể vì yêu mẹ Nguyên Long hơn và cũng có thể vì Lê Lợi nhìn thấy ở Tư Tề cái không đủ nhẫn tâm.
    Nhưng mình nghi là Lê Lợi nặng tình riêng hơn, và việc này cũng khá cảm tính. Cũng như sau này thấy Nguyên Long trong việc lập con cái với ngôi Thái tử cũng khá cảm tính. Thích đưa lên, chán hạ xuống.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s