[Dã đào lạc cung trung] .7. (2)


(Tác phẩm chỉ là hư cấu)

.7.

Cảnh Nguyên

(Phần 2)

 

Cung Long Đức ngoài cửa Tường Phù trừ việc tọa lạc trên một diện tích rộng gấp hai lần những dinh thự thông thường của quan lại hàm chính nhất phẩm, nghển cổ nhìn qua bức tường thấp bao xung quanh chỉ thấy những dãy nhà vuông vức bình thường xây theo kiểu chữ khẩu*. Nhưng đó là hình ảnh của cung Long Đức trong trí nhớ mọi người trước khi Hoàng thái tử dọn đến. Giờ nó đã mang một bộ mặt khác mà lắm người đồn đại rằng xa hoa chẳng thua gì Đông cung trong Long Phượng thành. Những hàng hàng cột gỗ lim đen bóng đỡ lấy mái dốc lợp ngói mũi hài rực lên màu cam trong ráng chiều muộn màng. Hành lang lát đá xanh viên nào cũng vuông vắn, chạm khắc hình hoa cúc sạch bong vì một ngày mấy lượt cung nga thể nữ đi lại lau dọn.

Những cánh cửa bức bàn* khắc đủ tùng, trúc, cúc, mai mở rộng, dẫn ánh sáng của những chiếc đèn lồng vào sảnh đường rộng trải thảm đỏ. Nữ nhân áo hồng nhàn nhạt ngồi bên bàn nước, ánh mắt chăm chú nhìn bộ đồ uống trà men xanh lam, mấy ngón tay thanh tú mân mê lọn tóc dài vắt qua vai. Ánh mắt dịu dàng, bình lặng của nàng chỉ ánh lên nét xốn xang, mừng rỡ khi có người bước vào.

-Điện hạ hồi cung.

Hoàng thái tử ra hiệu cho Bạch Mai không cần thi lễ. Chàng siết nhẹ quanh hai bàn tay nắm khẽ vào nhau của nữ nhân, kéo nàng về phía mình, nhẹ nhàng cúi xuống hôn lên gò má ửng hồng. Đặt nàng lên đùi, Hoàng thái tử âu yếm:

-Hôm nay ở nhà, nàng làm những gì?

-Điện hạ bảo em không cần làm việc nhà, cứ để đó cho các cung nữ nên… em đọc sách rồi theo đó làm chút đồ ăn cho điện hạ. – Bạch Mai cúi đầu e ấp, cất giọng thỏ thẻ.

-Vậy sao? Ta muốn nếm thử đấy.

Nhìn vẻ mặt hào hứng chờ đợi của Hoàng thái tử, nàng thoáng bối rối. Những ngón tay mịn màng run run nửa muốn mở nắp chiếc hộp mứt hình hoa năm cánh với những họa tiết hoa cúc khảm trai tinh xảo, nửa e ngại, chần chừ. Đôi môi hồng hồng mím lại vẻ như đã hạ quyết tâm, Bạch Mai nhẹ nhàng lấy ra một miếng mứt quất màu cam tươi óng ánh đường nấu chảy trong suốt, mới đưa dưới cánh mũi đã thấy một mùi thơm tinh dầu đầy sảng khoái.

-Điện hạ, phiền điện hạ…

Nam nhân mỉm cười, há miệng nếm thử rồi gật đầu tâm đắc:

-Rất ngon. Đang thu mà nàng có thể kiếm được quất làm mứt, chắc phải tốn không ít công sức rồi.

Những ngón tay vẫy nhẹ một cái thanh thoát khiến ấm trà rót nước đầy tách, Bạch Mai cẩn trọng nâng lên mời Hoàng thái tử, nhẹ nhàng:

-Điện hạ dùng trà. Đồ ăn vặt này cũng không khó gì. Em không biết mấy chuyện to tát, chỉ biết làm mấy thứ này thôi. Điện hạ thấy vui thì Bạch Mai cũng thấy vui.

Hoàng thái tử đưa tay lên định chỉnh lại hai chiếc trâm ngọc trên mái tóc cô gái thì đột ngột dừng lại bởi cung nữ vào báo có người xin được diện kiến. Ánh mắt mới phút trước còn ôn hòa, thoải mái đã đột ngột sắc lạnh trở lại.

-Bạch Mai, nàng vào trong đi, ta có khách. Chút nữa chúng ta sẽ cùng ăn cơm tối.

Nàng đưa mắt nhìn rồi hàng mi nhanh chóng rủ xuống nhu mì. Không hỏi, không thắc mắc, cũng chẳng giận dỗi, bảo sao nghe vậy chính là con người nàng, khiến người ở bên cạnh cảm thấy rất thoải mái, không phải đau đầu suy đoán xem bụng dạ đàn bà hẹp hòi, rối rắm đến đâu. Bạch Mai đứng dậy, nói khẽ:

-Em xin lui.

Hoàng thái tử nhìn bóng áo hồng khuất sau cảnh cửa, không cần kiểm tra cũng biết người con gái này thực sự rất vâng lời, không dám có nửa ý nghĩ trái ý chàng. Chỉnh lại y phục trên người, chàng ngồi thẳng dậy, khoác lên mình dáng vẻ đường bệ, oai phong, thoải mái đón nhận cái quỳ lạy của người đàn ông mặc áo lụa tím bên trong áo the đen trước mặt. Lúc người đó ngẩng lên, gương mặt không xa lạ gì – chính là người đứng đầu tam vị hộ pháp, cánh tay phải của Hoàng thái tử.

-Điện hạ, thần có tin từ xứ hoa đào.

-Tin gì? – Hoàng thái tử lạnh lùng hỏi.

-Thứ nhất là về mỵ nương Thân Ngọc Dao. Xem ra tất cả những lời ca tụng về nhan sắc của nữ nhân này đều không thật nhưng chuyện về tài cầm quân thì đúng. Thuộc hạ của thần và các khâm sai đại thần được điện hạ cử đến đều nói quân đội dưới trướng Thân Ngọc Dao nói riêng và của xứ hoa đào nơi tù trưởng họ Thân thống soái nói chung rất có quy củ, quân lệnh như sơn, vô cùng tinh nhuệ. Ngoài ra, thần còn dò hỏi biết được mỵ nương có trong tay một đội nữ binh rất thiện chiến, thề trung thành trước sau như một với nàng ấy. Thứ hai là…

-Ngươi cứ nói tiếp – Hoàng thái tử đưa mắt nhìn.

-… mấy tháng trở lại đây, Bắc Quốc thường xuyên cho người đóng giả sơn tặc quấy nhiễu vùng biên giới, càng ngày càng trở nên ngông nghênh. Tuy gia đình họ Thân đều đã dẹp yên nhưng đích thân tù trưởng vẫn gửi bản tấu trình lên quan gia xin thêm hỗ trợ về vũ khí, quân nhu. Theo thần biết, tù trưởng sợ đằng sau những động thái này có âm mưu gì, nếu không được chuẩn bị chu đáo sợ khi có biến xảy ra, trở tay không kịp.

Nụ cười nửa miệng thoáng hiện trên môi nam nhân. Hoàng thái tử nâng chén trà, xoay giữa những ngón tay, trầm giọng:

-Thật nực cười! Xưa nay dòng họ Thân xứ hoa đào vẫn kiêu ngạo về tài điều binh khiển tướng và truyền thống oai hùng của mình, cớ gì vì chút chuyện con con đã phải viện đến sự trợ giúp triều đình? Có mỗi việc ấy không giải quyết xong chẳng hóa quan gia nuôi không một lũ vô dụng nhưng giỏi võ mồm. Cái vùng chó ăn đá gà ăn sỏi đó ai thèm vào mà cướp mới chả bóc. Âm mưu? Đừng làm ta buồn cười.

Đặt mạnh chiếc chén xuống mặt bàn, nam nhân nghiêng người về phía trước, nói khẽ vào tai người đang quỳ trên sàn:

-Tiếp tục theo dõi họ. Nếu có bất kì dấu hiệu điều chuyển binh lính bất thường nào lập tức phải cấp báo về Thăng Long.

-Điện hạ, người nghi ngờ gia đình họ sinh lòng phản trắc?

-Trên đời đâu thể dễ tin ai, đúng không? Chưa kể sức ảnh hưởng của gia đình họ Thân quá lớn, quân đội vùng Tây Bắc Đại Việt cũng đều nằm hết trong tay nhóm người đó. Số quân đó muốn mơ chuyện can qua thì khó, nhưng liên kết với kẻ khác để mưu phản lại là chuyện hoàn toàn có thể xảy ra.

Chàng đứng lên khỏi ghế, phất áo, ngẩng cao đầu tiếp lời:

-Mai thượng triều, ta sẽ đích thân dâng tấu xin quan gia đặc biệt lưu tâm đến tình hình quân đội ở vùng biên giới phía Bắc. Không thể để tình trạng tự tung tự tác, thiếu sự quản lý trực tiếp của triều đình như thế này lâu hơn được nữa. Gia đình họ Thân nắm quyền tại xứ hoa đào quá lâu rồi, cũng nên chỉnh đốn lại.

Người đàn ông cúi đầu tỏ vẻ hiểu ý, một lúc lâu sau mới lên tiếng:

-Lần trước chuyện xung quanh cậu Cảnh Nguyên chúng thần làm không đến nơi đến chốn, xin điện hạ giáng tội.

Ngoái lại, đưa tay đỡ người đàn ông đứng dậy, Hoàng thái tử ôn tồn:

-Xưa nay Cảnh Nguyên rất ngoan ngoãn chấp nhận cái giá cho những chuyện bản thân gây ra. Nhưng nếu hắn đã muốn né tránh, số người có thể tóm được không nhiều. Chuyện này cứ để ta đích thân ra tay dạy dỗ.

-Điện hạ, như vậy e…

-Nguyễn Thượng, ngươi theo ta vào thư phòng. Ta có thứ muốn gửi cho Cảnh Nguyên.

 

 

Cầm phong thư trong tay, Nguyễn Thượng không khỏi băn khoăn nhưng nhìn dáng vẻ của Hoàng thái tử, quả tình ông ta không dám hỏi. Bên trong vẻ đĩnh đạc cứng rắn những lúc xử lý công việc thực sự là một con người vô cùng đáng sợ. Ông phụng sự Hoàng thái tử không phải đôi ba năm nhưng không phải lúc nào cũng có thể theo kịp những suy nghĩ trong đầu ngài ấy.

-Điện hạ và đại nhân đây nghỉ tay, dùng chút trà bánh đã.

Bạch Mai nhẹ nhàng bước qua ngưỡng cửa, trên tay cầm khay gỗ có bình trà bốc khói và mấy chiếc bánh cốm xanh màu lá nhìn rất hấp dẫn.

-Xin cảm ơn tiểu thư! – Người đàn ông nhìn cô gái mới bước vào, nhìn nhanh chủ nhân đang đứng sau án thư rồi cười tỏ vẻ khách khí. Xưa nay Nguyễn Thượng quen nhìn Hoàng thái tử giao thiệp với nhiều nữ nhân, từ tiểu thư nhà các đại quan trong triều đến con gái nhà hào phú. Số đào nương, đào rượu qua lại với ngài cũng không ít. Người được Hoàng thái tử yêu thích không phải không có, nhưng đến mức được đưa về cung Long Đức thì cô gái này là người đầu tiên. Dáng vẻ an nhàn, thanh tao, gương mặt cũng thuộc vào hàng tuyệt sắc, lại rất nhu mì, thục nữ, thẩm nào lọt được vào mắt xanh của Hoàng thái tử.

-Phong thư này ngươi mang đến ngay cho Cảnh Nguyên. Giờ này chắc chắn hắn đang ở quán trà Hồng Mai. – Nam nhân cười nhưng lại khiến người khác thấy rùng mình.

-Dạ, thần xin đi ngay!

-Khoan đã. Ta muốn hỏi mượn ngươi một thứ dùng tạm.

 

o0o

 

Mối tơ duyên huyền ảo, thần tiên dẫn đến cuộc tao ngộ giữa Lê Tư Thành và Nguyễn Thị Hằng tuy chỉ được gói lại trong hai câu thơ mở đầu vở kịch nổi tiếng khắp đất kinh kì nhưng cũng đủ khiến người ta nghe qua không thôi ám ảnh, không khỏi háo hức muốn biết cho kì được. Thơ đề:

Phụng thiên mệnh, tiên đồng giáng hạ
Vô hạn si ngọc nữ đoạn trường…(*)

Chuyện kể rằng: Lê Tư Thành vốn là tiên đồng trên trời được Ngọc Đế ban cho Quang Thục hoàng thái hậu. Sau này, chàng trở thành Lê Thánh Tông – một trong những vị hoàng đế có sự nghiệp lừng lẫy nhất từng ngự tại điện Kính Thiên. Số phận hay chính ông Tơ bà Nguyệt kể cũng khéo se duyên khi để ngọc nữ được tiên đồng chọn trước khi hạ phàm năm xưa lại sinh ra trong gia đình Tế Văn hầu Nguyễn Trãi. Huyết án Lệ Chi Viên tròng vào cổ khai quốc công thần Nguyễn Trãi cùng ái thiếp là nữ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ cái án giết vua, làm thiên hạ chỉ sau một đêm chao đảo. Tưởng như một đao quét xuống đoạt mạng tam tộc nhà họ Nguyễn khiến máu tươi thấm qua tầng tầng lớp lớp giấy của Quốc sử viện, tiếng báo oán bi thảm không động trời xanh. Nhưng xét ra, ông trời vẫn còn có đức hiếu sinh, lưu lại trong dân gian một giọt máu của Nguyễn Trãi ấy là nàng Nguyễn Thị Hằng. Văn nhân viết cuốn tiểu thuyết để dựng vở kịch này mượn tích truyện đồn đại trong dân chúng, mượn ý trong Tang thương ngẫu lục* soi vào chính sử mà hạ bút dệt nên cậu chuyện kì ảo, thăng trầm, ngang trái khiến bao người ngẩn ngơ.

Chuyện kể tiếp rằng: Thị Hằng bị sung vào đội nữ nhạc, tuy nhan sắc khuynh thành nhưng mười tám tuổi không mở miệng nói mời lời, bị cho là câm nên không hát xướng mà chuyên việc gõ phách. Một lần vào cung hầu yến, Thánh Tông thấy nữ nhân chỉ im lặng bèn hỏi: “Nàng kia sao không hát đi?”. Thị Hằng lúc ấy mới cầm phách, cất giọng hát nỉ non, ai oán rằng: “Hẹn nhau từ thuở Thiên Đình. Lòng nào nỡ phụ tâm tình thế ru?”. Theo cách luận giải của văn nhân, rõ ràng cuộc tao ngộ này không những chẳng hề bình thường mà đúng là trò đùa của ông trời. Triều đình cha Thánh Tông giết oan ba họ nhà Tế Văn hầu để rồi sau này con tạo xoay vần, nữ nhân vì gia biến mà lưu lạc chốn dân gian năm xưa lại trở thành người được sủng ái nhất hậu cung. Một phần có lẽ vì vậy nên chàng mới lật lại vụ án Lệ Chị Viên, chiêu tuyết* cho Nguyễn Trãi. Tưởng rằng cuộc đời chìm nổi, oan ức của nữ nhân đến đây là viên mãn hạnh phúc, ai ngờ chẳng phải. Nguyễn Thị Hằng từ con gái trọng thần qua một đêm trở thành nô tì khi mới lên hai; từ nô tì được tấn phong quý phi rồi thành Trường Lạc hoàng hậu làm chủ hậu cung, người như thế cuối cùng lại bị chính Thánh Tông hắt hủi, bạc đãi mà sinh lòng thù hận đến mức tự tay đẩy nam nhân của đời mình tới gần cái chết hơn. Cuối cùng, khi được sắc phong thái hoàng thái hậu, nàng lại chết trong tay chính cháu nội mình.

Gập cuốn sách lại, người ta không khỏi buông một tiếng thở dài, càng ngẫm càng thấy câu “Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen” của Nguyễn Du không sai chút nào. Ngọc Dao đặt tập giấy giới thiệu sơ qua nội dung vở kịch lên bàn, chống tay vào cằm đợi giờ mở màn để thấy những điều nàng đọc được thể hiện trên sân khấu. Đó không phải lịch sử, cũng chẳng phải sự thật. Văn nhân chỉ lấy những chuyện đã qua làm nền, mượn những người có thật mang vào thế giới tưởng tượng cá nhân để tự do thể hiện những suy tưởng, phỏng đoán. Trước những uốn khúc, thăng trầm vừa công khai vừa khuất tất của lịch sử, mỗi người đều có những cách lý giải riêng như thế ấy.

-Tiểu thư cũng đến xem kịch sao?

Ngọc Dao ngoái nhìn lại thấy một nam nhân cao lớn, mái tóc búi gọn gàng lần trước giờ buông xuống, buộc hờ bằng dải lụa nhỏ, trước mắt là cặp kính đen với đôi tròng kính tròn xoe, mình vận áo màu lam. Chàng đang mỉm cười hòa nhã với Ngọc Dao khiến nàng vội đứng dậy, ngập ngừng:

-Đại nhân là… Nam Khánh?

-Thật hân hạnh! – Đại quan tỏ vẻ vui mừng, hàng lông mày nhướn lên, lịch sự đề nghị – Liệu tôi có thể…?

-Ngài cứ tự nhiên! – Ngọc Dao nghiêng đầu, chỉ tay về chiếc ghế trống bên cạnh.

Nam Khánh thoải mái ngồi xuống, gập chiếc quạt trong tay lại. Miếng ngọc trắng tinh xảo đính trên chiếc chốt giữ những nan quạt đập khẽ xuống mặt bàn. Chàng tự nhiên lấy chiếc ấm ra khỏi giỏ, rót đầy chén trà của mình, vừa thưởng thức vừa nhìn xuống sân khấu.

-Tôi có thể gọi tiểu thư là gì? – Nam Khánh quay sang, lịch sự lên tiếng trước.

Suy nghĩ một lát, Ngọc Dao cười đáp lại:

-Là Mộc Miên. Tôi có nghe cậu Cảnh Nguyên nói đại quan là người đứng cao nhất ở Quốc sử viện. Lần này đến đây xem kịch, phải chăng ngài định kiểm tra xem mấy người này có viết, có diễn điều gì sai lịch sử hay không?

Cất tiếng cười sảng khoái, nam nhân quay hẳn người sang để nhìn thiếu nữ cho rõ:

-Tiểu thư đúng là quá vui tính rồi. Tôi có chuyện ghi chép, sắp xếp, nghiên cứu những văn bản, cổ vật… của mình. Những văn nhân, thi sĩ có chuyện tưởng tượng, viết văn, làm thơ, xướng họa của họ. Không thể bảo chúng tôi viết sử hay như văn và cũng không thể bảo những nghệ sĩ tạo ra những điều hoàn toàn giống sử sách, huống hồ lịch sử là cả một cuộc tranh cãi vĩ đại. Tôi cũng như tiểu thư, đơn giản đến đây xem kịch như một người bình thường, đến xem họ nghĩ gì về lịch sử. Như vậy không phải thú vị hơn nhiều sao?

-Thú vị? – Nữ nhân đưa mắt nhìn, đôi môi như cười. Ngọc Dao hơi ngửa cổ lên, suy nghĩ bằng dáng vẻ mơ mộng, say mê – Đại nhân nói cũng đúng. Như chiếc chén này, nhìn qua chỉ là một vật mỏng mảnh tráng men trắng đơn thuần, nhưng nếu giơ ra dưới ánh sáng thì sẽ…

Miệng nói tay làm, những ngón tay nàng cầm chiếc chén không lên soi dưới ánh nến trong quán. Ánh sáng xuyên qua lớp sứ trắng mỏng như vỏ trừng làm nổi lên những cánh hoa trang trí ôm lấy thành chén, quả nhiên là hàng hảo hạng. Nam Khánh nhìn điều ấy chỉ đơn giản mỉm cười, gật đầu tán đồng.

-Chúng tôi không phải mấy bà cô ngồi lê đôi mách, cái gì cũng tọc mạch được. – Nam Khanh đẩy chiếc kính đang trượt trên sống mũi lên, khoanh tay trước ngực – Đặc biệt là chuyện chốn hậu cung hay những chuyện dân gian như ai yêu ai, ai hận ai… Vậy nên mới có cái gọi là dã sử, truyền thuyết, chuyện truyền miệng… Tôi cho tất cả chúng đều rất thú vị. Không cần quá quan tâm có thật hay không, chỉ cần người đời sau cảm thấy chấp nhận được thì nó tự khắc sẽ tồn tại được. E rằng nếu không có những điều suy đoán, thêu dệt ấy thì chẳng có nhân vật lịch sử nào sống được bên ngoài phạm vi những trang sách của Quốc sử viện.

-Ngài không sợ sẽ có sự xuyên tạc sao?

-Nếu Quốc sử viện ngay ngắn, đàng hoàng, là chuẩn mực có thể tin cậy được thì sao ta phải sợ? – Nam nhân nghiêng đầu làm mấy sợi tóc xõa xuống vai, dáng điệu rất giống thần tiên, tiêu dao thoát tục – Hơn nữa ta luôn nghĩ dân trí không thấp đến mức đánh đồng lịch sử được ghi chép với một vở kịch, một cuốn tiểu thuyêt lưu truyền trong dân gian. Thực ra chỉ cần những điều hư cấu này khơi gợi nên một suy nghĩ nào đó dù rất nhỏ thôi nơi người xem, khiến họ muốn tra cứu chính sử thì công việc của ta sẽ thú vị hơn nhiều, có giá trị hơn nhiều. Khi ấy, sợ rằng lời cảm ơn dành những nghệ sĩ còn chưa đủ ấy chứ.

-Ngài ghi chép những chuyện đã qua, những chuyện đang qua. Nhiều người nói việc này rất nhàm chán, giống như làm việc với những thứ đã chết vậy nhưng tôi không nghĩ thế. Tạo ra lịch sử cũng hay nhưng chiễm ngưỡng lịch sử cũng là một điều thú vị.

Ngọc Dao quay đầu làm mái tóc buộc đuôi ngựa bằng dải lụa đỏ đung đưa, trong tay nàng là nắm hạt dưa, thỉnh thoảng lại vang lên những âm thanh “tách tách” vui tai. Đại quan tựa người vào chiếc ghế, đôi môi vẽ thành một nét hài lòng. “Chiêm ngưỡng” lịch sử ư? Ngày trước thằng nhãi kia cũng nói với Nam Khánh y như vậy bằng ánh mắt háo hức, ngưỡng mộ.

“Đại nhân Nam Khánh, ở Quốc sử viện có rất nhiều quy định nhưng theo ngài điều gì là hay nhất?”

Cảnh Nguyên từng một tay cầm cái bánh nướng, một tay cầm chén trà, ngồi trên bậc tam cấp dẫn thẳng lên cửa chính của Quốc sử viện hỏi chàng như vậy. Ánh mắt lúc đó của thằng nhóc thực khác bây giờ: lấp lánh, rạo rực, say mê thay vì một vẻ lạnh nhạt, thờ ơ, khép kín đến mức có tiếp cận được vẫn cảm giác như thể mình chạm vào một vật ảo giả nào đó.

“Theo ngươi đó là gì?”

“Là… người của Quốc sử viện không phải quỳ trước bất kì ai, kể cả quan gia!”

“Sao ngươi cho vậy là hay nhất?”

Thằng bé nắm bàn tay lại, thụi vào không khí bằng vẻ hào hứng, tâm đắc lắm, cảm khái:

“Đã là sử quan, nếu phải quỳ trước kẻ khác, trước bất kì thứ gì thì sao còn có thể đường hoàng, công tâm cầm bút ghi chép mọi chuyện được chứ? Quỳ ở đây không phải là khuất phục, phục tùng và phụ thuộc sao?”

Ngày trước Nam Khánh cũng hay đi xem kịch với Cảnh Nguyên như thế này, đôi lần thì có thêm vài người bạn đồng liêu. Chớp mắt thằng bé đó đã lớn, thế mới thấy thời gian thật đáng sợ, thời gian giữa những tầng tầng lớp lớp công việc ở Quốc sử viện còn đáng sợ hơn nhiều. Từ trên lầu nhìn xuống, dưới ánh sáng đỏ của đèn lồng dần nhạt đi đã thấy những diễn viên bước lên sân khấu trong tiếng vỗ tay của mọi người.

-Tôi thấy tiểu thư là một người rất có học vấn! – Nam Khánh nghiêng người, những ngón tay vun gọn đống vỏ hạt dưa lại cạnh chén trà của mình.

Rời mắt khỏi sân khấu, người con gái tên Mộc Miên chớp mắt tỏ ý ngạc nhiên rồi lịch sự đáp:

-Đại nhân quá khen. Chỉ là những lời nói ra lúc cơm no rượu say, không đáng để lưu tâm đến vậy đâu.

-Vậy sao? – Chàng cất giọng rất khẽ như có ý muốn hỏi nhưng lại chỉ đến thế thôi. Tự rót trà cho mình, nam nhân thủng thẳng nói sang chuyện khác – Tiểu thư không thích những câu chuyện lãng mạn thế này, nhưng sao lại đến đây xem kịch?

-Sao đại nhân lại cho là tôi không thích những câu chuyện tình cảm?

Nàng cười cười, quay đầu nhìn xuống sân khấu thấy đã đổi sang một màn khác. Bàn tay đặt hờ lên tách trà, thong dong.

-Ta đã đến đây xem kịch với nhiều nữ nhân. Trong số họ không ai cho ta có cảm giác giống tiểu thư. Nói thế nào nhỉ, tiểu thư giống như đang chiêm ngưỡng toàn bộ thành quả của diễn viên, biên kịch… mà không bị cuốn theo nhịp độ của tình huống câu chuyện. Xem chỉ là xem thôi, đứng ở một vị trí rất trung lập.

Mộc Miên hơi cúi đầu, nụ cười trên môi tươi hơn một chút:

-Đó không phải cũng giống Nam Khánh đại nhân lúc làm việc sao? Những thứ hư cấu này thực tình tôi không quan tâm nó đúng sử đến bao nhiêu, nếu cảm thấy xem được thì xem, thế thôi. Quan trọng là phải cho tôi cảm giác ông bà ngày xưa thực sự đã từng sống như thế, từng có những cảm xúc như vậy để tôi tin họ thực sự đã từng tồn tại, giống những người bình thường, sinh động, có đúng có sai. Rõ ràng như vậy hấp dẫn hơn những con chữ nghiêm túc của Quốc sử viện rồi.

-Chính thế! – Ống tay áo của Nam Khánh đung đưa khi chàng giơ tách trà về phía Mộc Miên như có ý tán thưởng.

-Đại nhân, tôi có việc phải đi trước rồi! – Nàng đứng dậy, cúi đầu tỏ ý từ biệt – À, còn việc này, tôi muốn tìm… ngài Cảnh Nguyên nhưng qua nhà thì bác Đồng nói ngài ấy ra phố rồi. Vì có chút việc gấp, đại nhân có thể chỉ giúp tôi liệu đến đâu thì sẽ gặp được ngài ấy không?

Rút từ tay áo ra chiếc đồng hồ quả quýt phương Tây với mặt chạm khắc tinh xảo, Nam Khánh nhìn lên:

-Giờ này chắc chắn thằng nhóc đó ở quán trà Hồng Mai. Đi, ta dẫn tiểu thư đến đó!

-Ừm… thế có phải phiền đại nhân quá không? Tôi có thể tự tìm đường được mà.

-Làm việc phải đến nơi đến chốn. Nào, chúng ta đi! – Đặt chén nước đã uống cạn xuống bàn, Nam Khánh đứng dậy nghiêng người như có ý dẫn lỗi.

 

Ngọc Dao lặng lẽ đi theo nam nhân trước mặt, thỉnh thoảng ngửa cổ ngắm nhìn khoảng không trên đầu. Trong đầu óc nàng, hình ảnh quen thuộc nhất của cái gọi là “bầu trời” chính là sắc xanh vô tận với những đám mây lúc trắng xốp như bông, lúc lại như một vệt bút lông phẩy một nét đầy hữu ý, thanh nhã và bay bổng. “Bầu trời” ấy của nàng đôi lúc ẩn sau những đóa hoa đào nhưng bao giờ cũng thật kì vĩ, bao la. Ngọc Dao chưa thực bao giờ ngẫm nghĩ xem rút cuộc trời có hình dạng thế nào. Mế thì vẫn bảo trời tròn, đất vuông, hiển nhiên như thế còn gì phải thắc mắc. Nhưng cả nàng lẫn Túc Bình đều lè lưỡi, lắc đầu bảo làm sao có thể khuôn bầu trời trên đầu vào một hình dáng nào được. Ấy thế mà bây giờ nàng lại nhận ra khoảng không trùm lên Kẻ Chợ là một dải xanh lam thẫm men theo phố, trông giống một dải lụa được đính lên đó những hạt kim sa lấp lánh.

-Đến nơi rồi! – Nam Khánh tháo chiếc kính ra, nhìn lên tầng lầu sơn son ngả về phía bờ sông.

Một cách vô thức, Ngọc Dao mơ hồ cảm thấy con người vận áo trắng đang gác tay lên lan can gỗ kia chính là Cảnh Nguyên. Nàng chưa kịp nghĩ xong đã thấy người đó trông xuống. Ánh đèn lồng đung đưa dưới mái hiên hắt ánh sáng cam lên gương mặt tuấn tú, lạnh nhạt ấy. Đôi môi hắn dường như cười, điệu cười rõ ung dung, đắc thắng.

 

o0o

 

Nguyễn Thượng rời cung Long Đức lúc trời đã tối. Bước ra đến ngoài cổng ông mới có thể thoải mái hít thở sau một loạt những chuyện mới xảy ra bên trong.

Lúc Hoàng thái tử muốn hỏi mượn người đàn ông một vật, cơ thể động một cái định cản lại nhưng vẫn chậm hơn hành động của chủ nhân trong tíc tắc. Chưa kịp để bất kì ai trong phòng phản ứng, ánh mắt đen của Hoàng thái tử lướt trên chuôi kiếm nhanh bằng âm thanh lưỡi thép lạnh miết vào vỏ bao. Xoay cổ tay khiến mũi nhọn chĩa thẳng vào người, khóe môi nhếch lên thành một nụ cười ngạo nghễ khi nam nhân tự tay lao thanh kiếm vào ngực mình. Chiếc chén trên tay Bạch Mai rơi xuống vỡ tan dưới chân nhưng nàng chẳng để ý, cứ thế giẫm lên.

-Điện hạ!

Nữ nhân lao đến, tay run rẩy đặt lên chuôi kiếm, trong đôi mắt trong veo đã ngân ngấn nước.

-Bạch Mai, bình tĩnh nào. Nàng xem, ta đâu có sao? – Hoàng thái tử ôn tồn vỗ về, gương mặt nửa thản nhiên, nửa hài lòng.

Lưỡi kiếm từ từ được rút ra không một vệt máu. Trên chiếc áo chỉ để lại một vết rách nhỏ. Đưa thanh kiếm cho Nguyễn Thượng, nam nhân nghiêm giọng:

-Giờ ngươi có thể đi!

Kiểm tra lại phong thư trong tay áo, Nguyễn Thượng đưa mắt nhìn thanh kiếm đeo bên hông, thoáng chần chừ trước khi biến mất trong một cái chớp mắt. Hẳn nhiên ông đến quán trà Hồng Mai.

 

 

-Đại nhân dạo này rảnh rỗi quá!

Cảnh Nguyên đứng dậy khỏi ghế, nghiêng người thành một cái chào. Hàng lông mày không hề nhướn lên khi trông thấy Ngọc Dao. Đơn giản đó là một cái nhìn thẳng không bộc lộ cảm xúc gì đặc biệt. Nàng hơi cụp mắt xuống thay lời chào, ngồi xuống chiếc ghế đối diện bàn nước. Định mở miệng nói gì đó nhưng Cảnh Nguyên đã lên tiếng trước, vui vẻ cuốn Nam Khánh vào câu chuyện công việc của họ khiến nữ nhân chỉ biết im lặng, kiếm thú vui bằng cách nhìn ra ngoài.

-Mộc Miên, đưa giúp ta cuốn sách và tập giấy cạnh nàng.

Giọng nói đều đều lặng lẽ vang lên bên tai trong căn gác chỉ có ba vị khách. Nhìn xung quanh, Ngọc Dao hiểu ngay ý Cảnh Nguyên ám chỉ cuốn sách khổ lớn ngay dưới khuỷu tay nàng. Trông nó có vẻ như không có gì nhưng cầm vào lại thấy nặng, giấy ngả vàng thô ráp, tờ nào cũng rất dày. Liếc mắt nhìn tựa sách và những con chữ ghi chép trên tập giấy bên dưới, nàng thoáng sững người trong giây lát trước khi khỏa lấp chút cảm xúc ấy, rồi bình thản đặt những vật đó vào bàn tay để mở của Cảnh Nguyên. Vẫn mải câu chuyện của riêng mình, dường như chàng không nhận ra thái độ của Mộc Miên có chút khác lạ.

In trong đáy mắt Ngọc Dao ban nãy là những thứ nom giống những họa tiết trang trí ngẫu nhiên, tưởng có thể bắt gặp ở bất kì mẫu trang phục hay ở một công trình kiến trúc nào đó. Nếu không phải người hiểu ý nghĩa chắc chắn sẽ không nhận ra những đường nét đó thực chất là những kí tự, là thứ ngôn ngữ bị quên lãng, chỉ còn được biết đến với cái tên “chữ Khoa Đẩu”*. Nhiều người, thậm chí đến cả những học giả cũng tin rằng loại chữ này tuy còn nhưng không ai có thể dịch được bởi nó đã thất truyền trong những biến cố của lịch sử. Đồn đại trong dân gian rằng chỉ có những đại pháp sư ở Đại Việt là tinh thông loại chữ viết này nhất, không những đọc được mà còn biết dùng chữ Khoa Đẩu viết nên những bùa chú phức tạp, dựng ma pháp trận khiến người thường không thể hóa giải. Tiếc là những đại pháp sư trong các thế giới thực sự không nhiều, ở nước Nam đếm ra cũng chỉ có vài ba người nhưng đều sống theo kiểu im hơi lặng tiếng nên càng khiến sự việc trở nên kì ảo, mơ hồ, chứa nhiều luyến tiếc hơn là một thứ có thể khai thác.

Điều này thực ra cũng không đúng lắm, Ngọc Dao biết chắc chắn vậy. Nàng, thậm chí đến cả bố mẹ, cụ kị hai, ba đời đổ về trước dù không phải đại pháp sư, không dùng loại chữ viết này để tạo phép thuật nhưng chắc chắn có thể đọc được tất cả các loại văn tự viết bằng chữ Khoa Đẩu một cách lưu loát. Đấy là thứ ai sinh ra trong gia đình tù trưởng họ Thân đều phải biết bên cạnh nghệ thuật dụng binh, cách sử dụng vũ khí và một vài bùa ngải gia truyền. Đó còn là một bí mật chỉ được tù trưởng đời này truyền cho tù trưởng đời sau; vị tù trưởng đương nhiệm lại truyền lại cho con trai và con dâu mình mà không truyền cho con gái, bởi các cụ sợ con gái lấy chồng sẽ mang bí mật đó sang nơi khác.

Đến đời Ngọc Dao cũng đã có chút thay đổi nên nàng mới có cơ hội tiếp xúc với những con chữ này, duy chỉ có lề thói lưu truyền cách đọc bộ chữ trong nội bộ cùng huyết thống mà không truyền ra ngoài là không thay đổi. Khi cô hỏi, cả mế và bố đều chỉ đáp những câu giống nhau đại loại như đó là truyền thống có từ thời xa xưa, từ cái lúc Bắc Quốc đô hộ Đại Việt với tham vọng xóa sổ cả cõi trời Nam, biến nơi này là một bộ phận không thể tách khỏi phương bắc. Để đạt được tham vọng bá chủ mấy nghìn năm không thay đổi ấy, việc hủy hoại văn hóa là điều không thể không làm. Bởi không phải vó ngựa, ánh gươm đao thảo phạt mà chính văn hóa mới là chìa khóa vạn năng biến thứ vốn không phải của mình thành của mình. Không còn văn hóa riêng tức là không còn sự khác biệt, đã không còn khác biệt thì sẽ không ai hơi đâu đi chống sự đô hộ làm gì, vậy là thiên hạ thái bình. Tiếc rằng thiên hạ đó là của Thiên triều.

Ông nội Ngọc Dao hồi xưa đã từng kể như vậy bằng một vẻ dè bỉu, khinh thường lẫn chua xót. Rồi sau đó, chắc chắn ông cụ sẽ kẻ tiếp đến đoạn những kẻ đứng đầu An Nam đô hộ phủ* đã làm những gì, đã “sáng tạo” ra những cách trừng phạt ghê rợn thế nào để không ai còn trông thấy bóng dáng, không ai còn dám học hay nhắc đến chữ Khoa Đẩu cùng những thứ thuộc về một nền văn hóa, văn minh nguyên sơ trước khi vó ngựa phương Bắc cày nát đất đai nước Nam. Ông quả quyết trong những năm tháng đằng đẵng đó, nhiều thứ đã mất đến nỗi không thể phục hồi, nhiều điều đã bị cướp đi trắng trợn rồi nghiễm nhiên biến thành tài sản của Bắc Quốc. Cũng may gia đình nàng ở nơi hoang vu hẻo lánh nên việc cất giữ những văn bản cổ xưa đó cũng dễ dàng hơn. Xứ hoa đào cũng không phải là nơi người ta có thể dăm bữa, nửa tháng muốn đến là đến dò xét, bắt bớ tùy ý được. Tuy nhiên chính vì máu của quá nhiều người đã phải đổ xuống để gìn giữ những tài sản vô hình này nên tạo ra tâm lý e sợ cho dân thường, các cụ thủy tổ đành chọn cách chỉ truyền lại cách đọc, viết chữ Khoa Đẩu cho tù trưởng và gia đình ông ta – những người được định phải gánh vác sự nghiệp của tổ tiên – là vì như vậy. Chưa hết, có lần Túc Bình từng dựng Ngọc Dao dậy giữa đêm chỉ để nói với nàng còn một lý do khác khiến số người biết về thứ cổ tự này ít đến vậy. Theo lời thằng em, đó là bởi tất cả những người có thể đọc được chữ Khoa Đẩu đều phải kí kết bằng tính mạng mình vào một khế ước cổ, đảm bảo giữ gìn thứ ngôn ngữ này, không dùng nó vào việc bất chính. Từ thuở hồng hoang đã có một lời sấm truyền rằng, ai giải mã được hết triết lý ẩn sau những hoa văn trên mặt trống đồng và biết cách sử dụng chữ Khoa Đẩu, kẻ đó sẽ nắm được bí mật của các thế giới, sẽ mở ra những điều vô cùng vĩ đại nhưng đáng sợ mà hiện giờ chưa có một ai, chưa có một cộng đồng người nào dám nói có thể khống chế được. Ngọc Dao đương nhiên tin Túc Bình bởi đứa em sinh đôi này tuy rất lười nhác, thờ ơ với truyền thống gia đình nhưng lại là người có thể moi móc được những thông tin vừa chính xác, vừa tuyệt mật không phải ai cũng biết được. Về sau quả nhiên bố nàng bắt cả mấy đứa con kí vào một tờ khế ước dài thật dài đúng y những gì Túc Bình nói. Nó được Ngọc Dao khen chỉ đáp lại bằng một cái nhún vai, trong miệng ngậm cọng cỏ gà bảo đó là thú vui, không hơn.

Chính vì tất cả những lẽ đó, nàng không ngạc nhiên nếu như Nam Khánh hay ai đó ở Quốc sử viện có thể đọc được chữ Khoa Đẩu bởi những người ấy thực sự là những kẻ mà người thường chỉ có thể nhìn bằng ánh mắt ngưỡng vọng. Cái làm nàng ngạc nhiên chính bởi một người như Cảnh Nguyên không những đọc được mà còn đích thân dịch những văn tự đó ra. Hắn không phải quá trẻ để làm việc này hay sao? Dù lớn lên trong Long Phượng thành đi chăng nữa, việc hắn có thể sờ đến những việc này thực khiến người khác sửng sốt.

-Ngươi… sao vậy? Bệnh cũ tái phát sao? – Giọng Nam Khánh vang lên kì quái khiến Ngọc Dao ngoái đầu nhìn lại.

Dáng người mới lúc trước còn điềm đạm, ung dung của Cảnh Nguyên giờ gục xuống. Chàng đưa một tay lên giữ ngực áo, những sợi tóc xõa xuống làm nữ nhân nhìn không rõ gương mặt đó đang mang nét biểu cảm gì. Những ngón tay chàng cầm mép trang sách trở nên trắng nhợt, run lên. Ngọc Dao nhìn cử động của cơ thể Cảnh Nguyên đoán chừng hô hấp của hắn không được bình thường, mỗi hơi thở đều rất nông, rất gấp.

-Xin lỗi làm phiền các vị uống trà.

Giọng nói không âm sắc vang lên sau lưng làm Ngọc Dao theo bản năng đứng dậy, một tay đặt sau lưng sẵn sàng kết ấn lấy ra vũ khí. Nguyễn Thượng điềm nhiên nhìn cảnh tượng trong phòng trà, nghiêng người về phía Nam Khánh, cất giọng khách khí:

-Đại quan Nam Khánh, đã làm phiền rồi.

-Chẳng hay Nguyễn Thượng đại nhân hôm nay vì lẽ gì lại đến quán trà Hồng Mai vậy? – Một thoáng lo lắng ban nãy trên gương mặt vị đại quan bốc hơi sạch sẽ nhường chỗ cho dáng vẻ điềm nhiên. Ngài đặt hai bàn tay lên cuốn sách trước mặt hoàn toàn như thể đó là một chử chỉ thông thường, từ từ đứng dậy, xoay người lại. Ngọc Dao nhìn qua đoán chừng những xấp giấy trên bàn không phải là thứ để người ngoài tùy tiện trông thấy.

-Cũng không có gì hệ trọng, có thứ này chủ nhân sai tôi chuyển đến cho cậu Cảnh Nguyên thôi.

Ánh mắt của người đàn ông tuy không biểu lộ cảm xúc gì đặc biệt nhưng trượt xuống người Cảnh Nguyên vẻ rất chăm chú. Nam nhân ngồi thẳng dậy, một bàn tay vẫn giữ chặt ngực áo, khuỷu tay kia chống lên mặt bàn, bàn tay mở rộng như có ý đợi nhận thứ được Hoàng thái tử gửi đến. Những ngón tay không hề run như lúc trước. Trên gương mặt nhợt nhạt giấu nhệm vẻ tiều tụy là ánh mắt rất lặng và một cái nhếch môi nhàn hạ. Nguyễn Thượng rút phong thư ra, định đưa cho Cảnh Nguyên thì một bàn tay đã đỡ lấy. Nữ nhân khẽ cười, ánh mắt nhìn vị khách bằng một vẻ ngây thơ giả dối.

-Phiền đại nhân quá rồi. Cậu chủ, thư của cậu đây!

Đôi mắt đen của Cảnh Nguyên thoáng chút ngạc nhiên khi Mộc Miên xuất hiện trước mặt mình. Nàng nhận phong thư, quay người lại đặt vào tay chàng, ánh mắt lướt xuống những kí tự trên giấy. Nàng nhìn đến đâu những con chữ ở đó chợt thay đổi, có chỗ biến mất, có chỗ biến thành những chữ khác. Nguyễn Thượng nhìn cô gái dung nhan nhạt nhòa trước mặt, tuy ăn vận khác nhưng vẫn có thể lờ mờ đoán chính là người đã giao đấu với ông ta trên cầu, chỉ bằng một cái ô trắng có thể đỡ lưỡi kiếm sắc bén chém xuống.

-Vậy không phiền các vị nữa. Tôi xin phép.

Người đàn ông đến và đi lặng lẽ như nhau. Nam Khánh nheo mắt nhìn, môi mím chặt lại.

-Đại nhân, không hay rồi. Cậu Cảnh Nguyên bị thương.

Giọng nói trống rỗng của Mộc Miên vang lên bên tai làm nam nhân ngoái lại.

-Sao kia? Là Nguyễn Thượng động thủ?

-Đương nhiên là không phải!

Cảnh Nguyên cười. Giữa kẽ ngón tay đang bấu chặt ngực áo là máu. Máu đỏ tươi ướt đẫm, loang trên nền lụa trắng trông giống một đóa đỗ quyên lớn. Những ngón tay mới chạm vào phong thư đã rụt lại ngay, nụ cười trên môi vẫn y như cũ.

-Mộc Miên, nàng hủy lá thư này giúp ta! – Cảnh Nguyên ra lệnh bằng giọng rát nhỏ nhưng vững vàng.

-Giờ người còn quan tâm đến chuyện này sao? – Mộc Miên quỳ trên sàn nhà, dùng tay đỡ lấy nửa thân người của chàng.

-Vì nhìn nó ta thấy rất ngứa mắt.

Cánh tay tì lên mặt bàn gắng gượng chống đỡ sức nặng của cả cơ thể giờ không chịu nổi nữa. Chàng gục xuống người Ngọc Dao đang quỳ cạnh mình, mắt nhắm nghiền, cả gương mặt tái đi. Hơi thở đứt đoạn, mỏng manh phả vào gáy nữ nhân. Nam Khánh vươn người, đặt ngón tay lên cổ tay thằng nhóc trước mặt, xem xét mạch tượng. Hàng lông mày nam nhân chau lại.

-Thằng bé hôn mê rồi. Mạch không tốt lắm. Tiểu thư… cô…

Lúc nhìn lên, Nam Khánh đã thấy Mộc Miên nhẹ nhàng đỡ Cảnh Nguyên ngồi thẳng dậy, tựa lưng vào bức tường phía sau. Những ngón tay nhanh nhẹn không e dè, kiêng nể cởi khuy áo, nhìn thẳng vào vết thương trên người Cành Nguyên. Áp bàn tay lên miệng vết thương đang chảy máu nghiêm trọng, môi nàng mím lại, mắt nhìn không chớp.

-Vết thương do kiếm gây ra. Ra tay rất dứt khoát, rất có chủ đích. Không nắm vào tim hay phổi của ngài ấy nhưng mất màu rất nhiều. – Mộc Miên nói nhanh, rõ ràng.

-Tiểu thư là thầy thuốc? – Nam Khánh phẩy tay làm những đồ đạc trên bàn biến mất, đặt lên đó một ít tiền – Rồi, giờ chúng ta phải đưa thằng nhãi này về nhà đã.

Ngọc Dao cố tình không trả lời câu hỏi của nam nhân sau lưng. Cắn môi dưới, nhìn bàn tay mình đã nhuộm đỏ máu của Cảnh Nguyên, nàng lắc đầu. Quả nhiên vì hắn là hình nhân, một khi chịu những thương tật thay thân chủ thì không thể dùng phép thuật thông thường để chữa trị, vết thương chắc chắn cũng lâu lành hơn người khác. Ấn cuộn bằng trắng mình hóa phép ra lên miệng vết thương rồi khép vạt áo Cảnh Nguyên lại, Mộc Miên đứng dậy:

-Phiền đại nhân giúp tôi dìu ngài ấy!

 

o0o

 

Đóa hoa đại dập dềnh trên mặt nước loang ánh trăng làm nữ nhân nhớ lại câu chuyện đau đầu hồi xưa khi Túc Bình chỉ trăng nơi đáy nước hỏi nàng thế là có hay không. Khoanh tay trước ngực, tựa lưng vào bức tường, cái nàng nhìn thấy là dáng vẻ lo lắng của ông quản gia tên Đồng đi đi lại lại trước mặt, hai tay chắp trước ngực, miệng lầm rầm khấn vái. Đằng sau cánh cửa gỗ vang lên tiếng thì thầm của Thục Nguyên và Nam Khánh, thỉnh thoảng còn có tiếng chày đá đập vào cối giã thuốc, tiếng những chiếc hộp gỗ được mở ra đóng vào. Nhìn bàn tay đã sạch vết máu dưới ánh sáng trắng của vầng trăng tròn, đôi mắt đen thoáng tư lự, nàng nghĩ mông lung đi đâu. Rút phong thư Cảnh Nguyên bảo hủy đi, chép miệng một cái, nàng định đưa tay lên làm phép thì bàn tay gầy guộc của ông quản gia vội giơ ra cản lại.

-Cô Mộc Miên, cái đó của ai gửi vậy?

-Một người đàn ông tên Nguyễn Thượng ở chỗ Hoàng thái tử chuyển đến cho ngài Cảnh Nguyên. Nhưng ngài ấy chưa cần đọc đã bảo cháu đốt đi giúp.

-Vậy sao? – Người đàn ông thở dài, ánh mắt không giấu vẻ âu lo cam chịu – Lần này đích thân điện hạ ra tay trừng phạt sao?

-Thế là thế nào ạ? – Ngọc Dao buột miệng hỏi rồi vội sửa lại ngay – À, cháu chỉ tò mò thôi, bác không trả lời cũng được.

Nhìn phong thư bốc cháy trên tay cô gái, trong chớp mắt chỉ còn lại một nhúm tro đen rơi trên sàn bị cuốn bay đi tản mát khi một trận gió thổi qua, ông Đồng suy nghĩ rất lâu về cách đối xử của cậu chủ với vị khách lạ này. Nâng lên đặt xuống một hồi, cuối cùng ông đáp:

-Chuyện cụ thể bác không thể nói cho cháu được. Đại khái phong thư ban nãy chính là dấu hiệu cho thấy lần nay chính Hoàng thái tử ra tay gây nên vết thương cho cậu Cảnh Nguyên.

-Hóa ra là vậy!

Ngọc Dao gật đầu. Vậy là nàng đã biết Cảnh Nguyên làm thế thân cho ai, biết chính xác “chủ nhân” mà họ nói đến là người nào. Thế giới này quả thật rất nhỏ, xoay đi xoay lại vẫn dính đến kẻ sắp thành em rể nàng – Hoàng thái tử của Long Phượng thành. Ban đầu nàng nghĩ chính thân bị người khác ra tay nên vết thương mới ứng lên người nam nhân đang nằm trong phòng. Giờ mới thấy tầm hiểu biết của mình quá hạn hẹp. Với kẻ như Hoàng thái tử, phái cả người đến xứ hoa đào để xác định lại thân phận của nàng thì không đời nào chấp nhận chuyện tam vị hộ pháp phụng mệnh đến dạy bảo Cảnh Nguyên mà thất bại ra về. Nàng chỉ không ngờ hắn dám trực tiếp dùng chính thân thể mình để làm tổn thương hình nhân. Chưa phải là Hoàng đế nhưng cung cách hành xử thật khiến người ta có chút e sợ.

Cảnh cửa mở hé. Ông Đồng chạy lại, hơi cúi người trước nam nhân:

-Đại quan, tình hình cậu ấy thế nào rồi?

-Thục Nguyên đã thu xếp xong, ông không cần lo! Thằng bé nói mọi người cứ đi nghỉ đi, nó không sao hết – Nam Khánh cười trấn ai, đoạn đưa mắt nhìn nữ nhân đứng bên cạnh – Mộc Miên, Cảnh Nguyên muốn gặp cô.

-Gặp tôi?

Mang nỗi thắc mắc của mình bước qua ngưỡng cửa, Ngọc Dao đưa mắt nhìn khung cảnh bên trong. Những ngọn nến cháy sáng rực làm căn phòng hiện ra rõ ràng, càng trở nên trống trải. Chính giữa có một chiếc bàn gỗ tròn phủ khăn trải là tấm lụa màu vàng nhàn nhạt, bên trên có bộ ấm trà và những giấy tờ ban nãy ở quán trà Nam Khánh làm biến mất. Một tấm bình phong dựng ngăn bàn nước với nơi có vẻ đặt giường ngủ làm nàng không tiện nhìn qua. Có tiếng bước chân rất khẽ trên sàn gỗ, Thục Nguyên bước ra từ sau tấm bình phong, ngẩng gương mặt đã có lại chút hồng hồng và thần thái bình thường lên nhìn Mộc Miên, cô gái nhoẻn miệng cười:

-Cô Mộc Miên đã về!

“Đã về!”? Cụm từ này cùng vẻ mặt của Thục Nguyên làm nàng có chút xao động vô cớ. Đưa tay lên lau những giọt mồ hôi lấm tấm trên trán, cô nghiêng người tìm cái gì đó cho đến khi Ngọc Dao chỉ vào chiếc hộp gỗ rất to trên ghế mới gật đầu.

-Để chị bê giúp em! – Nàng nói.

Sắn tay áo lên đến khuỷu, Thục Nguyên nghiêng người để Mộc Miên bước qua. Nhìn cảnh tượng trước mắt, nàng chỉ im lặng trong lúc Thục Nguyên cẩn thận lấy từ trong hộp gỗ ra những cuộn vải trắng sạch sẽ đặt lên khay bạc cạnh giường. Trong cái thau bằng đồng là miếng vải ban nãy Ngọc Dao dùng để cầm máu chìm trong làn nước đỏ. Mùi máu tanh phảng phất trong không khí không làm nữ nhân khó chịu bởi nó quá quen thuộc với nàng mất rồi. Nhìn ngón tay thon rất đẹp của Thục Nguyên hơ chiếc kim bạc lên ngọn lửa rồi điều khiển cho sợi chỉ mảnh luồn qua lỗ kim, nàng không khỏi cảm phục. Ban nãy lúc đại nhân Nam Khánh và nàng dìu Cảnh Nguyên về đến nhà, khuôn mặt Thục Nguyên tái dại đi trong một lúc, đôi mắt thất thần. Không hiểu sao dù thế, Ngọc Dao vẫn cảm thấy mọi người trong nhà, nhất là ông quản gia và thiếu nữ trước mặt không xa lạ gì với những hoàn cảnh từa tựa thế này. Giờ trong đôi mắt nâu đen bập bùng ánh lửa vẫn chất chứa nỗi lo lắng phiền muộn không nói thành lời nhưng đã bình tâm trở lại. Thục Nguyên nhìn cây kim, sợi chỉ trước mặt, hít vào một hơi rồi ngồi ghé xuống chiếc sập Cảnh Nguyên đang nằm.

-Cảm ơn cô! – Đôi môi đầy đặn xinh xắn của thiếu nữ khẽ mấp máy khi Mộc Miên cầm cây nến lại gần. Nàng liếc mắt một cái đã giữ ánh lửa thẳng đứng như tạc từ đá trong không khí, cháy sáng rực như ban ngày.

Đặt hai bàn tay lên đùi, chỉ có hai ngón tay trỏ của Thục Nguyên là cử động một cách nhẹ nhàng. Mỗi lần ngón tay đưa lên là cây kim đâm xuống một mũi, khép dần miệng vết thương lại. Ánh mặt cô gái chuyên chú vào công việc của mình, môi mím chặt. Thời gian như chảy trôi rất chậm trong không gian yên tĩnh đến nỗi nghe rõ tiếng côn trùng vỗ cánh ngoài vườn. Năm đầu ngón tay khoát một vòng mềm mại kết thúc những mũi khâu cuối cùng xong xuôi, Thục Nguyên mới thở phào, cầm cây kéo bạc lên cắt chỉ. Cẩn trọng đắp thuốc lên vết thương, băng lại rồi kéo chiếc chăn mỏng lên trước ngực Cảnh Nguyên, cô đứng dậy, cúi xuống định thu dọn những hộp đồ trên sàn.

-Em mệt rồi, để đó cho chị! – Nàng cười nhẹ, mắt liếc nhìn bộ ngân châm trong cuộn lụa hồng và những thứ thuốc bày trong những ngăn hộp gỗ.

-Lúc nãy cảm ơn cô đã sơ cứu kịp thời.

-Xem chừng không phải chỉ mỗi việc xử lý vết thương. Loại thuốc này không phải dùng để trị bệnh tim sao? – Ngọc Dao nhìn lên, trong tay cầm một ít thuốc lá.

-Tim của cậu ấy không tốt lắm, mỗi lần bị thương nặng thế này rất phiền, cũng rất khó cầm máu nữa. Cô Mộc Miên có vẻ biết về y thuật? Ban nãy đại quan Nam Khánh có nói lại với em về những chẩn đoán của cô. Tất cả đều rất chính xác. – Thục Nguyên nhẹ giọng đáp, lời nào cũng rất thật thà, rất dễ nghe.

Nàng im lặng không đáp. Những việc Ngọc Dao làm không phải thứ y thuật như Thục Nguyên sử dụng. Đơn giản đó chỉ là kinh nghiệm sinh tồn bản thân có được sau khi từng lăn lộn trên chiến trường. Nàng hẳn nhiên không học về cơ thể người để cứu người mà học để biết mũi kiếm hay mũi tên nên nhắm vào đâu để kẻ thù trước mặt chết ngay tức khắc hoặc tàn phế suốt đời.

-Ngoài vết thương vừa nãy, chị thấy trên người ngài ấy còn rất nhiều nhưng vết thương khác tuy đã lành nhưng…

Lúc lật vạt áo của Cảnh Nguyên ra, nàng có chút sững sờ bởi chỉ cần nhìn qua Ngọc Dao cũng có thể đoán vết thương nào là do kiếm, mũi giáo, đạn súng trường, do roi vọt… Nàng không nghĩ, không tưởng tượng nổi một người bình thường sao có thể chịu ngần ấy thương tổn. Dù hắn có là hình nhân đi nữa, rõ ràng chủ nhân mà Cảnh Nguyên phục vụ là một kẻ giỏi lắm cũng chỉ có những vết thâm tím do đánh lộn là cùng. Nhưng nếu tính cả thích khách thì… Nói chung hắn là một hình nhân xui xẻo.

Thục Nguyên nghe nói vậy làm thinh không trả lời nên Ngọc Dao cũng không đả động đến nữa. Cô gái lau tay vào chiếc khăn sạch đặt trên hòm gõ, cười rất hiền:

-Ban nãy cậu chủ có nói muốn gặp cô. Nhưng giờ chắc cô phải ngồi đợi thuốc mê tan hết rồi. Cậu còn dặn sách trong phòng cô cứ tự nhiên lấy đọc. Em xin phép. Nếu có gì bất thường cô cứ gọi, em sẽ lên ngay.

Hạ tấm rèm mỏng hai bên xuống che trước chiếc sập gỗ, Thục Nguyên cúi đầu bước ra ngoài để lại mình Ngọc Dao trong phòng. Nàng chẳng biết làm gì, đành đi về phía bàn nước, chậm rãi rà tay lên tờ giấy và cuốn sách để sắp xếp các kí tự lại như cũ. Sau một hồi lật qua lật lại mấy trang sách, ánh mắt Ngọc Dao dừng lại ở tấm bình phong bằng vải voan, bên trên thêu bức tranh thủy mặc có một con sông mờ mờ trong lớp sương mỏng, những dãy núi xám xa xa và màu đỏ cam rực lên của những đóa hoa ngả xuống mềm như thắc đổ. Từng đường kim mũi chỉ đều rất mực tinh xảo, chưa kể đây là một tác phẩm thêu hai mặt, trước sau đều giống hệt nhau. Ngắm bức tranh chán chê một hồi, nàng thờ dài, chống tay lên bàn nhìn đồng hồ nhích từng khắc.

 

o0o

 

Thuốc mê của Thục Nguyên điều chế rất tốt bởi dù cô bé đó có động dao kéo trên người cũng chẳng khiến chàng mảy may cảm thấy, và cũng bởi trong giấc ngủ mộng mị này, chàng biết rõ đầu óc mình đang nghĩ gì.

“Hình như thỉnh thoảng ta lại phải nhắc để ngươi nhớ mình là ai. Cảnh Nguyên, ngươi là hình nhân của ta, là con rối của ta. Chớ có quên vị trí của mình!”

Mấy lời sắc lạnh đe dọa được phong kín trong lá thư, chỉ cần chạm tay vào là có thể nghe thấy giờ lại vang lên trong đầu. So với những gì từng xảy ra trong quá khứ, nội dung vẫn vậy, chỉ khác là được khoác lên bằng mình thứ ngôn ngữ mượt mà hơn mà thôi. Trong giấc mơ này, chàng cũng có thể cảm thấy mình đang nhếch môi cười nhạt nhẽo.

Với pháp sư, phù thủy, có một vài điều luôn là bí ẩn, là bất khả tri với họ như thời gian, cái chết, tương lai. Những giấc mơ tuy không nằm trong số đó nhưng lại là một tấm gương mà tiềm thức mang lại, bắt con người nhìn thẳng vào những phần bản thân thường ngày bị che đậy khéo léo, đào sâu chôn chặt bằng cách này hay cách khác. Hình như có vị pháp sư nào đó chàng gặp qua đã từng bảo: giấc mơ chính là nơi con người yếu đuối nhất. Giờ trước mắt Cảnh Nguyên, giữa màu đen vô tận là hình bóng mờ mờ của một đứa trẻ tầm năm tuổi, mình mặc áo lụa trắng, trên đai lưng là sợi dây tết màu đỏ đính mảnh ngọc xanh xanh. Nó quay lưng về phía chàng nên không nhìn rõ mặt nhưng chàng biết chắc người đàn ông đang nắm tay nó, khẽ khàng căn dặn: “Bình tĩnh con nhé!”; biết chắc người đang nhìn xuống và người đợi đứa trẻ là ai.

“Con sẽ giống như cha, tận trung với quan gia, với triều đình!”

Đứa bé nói nửa thật lòng, nửa học theo những điều nó được nghe người khác nói hàng ngày. Bàn tay người đàn ông vỗ nhẹ lên đầu nó tỏ vẻ hài lòng.

“Khởi bẩm quan gia, thần –  Lý Cảnh Thắng – đã đưa con trai đến trình diện.”

“Ngươi tên là gì?” – Từ trên long ngai truyền xuống giọng uy quyền, xa cách. Hoàng đế ngồi ẩn mình trong bóng tối, chỉ thấy long bào đỏ thẫm thêu hình rồng. Phóng ra từ nơi đó là ánh nhìn như một đường đạn nhắm thẳng vào người.

“Bẩm quan gia, thần là Lý Cảnh Nguyên”

“Chắc ngươi đã biết rõ nhiệm vụ của mình rồi chứ?”

“Dạ, thần đã biết, xin tuân theo sự xếp đặt của quan gia!”

“Tốt lắm!” – Hoàng đế cất giọng hài lòng, nhẹ nhàng đẩy cái bóng bé nhỏ đứng cạnh ngai vàng của mình ra phía trước – “Đây là trưởng nam của ta, Duy Khiêm. Hai con làm quen với nhau đi!”

Đó là một đứa trẻ mặc trên mình những thứ gấm lụa đắt tiền nhất, quý hiếm nhất nhưng dường như bản thân nó không hợp với những thứ ấy. Thân hình gầy gò, thiếu sức sống nhưng lại không tạo cho người đối diện cảm giác yếu đuối, nhu nhước từ từ bước lại. Ánh mắt nhìn xuống đứa trẻ đang quỳ trên thềm điện cho thấy rõ Hoàng thái tử ngay từ lúc ấy đã ý thức được địa vị của mình và kẻ cùng tuổi kia hoàn toàn khác xa nhau.

“Khanh nên làm việc của mình rồi đấy!” – Quan gia nhẹ nhàng lên tiếng không chút nóng vội nhưng trong câu nói lại hàm chứa sự nhắc nhở đầy đe dọa.

Lần này đến người đứng dưới chín bậc thềm rồng yên lặng từ đầu đến giờ cử động.

-Ông nội!

Bất giác, người thanh niên trưởng thành gọi một tiếng rồi tự cười mình. Hóa ra chàng vẫn nhớ những chuyện xa xôi này rõ ràng đến vậy. Sau lần đưa cháu mình nhập cung không lâu ông đã qua đời, đúng như những gì được ấn định trong số phận của một hình nhân. Điều ấy với bản thân Cảnh Nguyên không quá khó chấp nhận. Chàng chỉ không cam tâm bởi lúc ông, bà và mẹ nhắm mắt xuôi tay, chàng đều không thể có mặt, phải ở yên sau tường thành cao vòi vọi, giữa những cung điện nguy nga nhưng lạnh lẽo, xa lạ. Giờ chàng chỉ có thể đôi lần gặp họ trong mơ để tự in những hình ảnh mờ mờ của kí ức vào đầu, để nhớ những người ấy trông như thế nào. Hóa ra lúc chàng trao số phận mình cho Hoàng thái tử và Hoàng đế, ông nội đã già như vậy, đã mang gương mặt che đậy vẻ bi thương, phẫn nộ như thế lúc nhìn cha Cảnh Nguyên. Nghe từ miệng ông quản gia tên Đồng, nam nhân chỉ biết giữa ông nội và cha từ lâu có khúc mắc, mâu thuẫn càng lúc càng khoét sâu hơn khi chàng chọn con đường trở thành thế thân của Hoàng thái tử Duy Khiêm. Còn chi tiết thế nào, không ai nói cho chàng hay.

Những con người trong kí ức hẳn nhiên không nghe thấy tiếng gọi của Cảnh Nguyên, điềm nhiên tiếp tục làm việc của mình. Trong tay ông cụ là chiếc khay gỗ, trên đó có hai mảu giấy đỏ khi tên thật, ngày tháng năm sinh, giờ sinh, nơi sinh của cả cháu trai mình và Hoàng thái tử. Vạt áo quệt xuống sàn đá xanh khi ông khom người, kính cẩn:

-Xin điện hạ cầm đọc và ghi nhớ những điều về Cảnh Nguyên.

Sau khi hai đứa trẻ thực hiện trao đổi những thông tin của nhau, bằng một cái búng tay hai mẩu giấy đỏ lập tức bốc cháy, ông cụ thận trọng lấy toàn bộ tàn tro pha vào chén rượu lớn bằng vàng, bên trên chạm nổi những kí tự giờ Cảnh Nguyên đã nhận ra chính là chữ Khoa Đẩu. Duy Khiêm khẽ nhếch môi cười, uống rượu trước rồi đưa phần còn lại cho đứa trẻ bên cạnh. Không chần chừ, thằng bé cầm ngay lấy, uống cạn. Điều ấy khiến nam nhân bật cười khô khốc như thể tự mỉa mai, chua xót cho mình. Vào lúc hai đứa trẻ nắm lấy tay nhau, ông cụ nâng vạt áo, quỳ xuống nhìn cháu trai:

“Cảnh Nguyên, cháu chấp nhận việc trở thành thế thân cho người này chứ?”

Không biết có phải do ánh sáng hay không mà trong đôi mắt mờ đục của ông lão ánh lên những mong muốn tuyệt vọng rằng đứa trẻ sẽ trả lời “không”.

“Sinh mệnh này xin trao cho chính thân!”

Lời vừa rứt, một sợi dây màu xanh từ cánh tay cậu bé Cảnh Nguyên giống như một chú rắn nhỏ trườn sang quấn chặt cánh tay của Duy Khiêm. Ngược lại, sợi dây màu vàng kim từ cánh tay Hoàng thái tử cũng quấn chặt tay của cậu nhóc sát cạnh. Lúc hai sợi dây mờ dần cũng là lúc phép thuật hoàn thành.

“Bẩm quan gia, thần đã làm xong!” – Ông cụ xoay người lại, cúi xuống bẩm báo.

“Tốt lắm. Việc cuối cùng là kiểm tra, đúng không nhỉ?” – Quan gia cất giọng nói bên trọng như chứa tiếng cười.

Người Cảnh Nguyên gọi bằng cha rũ nhẹ tay áo, rút ra một thanh kiếm bạc rồi nâng cao quá đầu.

“Xin quan gia thử phép thuật!”

Những ngón tay đặt trên tay vịn long ngai khẽ động làm lưỡi kiếm xuất khỏi bao. Ánh mắt Duy Khiếm thoáng hoảng hốt khi thấy ánh sáng nhá lên trước mắt rồi lao xuống. Trên tay áo gấm bên trái là một vết rách dài nhưng trên da tuyệt nhiên không thấy một xây xước nhỏ. Bờ vai nhỏ của đứa trẻ còn lại hơi run lên nhưng nó vẫn đứng thẳng, hai bàn tay siết lại thành nắm đấm. Loang trên bên tay áo trái là một khoảng đỏ thẫm máu tươi.

“Rất hoàn hảo. Ta nhất định sẽ ban thưởng!” – Quan gia cất tiếng cười sảng khoái.

Đó là nỗi đau đầu tiên Cảnh Nguyên phải chịu trong đời. Người ta vẫn bảo những chuyện đâu tiên luôn là những chuyện không quên nổi nhưng đôi lúc bản thân chàng lại cảm thấy không phải. Chàng biết cái đau đầu tiên của số mệnh này, cũng không rõ đâu sẽ là điểm kết, chỉ dám chắc khoảng giữa hai ấn tượng ấy là nhiều điều còn khủng khiếp hơn những nỗi đau thể xác, khủng khiếp đến mức hoàn toàn quên mất cái đêm định mệnh ấy. Nói thế nào đây cũng là điều Cảnh Nguyên tự chọn lấy nên giờ phải tự gánh lấy hậu quả của mình.

 

 

Cảm giác đau đớn trước ngực làm nam nhân mở choàng mắt. Khó khăn lắm mới điều chỉnh lại được nhịp thở, đợi cho đầu óc tỉnh táo lại, Cảnh Nguyên nhận ra đây là phòng riêng của mình. Căn phòng sạch sẽ nhưng không có hơi người, chỉ được dùng khi chàng bệnh không dậy được khỏi giường. Những lúc thế này, cả ông Đồng và Thục Nguyên đều muốn tách chàng ra khỏi công việc; đến cả thằng Bưởi cũng nhất quyết không chịu nghe chàng sai bảo. Mệt mỏi đưa cánh tay lên phẩy nhẹ để gạt tấm rèm mỏng ngăn trước mắt, Cảnh Nguyên đưa mắt nhìn nữ nhân ở trong phòng mình. Quả nhiên nàng rất có nguyên tắc, chưa gặp được người như đã hẹn thì chưa rời đi, cũng không tỏ vẻ sốt ruột hay buồn bực ra mặt.

Mộc Miên ngồi xuống làm gấu váy đen quệt trên sàn. Nàng hơi khom người, những ngón tay cẩn trọng nhặt từng cánh hoa đào rơi đặt vào lòng bàn tay kia. Xong xuôi đâu đấy, nàng đứng dậy, hơi khum bàn tay lại, thổi nhẹ một cái khiến những cánh hoa mỏng mảnh như giấy cất mình bay lên, đính lại vào vị trí cũ. Chạm khẽ ngón trỏ lên từng đóa hoa, từng chiếc lá, cành đào rừng dần tươi trở lại y như lúc nó được đem về từ xứ hoa đào. Cảnh tượng rất đáng yêu, giả như nữ nhân là một người có chút nhan sắc thì đã tạo nên một bức tranh hoàn mỹ. Đôi mắt đen lạnh của nam nhân không chú ý lắm đến cô gái mà dừng lại ở những đóa hoa đào, mãi một lúc sau mới nhẹ giọng lên tiếng:

-Mộc Miên, nàng lại đây!

-Ngài tỉnh rồi! – Nữ nhân ngoái lại, đôi môi thấp thoáng nụ cười có chút xã giao – Xin lỗi vì lúc đó đã tự tiện như vậy. Chỗ giấy tờ ban nãy tôi đã sắp xếp lại y như lúc đầu. Nam Khánh đại nhân để tất cả chúng ngoài bàn, khi nào ngài khỏe hơn một chút có thể kiểm tra lại.

-Nàng mang lại đây giúp ta luôn đi! – Chàng chậm chạp chống hai khuỷu tay xuống mặt gỗ lấy điểm tựa để ngồi dậy. Việc này rõ ràng là gắng sức, làm gương mặt nhợt nhạt đi thêm một chút. Nén tiếng ho, Cảnh Nguyên nhìn lên như có ý hỏi sao Mộc Miên còn đứng đấy.

-Ngài đang đùa đấy à?

-Trông mặt ta giống vậy? – Hàng lông mày hơi nhướn lên. Ánh mắt tuy rất mệt mỏi nhưng vẫn giữ nguyên vẻ điềm đạm vốn có không hề thay đổi.

-À, còn chuyện này nữa – Ngọc Dao đánh trống lảng, vỗ nhẹ tay lên thắt lưng của mình rồi rút ra chiếc khăn tay bọc viên ngọc trai mỹ nhân ngư nhờ nàng chuyển giúp cho Cảnh Nguyên. – Người ta nhờ tôi chuyển cho ngài.

Liếc nhìn viên ngọc sáng màu xà cừ giữa những lớp khăn lụa, trong đáy mắt vẫn tối thẫm một màu, Cảnh Nguyên đón lấy rồi cất vào tay áo.

-Còn chuyện gì nữa không?

Ánh nhìn dò xét, chờ đợi ung dung của nam nhân khiến cô gái trước mặt thấy có chút ngột ngạt. Nhưng bẩm sinh Ngọc Dao không phải kẻ sĩ diện hão, càng không phải loại dám làm nhưng không dám nhận nên sau khi hít đầy hai buồng phổi liền nói một lèo:

-Tuy rằng tôi không cho những điều mình nói với ngài trên cầu là sai nhưng tôi vẫn muốn xin lỗi về thái độ của mình ngày hôm đó.

-Thái độ đó của nàng làm sao? – Cảnh Nguyên cau mày, nghiêng đầu nhìn Mộc Miên đầy thích thú.

Nàng đưa mắt ngó hắn một cái, thở hắt ra:

-Là tôi quá thô lỗ. Chưa hiểu rõ chuyện nên…

-Hiểu rõ chuyện? – Chàng cao giọng hỏi lại như có ý hoài nghi. Ngọc Dao từng chắc chắn như thế nào về việc Cảnh Nguyên không thể là một trong số ít người biết chữ Khoa Đẩu thì bây giờ, Cảnh Nguyên cũng chắc chắn y như thế về việc một cô gái bình thường sao có thể biết về gia đình thế thân.

Cảm thấy mình đã nói hớ, Ngọc Dao cười ngay. Nếu như là nàng lúc trước, nụ cười này thực sự có thể khiến người ta mụ mị đầu óc, tiếc là với nhan sắc bây giờ, đây đúng là một trò cười không hơn không kém.

-Ai cũng có hoàn cảnh riêng mà!

Cảnh Nguyên nhìn người con gái trước mặt thêm một lúc, tưởng như định truy vấn đến cùng nhưng rồi chỉ nói:

-Được rồi, cũng chẳng có gì to tát. Nàng lấy giúp ta chỗ giấy tờ ban nãy được chưa?

Trên sa trường trừ khi trong tình huống cấp bách, không bao giờ Ngọc Dao cho phép thương binh ra trận bởi xét trên một khía cạnh nào đó, việc ấy làm giảm nhuệ khí và gây vướng chân vướng tay cho những người khác. Những người dưới nhà đang lo lắng cho nam nhân này như vậy, dù chẳng quan hệ gì nhưng nàng nhất quyết không thể hùa vào với hắn làm chuyện này.

-Ngài nghỉ ngơi đi rồi hẵng nói. Vết thương trên người cũng đâu có nhẹ. – Ngọc Dao nói rành mạch.

-Nàng lấy hay để ta tự lấy đây?

-Ngài có thể?

-Không thử sao biết!

Nói là làm, Cảnh Nguyên hất chiếc chăn mỏng trên người xuống, việc chuyển tư thế có làm đầu óc váng vất nhưng chàng vẫn cắn răng chịu, hai tay ép chặt xuống mặt chiếc sập gỗ. Cảm thấy kẻ này không những bướng bỉnh lại còn thuộc mẫu người nói được làm được, Ngọc Dao không biết mình nên cảm phục hay nên chửi cho thằng nhóc này một trận. Nhưng đêm đã khuya, nàng cũng thấy hai mắt sắp díu lại, đành xuôi theo chiều gió:

-Thôi được rồi, tôi lấy giúp ngài.

Đặt chỗ sách xuống chiếc bàn nhỏ cạnh giường, Mộc Miên cười nhẹ thay lời từ biệt:

-Chuyện đã xong, giờ tôi xin phép.

-Ai nói nàng có thể đi được?

-Hả?

Tảng lờ vẻ mặt sửng sốt của Mộc Miên, Cảnh Nguyên tựa lưng vào thành giường, tay lật sách, miệng nói:

-Viên trân châu ban nãy ta rất cần trong một vụ mua bán. Nhưng vì nàng chiếm hữu nó hơi lâu nên công việc của ta lỡ dở mất rồi. Mộc Miên, nàng nói xem nên bồi thường thế nào?

Cái tên nhãi này, nếu không phải vì hắn đang bệnh, Ngọc Dao đã cho hắn vài cái cốc vào trán rồi.

-Ngài tính thế nào? – Nàng thấy mình bình tĩnh hỏi dù ngực đã phập phồng tức giận.

-Một trăm lượng bạc! – Hắn nói thản nhiên.

-CÁI GÌ? Một viên trân châu làm gì đáng…

-Trân châu của mỹ nhân ngư. Mà nàng biết đấy, lúc người ta đang cần mà không kiếm được ở đâu có, mình hét giá bao nhiêu cũng vẫn bán được! – Cảnh Nguyên nhẹ nhàng sửa câu nói của Mộc Miên.

Gian thương!

Đúng là gian thương!

Nàng xưa nay chỉ biết đánh trận, có lật tung xứ hoa đào lên cũng chẳng kiếm đâu ra ngần ấy tiền. Đang lúc chưa biết đối đáp thế nào, Cảnh Nguyên đã nhìn lên:

-Ở lại bán thân trả nợ đi!

“Bán thân cái đầu ngươi! Mỵ nương ta đường đường thống lĩnh gần một ngàn binh mã chẳng nhẽ để tên nhãi ngươi dắt mũi?” – Nàng hậm hực nghĩ, môi cười nhạt:

-Tôi không biết pha trà, nấu cơm hay may quần áo. Nói chung tất cả những việc nữ công gia chánh đều không biết làm. Ngài định mướn một con sen như thế đó hả?

Điều này là sự thật.

-Ta không cần nàng làm mấy việc đó. – Cảnh Nguyên cười, đuôi mắt hơi cong xuống – Ta đắc tội với nhiều kẻ nên cũng muốn kiếm người bảo vệ mình. Ai chẳng ham sống sợ chết đúng không? Ta thấy nàng nói điểm này rất đúng.

-Người không sợ tôi sẽ bán đứng người sao? – Ngọc Dao nhướn chân mày hỏi lại.

-Ta đã nói rồi, người như ta không có gì đáng để người khác phải lợi dụng. Tài sản không có, chức tước càng không. Hơn nữa ta tin nàng sẽ không làm như vậy.

-Tin? Thật ngốc nghếch! – Nàng thiếu điều cười lớn.

-Cứ cho là vậy đi. Thực ra ta nghĩ mình mới là người lợi dụng nàng mới đúng, Mộc Miên!

Ánh mắt Cảnh Nguyên nhìn nàng hoàn toàn bình ổn, ám chỉ chuyện thương thảo đã xong và Thân Ngọc Dao hoàn toàn không có khả năng phản kháng. “Chết tiệt, oắt con ngươi đúng là đồ tiểu nhân. Cứ thử cầm kiếm lên xem ta có đánh cho ngươi khóc gọi mẹ không?” – nàng nghiến răng nghĩ thầm.

 

———————————————

chữ khẩu*: (口)

cửa bức bàn*: loại cửa gỗ hình chữ nhật đứng, có bậu cửa cao, thường thấy trong các ngôi nhà, đình chùa Bắc Bộ.

(*): Hai câu thơ mở đầu tác phẩm truyện tranh Tiền duyên của chị Bạch Phụng, đăng trên tạp chí truyện tranh Thần đồng đất Việt (số 16)

Tang thương ngẫu lục*: (chữ Hán: 桑滄偶錄, nghĩa là “ghi chép tình cờ trong cuộc bể dâu”) là tập ký bằng chữ Hán do Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án cùng hợp soạn vào khoảng Lê mạt – Nguyễn sơ, tức khoảng cuối thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 19 tại Việt Nam.

chiêu tuyết*: rửa oan, giải tội

chữ Khoa Đẩu*: hay còn gọi là chữ nòng nọc, là chữ viết của người Việt cổ

An Nam đô hộ phủ*: (Hán tự: 安南都護府) là tên gọi Việt Nam thời Bắc thuộc từ năm 679 đến năm 866, với bộ máy cai trị của nhà Đường trên vùng tương ứng với một phần tây nam Quảng Tây (Trung Quốc), miền Bắc và miền Trung Việt Nam ngày nay, có địa bàn từ Hà Tĩnh trở ra.

Đô hộ phủ (chữ Hán: 都護府) là các cơ quan quản lý các khu vực biên giới của một số triều đại phong kiến Trung Quốc, đứng đầu là kinh lược sứ.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s