[Dã đào lạc cung trung] .7. (1)


(Tác phẩm chỉ là hư cấu)

.7.

Cảnh Nguyên

(Phần 1)

 

Hồ Lục Thủy* rộng mênh mông, nàng ví nó như chén nước giữa lòng kinh thành chẳng qua là kết quả của một cái nhìn âu yếm. Nếu như không có một đường viền xanh mờ của những hàng cây men theo bờ hồ, của những mái nhà của khu phố hàng xa tít tắp, sợ không biết đâu là điểm dừng của vùng nước mênh mang này. Hàng dương liễu buông mái tóc xanh xuống mặt hồ, trong một ngày mùa thu ảm đạm trông càng giống thiếu nữ u buồn. Sắc vàng của lá rơi rụng thành một thảm dày ven hồ là điểm màu tươi sáng nhất, càng làm nước thêm xanh ngắt, thẳm sâu. Nắng chưa lên, một làn sương mỏng trùm lên mặt gương im sóng, trùm lên đôi mắt nữ nhân nhàn tản tựa lưng vào bức tường Tháp Rùa. Mái tóc nàng buông xõa mềm mại, lay động khi gió thổi qua.

-Gương mặt thế này có phải đáng yêu hơn bao nhiêu không?

Lão Rùa thong thả rũ quần áo cho thẳng thắn, đôi guốc mộc bước lên gò đất mọc cỏ xanh rì nghe rất êm. Mắt lão nheo lại, bộ râu và hàng ria trắng như cước rung rung ra vẻ rất hài lòng. Ngọc Dao đưa đôi mắt đen vừa sắc sảo vừa lóng lánh của mình nhìn lão, đôi môi hồng nhoẻn cười. Nàng xưa nay không biết tỏ ra nhu mì thục nữ, vẫn quen lối nhìn thẳng vào mặt bất kì ai với ánh mắt như sáng rực lên, cương trực, không biết mệt mỏi như thế. Hàng mi dày, cong cong cùng ánh mắt sóng sánh như gió thổi mây trôi trong một cái liếc nhìn làm lòng người xốn xang. Có lẽ bởi Ngọc Dao không ý thức được rõ ràng nàng đẹp giống như những cô gái khác hay soi gương tự ngắm mình, nàng cũng không có thời gian cho việc gọt giũa nhan sắc nên mới có thể giữ nguyên dáng điệu này.

-Đúng là nữ nhân lớn lên ở xứ hoa đào, nhìn thế nào cũng giống một đóa đào rừng. – Lão Rùa tiến lại, ngồi xuống cạnh nàng hỉ hả vui mừng – Đào rừng không thể thành đào bích* nhưng cũng có cái hay riêng. Sao nhóc, đến tìm ta có việc gì?

-Ai đến tìm lão chứ? – Ngọc Dao nghiêng đầu, đôi môi cong lên thành một nụ cười nghịch ngợm. Nàng đâu còn là trẻ con, đã qua cái tuổi thiếu nữ lâu rồi (dù dung mạo đúng là đánh đố người khác) nhưng đối diện với lão rùa già lọm khọm này tự nhiên lại cảm thấy mình còn rất trẻ.

-Những pháp sư như ngươi không biết dối trá, không biết luồn lách nói trái lòng mình. Đó là bẩm sinh, nhìn vào mắt ngươi là có thể thấy!

Lão Rùa đưa bàn tay gầy guộc nổi gân xanh với những chấm đồi mồi trên nước da nhăn nheo lên vuốt chòm râu, ánh mắt ngỡ mờ đục do tuổi tác nhìn xoáy sâu vào đôi mắt Ngọc Dao. Nàng thở ra, đan hai bài tay vào nhau, từ từ kể cho lão những điều mấy hôm trước nàng mới biết về Cảnh Nguyên. Tự bản thân nàng trong mơ hồ cũng cảm thấy câu chuyện mình đang kể không có đầu có đũa, không giống cách nói chuyện một là một, hai là hai thường ngày. Chen vào những điều nàng biết là sự thật là rất nhiều những suy đoán, những câu cảm thán trong vô thức buột miệng nói ra.

-Mộc Miên?

-Dạ? – Ngọc Dao tròn mắt nhìn ông già mặc áo rộng bằng lụa đen bên cạnh, bàn tay cầm bầu rượu hơi lỏng ra. Đột nhiên nàng nghĩ dường như từ nãy đến giờ, lão chẳng để lời nào nàng nói lọt vào tai.

-Sao ngươi lại chọn cái tên đó? – Lão chậm rãi cất tiếng.

-Vì màu đỏ như lửa của hoa gạo rất đẹp. Chỉ độc một sắc đỏ trên cành, không lẫn với bất kì màu nào khác. Sao vậy cụ, có gì không tốt ạ?

Cái trán không biết đến đâu là ranh giới với cái đầu hói nhăn lại một cái rất nhẹ rồi giãn ra ngay. Lão ậm ừ trong miệng, lảng sang chuyện khác:

-Bình thường ngươi rất bình tĩnh, đâu thể đem cái đầu bừng bừng tức giận ra chiến trường được, đúng không? Vậy sao đối diện với thằng nhãi kia lại sơ xuất thế?

-Cháu không biết! – Ngọc Dao lắc đầu, không truy hỏi gì thêm ông già trước mặt về cái tên giả của nàng – Có lẽ ban đầu vì cháu không quá để tâm, đến khi nhận ra… Ông biết đấy, nghe kể là một chuyện, đối mặt với một hình nhân sống lại là chuyện khác. Bức bối! Nhìn hắn cháu cảm thấy rất khó chịu, rất bực mình. Cảm tưởng như… bất lực vậy!

Hàng lông mày ông lão chau lại. Hàng ria khẽ động đậy như thể ông định nói gì nhưng rồi lại thôi. Uống một ngụm rượu lớn, lão Rùa trầm giọng:

-Ai sinh ra cũng đều có công việc riêng của mình, như ngươi chọn việc cưỡi ngựa, bắn cung, thống lĩnh đại quân thay vì dệt vải, nấu ăn, chăm con; hay như ta chọn sống trong hồ nước mênh mông này, vểnh tai nghe chuyện thiên hạ. Còn Cảnh Nguyên, công việc của hắn là làm thế thân cho kẻ khác.

Lão ngưng lại, trong tay cầm mấy viên sỏi màu trắng sữa. Mỗi lần ống tay áo màu đen vung lên, một viên sỏi rơi xuống mặt hồ im sóng tạo ra những vòng tròn đồng tâm ngân ra mãi, làm ảo ảnh nơi đáy nước bị xô vỡ.

-Ngươi không phải không biết đến cái chết, ngươi biết rất rõ là đằng khác. – Lão lên tiếng – Chỉ vì xưa nay ngươi lớn lên ở nơi dù có tuyệt vọng đến mấy, dù là khi máu chảy thành sông đi chăng nữa, một khi gươm đã xuất khỏi vỏ, đã đánh là để giành lấy cái sống chứ chưa đánh để lấy chết bao giờ. Bẩm sinh ngươi thiên về sự sống hơn. Đấy là chưa kể ngươi còn phải gánh sinh mạng của kẻ khác trên vai, một bước đi sai thì dù là thiên quân vạn mã cũng thành xương khô hết. Nhưng Cảnh Nguyên thì khác, hắn sống để chết. Với ngươi, sự sống hiển nhiên như thế nào thì với hắn, cái chết cũng hiển nhiên y như thế. Nói ngắn gọn lại ngươi và hắn quá khác nhau.

-Cái đó không cần cụ nói cháu cũng biết! – Nàng cười nhẹ tênh. – Cháu chỉ cảm thấy tiếc cho hắn. Không rõ ràng lắm nhưng… hắn tỏ ra không giống một kẻ bất đắc chí đơn thuần. Chẳng lẽ mối ràng buộc của họ Lý với Long Phụng thành là nhất thành bất biến sao?

-Ngươi là phận thần tử, từ nhỏ biết lời thề tại đền Đồng Cổ*. Theo người có thể nói bỏ là bỏ hay không?

Mấy chữ “Làm con bất hiếu, làm tôi bất trung, xin thần minh giết chết” hiện lên rõ mồn một trong đầu Ngọc Dao bất giác làm nàng thở dài. Có những điều nàng không bao giờ nói trước mặt bố mình, cũng không thể nói với hai đứa em nhỏ, cuối cùng đem tất cả đổ lên đầu Túc Bình. Trong đó có ý nghĩ, có sự hoài nghi máu của tướng sĩ nàng đổ xuống vì quan gia liệu có đáng hay không.

-Sinh mạng một con người, cụ nói xem giá bao nhiêu mới mua được? – Ngọc Dao lặng lẽ hỏi bâng quơ, trong lòng cũng không nghĩ ông lão sẽ trả lời.

Ông già thở dài một cái, nheo mắt nhìn bầu trời, chống tay ra phía sau vẻ nghĩ ngợi:

-Muốn mua sinh mạng của kẻ khác ngoài chuyện ngươi phải vô cùng giàu có ra, nhất định phải có quyền lực… Mấy ngày tới ngươi định làm gì?

-Chắc cháu về nhà thôi. Công việc bỏ lại cho hai đứa em và các phó tướng hơn hai tháng nay đã là quá đáng rồi. – Ngọc Dao nhún vai, chưa nói hết lời thì một chú chim nhỏ đậu xuống vai nàng.

Con chim bé xíu đứng vừa trong lòng bàn tay, nhảy choách choách một hồi, nghiêng đầu, hai đôi mắt như hai hạt đậu nhìn nữ nhân chăm chú rồi cất tiếng hót véo von. Đôi mày ngài cong cong của Ngọc Dao từ từ chau lại. Một tiếng “bụp” nhỏ vang lên, thế vào chỗ con chim ban nãy là một sợi lông vũ màu nâu vàng rất đẹp.

-Cụ có chỗ nào cho cháu ở nhờ không? – Ngọc Dao đột nhiên lên tiếng.

-Nếu ngươi không ngại ẩm ướt thì đáy hồ này rất rộng rãi! – Lão cười hề hề, rõ ràng từ này đến giờ đã vểnh tai lên nghe hết tiếng chim hót líu lo – Sao thế, mỵ nương vẫn muốn lưu lại Thăng Long sao?

Xoay chiếc lông vũ trong tay, nàng chẹp miệng:

-Bố nhờ Túc Bình nhắn cháu đừng về vội, ở nhà đang tiếp mấy vị khâm sai đại thần Hoàng thái tử thay quan gia cử tới, đại ý là dò xét Thân Ngọc Dao. Hóa ra kẻ đó đúng là không phải chỉ biết mỗi việc chơi gái. Lời đồn không đầy đủ rồi.

-Nhà Cảnh Nguyên cũng tốt! – Lão nhún vai, ánh mắt lấp lánh đầy ẩn ý – Ngươi có thể đến đó, vẫn như lúc trước, không thay đổi gì.

Ngọc Dao nhìn lão, lạnh nhạt lắc đầu.

-Là hắn đắc tội với người hay ngươi đắc tội với hắn đây? Đang yên đang lành ngươi mắng hắn như vậy, rõ ràng là ngươi không đúng. Với tính cách của con nhóc như ngươi, không phải nên nhanh chóng dẫn xác đến xin lỗi thằng ranh đó đi?

Trong một thoáng nàng định cãi lại nhưng thâm tâm cũng cảm thấy điều lão Rùa nói là đúng. Bàn tay đặt lên thắt lưng lụa xanh thấy cồm cộm. Viên ngọc trai vẫn còn ở nguyên đó, xem ra cũng là một cái cớ tốt để lờ đi câu: “Không hẹn ngày gặp lại” trên cầu Đông mấy hôm trước. Bàn tay lão Rùa vỗ nhẹ lên đầu Ngọc Dao vẻ cưng chiều:

-Ai cũng có những nỗi khổ của mình. Ngươi cũng vậy. Hắn cũng vậy. Cô bé, rõ ràng là ngươi có ý tốt nhưng đôi khi cần tinh tế một chút. Dù có cầm kiếm đi chăng nữa, ngươi vẫn là con gái kia mà. Thế nên…

Nói đến đấy, bàn tay đặt trên vai ấn mạnh Ngọc Dao chúi về phía trước. Lúc nàng kịp định thần ra đã thấy mình bị lão rùa già nhăn nheo đẩy về đứng trên bờ hồ từ lúc nào. In lên làn nước xanh màu lá thăm thẳm là bóng chiếc thuyền nhỏ ban nãy Ngọc Dao dùng để chèo ra gò Rùa. Một cánh tay lười nhác giơ lên vẫy vẫy. Lão vắt chân chữ ngũ, nằm ngửa trên thuyền, tay kia cầm bình rượu lớn của nàng.

Đúng là gừng càng già càng cay! Tưởng lão tốt đẹp, hóa ra chỉ muốn tranh giành chút rượu với nàng. Vang trên mặt hồ như tấm gương lớn là tiếng hát một bài dân ca bằng giọng ngâm nga nhuốm hơi men của lão già. Cổ chân lão lắc lắc làm chiếc guốc đung đưa, dáng vẻ nhàn tản giữa trời nước mênh mông làm nàng mỉm cười. Vẳng đưa lại là câu thơ tựa hồ như ngậm bên trong một tiếng thở dài.

 

Bắt phong trần phải phong trần

Cho thanh cao mới được phần thanh cao…(*)

 

Ngọc Dao đã rời đi, lọt vào tai mấy lời thơ ấy đột nhiên ngoái lại. Trước mắt nàng chỉ có một khoảng không thênh thang vắng lặng như thể những điều ban nãy chưa từng tồn tại. Chiếc lá vàng đáp xuống mặt hồ làm nét màu xám của mây trời vỡ tan theo sóng nước.

 

o0o

 

Đêm đã khuya. Ánh trăng bạc đậu trên chùm hoa ngoài cửa sổ, rung rung trong gió. Gập cuốn sách lại, Cảnh Nguyên nhìn sang bên, lắc đầu:

-Bưởi, đi ngủ đi!

Thằng nhỏ không biết đã ngồi bệt xuống sàn, tựa người vào bức tường dưới bậu cửa ngủ gà ngủ gật từ lúc nào. Trong tay nó là chiếc quạt lá cọ to bản, trong cơn mơ màng vẫn phe phẩy như nhớ mình đang hầu hạ cậu chủ. Nó nghe thấy mình bị gọi, giật mình mở choàng mắt, khúm núm đứng dậy, không quên quay mặt ngáp một cái rõ to.

-Con không sao đâu. Cậu cứ đọc sách tiếp đi.

-Ta bảo người đi ngủ thì đi đi. Thật là… – Cảnh Nguyên nghiêm mặt nhìn, phẩy tay một cái khiến cái quạt trong tay thằng Bưởi bay vèo lên rồi đáp xuống cái trường kỷ kê gần đó. – Mà khoan đã. Trong túi áo ngươi có cái gì vậy?

Bước chân lếch thếch của thằng bé lết ra đến cửa thì dừng lại. Bưởi cho tay vào túi, chau chau mày như thể chưa nhớ ra nhưng rồi ngay sau đó, nó “à” một cái.

-Lông đuôi của chim bạch trĩ? – Chàng soi chiếc lông đuôi dài, màu trắng trinh mềm mại dưới ánh nến, nhướn mày.

-Là cô Mộc Miên cho con đó cậu! – Mắt thằng Bưởi sáng rực, chạy lại bấu hai tay lên mặt bàn gỗ, nhướn nhướn người như có ý đợi cậu chủ hỏi thêm.

-Sao tự dưng nàng ấy cho ngươi vật này? Bạch trĩ là sinh vật rất quý hiếm, đời nào có ai giựt cho ngươi một sợi lông đuôi của nó. Này Bưởi, không phải ngươi làm gì khuất tất đấy chứ?

-Không có đâu cậu! – Thằng nhỏ dẩu mỏ lên, vẻ ấm ức lắm.

-Ta còn lạ người sao? – Cảnh Nguyên nheo mắt, ánh mắt đen ánh lên những tia nhìn dò xét khiến thằng bé lập tức cúi đầu.

-Thực ra thì cậu nói vừa đúng vừa sai. Là… là thế này. Hôm đó con theo chị Nguyên đi chợ, chị bảo cho con đi xem các quầy hàng, không phải đứng trông gánh chiếu cho chị. Thế là con chơi đánh khăng với mấy đứa trẻ gần đó. Sau đó… sau đó…

Thấy thằng bé ấp úng, Cảnh Nguyên ngồi thẳng dậy, đan hai tay vào nhau, nghiêm giọng:

-Ngươi đã phá hỏng cái gì?

-Không có mà! – Thằng Bưởi ngẩng phắt mặt lên, ai oán – Con chỉ… chỉ xô vào cái lồng phủ gấm xanh người ta mới chuyển lên trên bờ. Rồi… cái chốt lồng bị bung ra. Rồi…

-Bạch trĩ chạy mất chứ gì? – Chàng thở dài một cái – Ta sẽ không nghi ngờ nếu chủ nhân của cái lồng chim ấy xách tai ngươi đến gặp ta bắt đền!

-Nhưng cô Mộc Miên đã giải quyết êm đẹp rồi mà! – Thằng nhỏ cúi đầu, lí nhí trong họng, cố tình cãi bướng – Lúc ý con sợ gần chết, đám kia thì bỏ chạy hết không còn thằng nào. Đang chạy đi tìm con chim đó thì cô Mộc Miên chẳng hiểu từ đâu xuất hiện, lấy tay bịt mồm con bảo chớ có to tiếng. Cô ý bảo để người ta phát hiện thì chỉ có nước chết thôi bởi con bạch trĩ đó là… là cống phẩm sẽ được gửi đến Bắc Quốc.

Đôi mắt đen lạnh của Cảnh Nguyên phản chiếu ánh lửa run run trong gió thu. Chàng chăm chú nghe thằng Bưởi kể, môi mím lại. Thằng bé khịt mũi, tiện tay vớ lấy ấm tích đặt trên bàn, tự rót nước cho mình rồi luyên thuyên tiếp:

-Cơ mà lạ lắm cậu ạ. Mới đấy thoắt một cái con đã chả thấy con chim đâu thế mà cô Mộc Miên chỉ khoanh tay, gọi một tiếng “Ra đây!” là con chim đó chẳng hiểu từ xó nào chạy ngay ra, đứng trước mặt cô ấy.

Cảm tưởng mình kể thế chưa sinh động, thằng Bưởi còn diễn lại vẻ mặt lạnh nhạt bề trên của Mộc Miên lúc đó và dáng vẻ lầm lũi của con chim bạch trĩ khi bị tóm.

-Nàng ấy không nhốt con chim đó vào lồng đúng không?

-Sao cậu biết? – Bưởi ngạc nhiên.

Cảnh Nguyên nghe thấy câu hỏi nhưng không đáp. Chàng cảm thấy Mộc Miên và con chim kia chắc chắn có quan hệ với nhau. Nếu chỉ đơn giản nàng ấy muốn giúp thằng Bưởi thì chẳng vì lẽ gì lại giựt lông đuôi của con chim đưa cho thằng bé.

-Rồi cô Mộc Miên lấy một ít tiền đưa cho con, bảo con đi mua một con gà mái mơ về cho cô ấy.

-Gì cơ? – Cảnh Nguyên mở lớn mắt, đôi môi thấp thoáng nụ cười hào hứng.

Thằng Bưởi dẩu mỏ, vần vò vạt áo, rõ ràng là không vui vì máu tò mò của nó bị cả cậu chủ và vị khách kia chặn lại, nó hỏi nhưng cả hai người họ chẳng thèm trả lời.

-Cô ý không nói rõ lý do, chỉ bảo là nhất định không được để bạch trĩ đến Bắc Quốc. Rồi cô ấy lấy ra thứ gì giống đất sét trắng ấy cậu ạ, nặn qua một hồi biến con gà mái mơ con mua về thành con bạch trĩ đẹp hơn cả con cô ấy ôm trong lòng. Lúc con hỏi làm thế có ổn không, cô ấy bảo… bảo là…

-Nàng ấy bảo gì?

Thằng Bưởi chau mày, vẻ mặt làm như thể phải nhịn cười:

-Cô ấy bảo có chuyện cáo, rắn, đủ các loại con tu luyện thành người được thì chuyện gà mái tu luyện để thành chim bạch trĩ cũng có thể được. Mấy khi một con gà có thể mang dáng vẻ thướt tha trắng toát như vậy. Cô ấy cho con gà giả dạng ấy vào lồng, trùm lại tấm vải gấm xong xuôi thì đám người chắc là làm áp tải từ quán rượu đi ra. Kéo tuột con đi một đoạn, đến chỗ vắng vẻ, cô ấy thì thầm gì đó với con chim rồi tiện tay giật một sợi lông đuôi của nó đưa cho con. Cậu phải nhìn thấy ánh mắt của con bạch trĩ lúc ấy… Hi hi hi… Trông nó rất là phẫn uất mà không làm gì được. Con hỏi mình cầm sợi lông đuôi đẹp thế này có sao không thì cô ấy nhìn bạch trĩ, bảo: “Cho đáng đời!”. Rồi cô Mộc Miên vỗ nhẹ lên đầu con chim một cái, nó biến mất luôn. Chết…

Đang nói thao thao bất tuyệt, thằng Bưởi vội lấy tay bụm miệng, mắt đảo dáo dác.

-Chuyện gì vậy? – Cảnh Nguyên cau mày.

-Cô Mộc Miên dặn… không được nói chuyện này cho cậu.

Đặt tách trà xuống bàn, chàng cười lớn, đưa trả sợi lông đuôi cho thằng bé rồi phẩy tay:

-Ta không biết phải nói sao với ngươi nữa. Thôi, đi ngủ đi!

Cánh cửa gỗ vừa khép lại, nụ cười rơi ngay xuống khỏi gương mặt Cảnh Nguyên. Chàng siết chặt tay, đập xuống bàn. Tệ triều cống đã không dẹp được thì chớ, giờ thật không hiểu đám quần thần ngồi trên tiền thuế của dân học cái gì, làm cái gì mà để đến việc lựa chọn cống phẩm cũng bất cẩn như vậy. Nhưng danh sách ấy buộc phải được quan gia thông qua. À không, cũng như vụ mỹ nhân ngư, đây chẳng nhẽ là chủ ý của Hoàng thái tử?

Lần trước chàng ngăn không để họ đưa mỹ nhân ngư đi bởi không thể làm tổn hại đến tộc nhân ngư, không thể vì họ sống trong thủy vực mà đối xử thiếu công bằng hơn so với con dân trên đất liền. Không có tộc nhân ngư tức là không ai bảo vệ toàn bộ nước của Đại Việt, không ai quản lý cả những vũng nước chỗ thủy quân không thể vươn đến hay biết hết. Hơn nữa trong quan hệ với Bắc Quốc, dâng cống con dân của mình thì khác gì tự xưng thần với họ, khác gì tự thừa nhận mình là kẻ phụ thuộc, bị nô dịch. Chàng luôn nghĩ thà đắc tội với người ngoài còn hơn làm mất lòng dân chúng bởi trong ngoại giao chuyện từ bạn thành thù, từ thù thành bạn diễn ra rất nhanh, có khi chỉ trong một cái chớp mắt. Gọi là “bạn” thế thôi, thực ra phải là “bè” mới đúng nên luôn luôn có thể đàm phán, chỉ cần tìm được một lợi ích chung là lại có thể uống rượu mà anh anh, chú chú như thường. Mà một khi đã không nói chuyện bằng nước bọt được với nhau thì dàn quân, làm một trận sống mái là cùng. Còn đã mất dân, đã thí cái gọi là tự tôn dân tộc thì liệu còn gì trong tay, khác gì ra trận mà quẳng kiếm ở nhà, tự chọn cái chết cho mình?

Việc con chim trĩ này cũng thế. Ai học về nghệ thuật bang giao, nghiên cứu mối quan hệ Đại Việt và Bắc Quốc đều hay câu chuyện xoay quanh con bạch trĩ chính là dấu mốc đầu tiên cho thấy quan hệ qua lại giữa hai nước. Vua Hùng từng sai bề tôi tự xưng là người Việt Thường đem chim trĩ trắng – đặc sản của phương Nam – đến Bắc Quốc để tìm thánh nhân, học lấy cái hay. Hoàng đế Bắc Quốc lúc ấy thấy người Việt hoàn toàn khác lạ với mình dụ rằng: “Chính lệnh không thi hành thì quân tử không bắt kẻ khác thuần phục mình, đức trạch không có cho người thì quân tử không hưởng lễ của người. Giao Chỉ xa xôi ở cõi ngoài, không được xâm phạm đến”(**). Chuyện đã rõ ràng như vậy, tự nhiên mang bạch trĩ đến Bắc Quốc thêm một lần nữa là ý gì?

“Ngươi quá cầu toàn, quá tỉ mỉ, quá để ý thôi. Chuyện ngươi cho là nhỏ thì nó nhỏ, ngươi cho là to thì nó to. Sao không suy nghĩ thoáng một chút, nghĩ đến những thứ lớn lao hơn chẳng hạn? Mà… đây vốn không phải chuyện một hình nhân có thể lên tiếng. Cái bóng thì phải biết im lặng.”

Những lời răn dạy, đe nẹt lạnh như băng vọng lại từ kí ức làm nam nhân chau mày. Cảnh Nguyên nhắm mắt lại, đưa tay lên xoa hai thái dương của mình, trong một thoáng thấy đầu vô cùng nhức nhối. Mất một lúc chàng mới có thể mở mắt nhưng cảnh tượng hiện ra dưới ánh nến có chút mờ nhòa.

-Uống trà đi. Sắc mặt của ngươi tệ lắm! – Một giọng nói đột ngột vang lên bên tai.

 

o0o

 

 

Nam Khánh đến từ lúc nào, tự ngồi lên chiếc ghế gỗ, tự lấy những cuộn giấy trên bàn của Cảnh Nguyên ra đọc, tự rót trà cho mình và rót trà mời chính chủ nhân của căn nhà.

-Đại quan đến từ lúc nào vậy? – Chàng điềm nhiên cất tiếng, nhấp môi vào chén.

-Được một lúc rồi. Thấy ngươi có vẻ không ổn nên không lên tiếng! – Nam Khánh nghiêng đầu, chăm chú đọc những con chữ, đối chiếu hai loại văn bản với hai ngôn ngữ khác nhau, gật gù – Ngươi dịch tốt lắm. Bao giờ có thể xong được?

Cảnh Nguyên đưa mắt nhìn những cuộn giấy, cuốn sách trên bàn, lắc đầu:

-Cũng chưa biết. Những văn bản về thuật cải tử hoàn sinh, trường sinh bất lão, dời non lấp biển… đều ghi chép bằng văn tự cổ, không thể muốn dịch là dịch được ngay. Mà ngài vội làm gì, dù sao chúng cũng sẽ bị xếp vào mục “sách bị hạn chế”, “tuyệt mật” kia mà?

Giương chiếc kính trắng ra xa xa một chút để nhìn cho rõ, Nam Khánh gác chân lên thành chiếc ghế dài, cười:

-Biết là thế. Tuy không thể công bố nhưng ít nhất cũng có thể trích dẫn, nghiên cứu một vài đoạn nào đó dưới dạng lịch sử phép thuật. Có căn cứ khoa học thì vẫn tốt hơn là truyền thuyết đơn thuần. Biết nên công khai cái gì cũng là cả một nghệ thuật đấy.

-Xong rồi ngài sẽ bảo vì văn bản gốc không được hoàn chỉnh, bị hủy hoại theo thời gian, chỉ dịch được đoạn này, đoạn kia thôi chứ gì? – Cảnh Nguyên cười nhạt, tiếp tục uống trà – Nói vậy thôi, những loại phép thuật này đều thuộc dạng nguy hiểm, không thể để nhiều người biết nếu không sự thăng bằng của thế giới sẽ bị phá vỡ. Đó là mệnh lệnh duy nhất quan gia được phép ban xuống Quốc sử viện đúng không?

Nam Khánh lắng tai nghe nhưng không đáp, cũng không tỏ một thái độ gì. Nhiều lúc chàng cảm thấy Cảnh Nguyên thực sự đã trở thành một con mọt biết đủ mọi đường ngang ngõ tắt ở Quốc sử viện không chừng. Nam nhân gác tay lên bậu cửa sổ, mở rộng cánh cửa gỗ thêm một chút để đón làn gió thu mát lạnh thấm đẫm hương hoa đại vào căn phòng chật ních toàn sách là sách của Cảnh Nguyên.

-Sự thăng bằng… Sợ rằng chính người nắm cán cân đang phá vỡ sự cân bằng đó!

Chiếc bút lông đang nằm ngang vững trãi trên ngón tay Cảnh Nguyên đột nhiên chòng chành rồi rơi xuống, để lại một vệt mực đen thẫm trên tờ giấy trắng. Ánh mắt thản nhiên như bầu trời đêm nhìn cảnh tượng đó không biểu lộ một chút cảm xúc, hoàn toàn thờ ơ, đứng bên lề tất cả.

-Ta đến đây muốn hỏi mượn ngươi một thứ! – Nam Khánh một lúc sau mới lên tiếng, chỉnh lại vạt áo cho ngay ngắn.

-Thứ gì? – Cảnh Nguyên nhíu mày, đừng dậy khỏi ghế.

-Mật chỉ tiên đế ban xuống ngay trước lúc ngươi nhập cung.

Nam Khánh không chút ngạc nhiên khi người thanh niên trước mặt chỉ nhìn chàng một lúc, không hỏi gì thêm mà lặng lẽ đi tìm vật đó. Mật chỉ được đặt trong một chiếc hộp sơn son phủ bụi dày, bị nhét vào một xó xỉnh nào đó giữa những tủ sách. Cảnh Nguyên không thèm phủi bụi, quẳng bừa vật đó lên bàn nước trước mặt Nam Khánh. Vị đại quan thấy thế cũng không nói gì, nhẹ nhàng lướt tay trên khoảng không cách cái hộp độ hai đốt ngón tay làm lớp bụi xám biến mất không để lại vết tích. Chàng đặt bộ ấm chén sang một bên, đưa tay lên trước ngọn lửa làm nó cháy sáng hơn. Cảnh Nguyên lãnh đạm nhìn Nam Khánh cẩn trọng mở chiếu thư trên giấy vàng lấp lánh hoa văn, soi lên ngọn nến, trước mắt đeo cái kính cổ quái. Tiếng nước rơi xuống mặt hồ trong đêm tĩnh mịch cũng nghe được rất rõ.

-Nếu đại nhân định tìm đoạn tiên đế viết rằng ngài ra lệnh gỡ bỏ lời thề ràng buộc họ Lý với Long Phụng thành trên mật chỉ này thì không có đâu.

Những ngón tay Nam Khánh cẩn thận đặt nhẹ lên mặt cuộn giấy đang trôi nổi trước ánh nên đột nhiên cứng lại. Chàng tháo chiếc kính với rất nhiều tròng kính đủ các màu có nẹp quanh bằng những vòng kim loại chia độ bằng vàng xuống, trong ánh nhìn có chút sửng sốt. Trái ngược với vẻ mặt ấy, Cảnh Nguyên điềm nhiên như không, tựa lưng vào khung cửa sổ.

-Ngươi biết chuyện này từ lúc nào?

-Sao ngài lại phát hiện ra điều này?

Suy nghĩ một lát, Nam Khánh lên tiếng trả lời trước:

-Mới đây, trong lúc kiểm tra bản sao được chuyển đến kho lưu trữ của Quốc sử viện của mật chỉ này, ta phát hiện một đoạn chữ đã bị bóc đi một cách rất cẩu thả. Tuy hơi khó đọc nhưng vẫn có thể luận ra tiên đế đã chỉ thị rất chi tiết về vấn đề của gia đình ngươi. Còn trong bản gốc này, thực sự quá sạch sẽ, quá hoàn hảo, như thể nội dung ấy không hề có.

-Ngài bỏ công sức ra vậy để làm gì? Đằng nào thì chúng tôi cũng chẳng hề tồn tại. Gia tộc họ Lý ở Đường Lâm chỉ là một gia đình vì vướng vào nghiệp báo nên có toàn những cái chết bất thường. Cái cần tồn tại, cần được ghi chép là Hoàng thất tại Long Phụng thành kia.

Cảnh Nguyên khoanh tay trước ngực, đăm đăm nhìn vẻ tư lự, suy tư của vị đại quan đang cuộn tờ chiếu thư lại. Nam Khánh lắc đầu, cất cặp kính vào trong áo:

-Ngươi nói sai rồi. Người của Quốc sử viện không phải chỉ biết mỗi ghi chép chuyện của Hoàng cung hay những trận chiến. Lịch sử vốn không phải chỉ có vương triều, dòng họ, chiến tranh. Đúng là có những thứ là bí mật của quốc gia, mãi mãi không được mang ra ánh sáng, ví như sự tồn tại dòng họ thế thân cho những yếu nhân. Nhưng ta không thể để những người đó chết một cách không minh bạch như thế, bị lãng quên như thế. Ta không thể làm được gì nhiều nhưng ít nhất có thể chứng minh sự tồn tại này trên những trang sử ta chép.

-Người có thể mất đầu vì những chuyện như thế này đấy! – Cảnh Nguyên cười, in trong đáy mắt là dáng vẻ ung dung nhưng vững chãi, mỗi lời nói ra đều như đao chém đá của nam nhân trước mặt. Bản thân chàng đã rất tò mò không hiểu tại sao một người như Nam Khánh khi tuổi còn rất trẻ đã được sắc phong hai chữ “Đại quan”, thống lĩnh Quốc sử viện, trên có thể phê hoàng đế,  luật pháp, dưới có thể bình phẩm quan lại và đủ chuyện chốn nhân gian. Giờ xem ra cũng đã hiểu đôi chút.

Ống tay áo rộng khẽ đung đưa khi nam nhân cầm tách trà lên, Nam Khánh từ từ thưởng trà, cười nhẹ:

-Đó là công việc ta phải làm cho xứng với những thứ ta được nhận. Hơn nữa, ta cũng tự thấy mình cũng như Quốc sử viện là những thứ không phải cứ muốn là có thể động vào.

Cảnh Nguyên cúi đầu, trầm tư, trong âm sắc nhuốm vẻ mệt mỏi, trống rỗng:

-Đứng ngoài tất cả, không bị ràng buộc… Trên đời này e rằng chỉ có sử quan ở Quốc sử viện và những người tại phủ chúa Tây Hồ, đặc biệt là đại nhân và thế tử Nhất Chi Mai mới có thể sống tự do như thế. Thật giống thần tiên.

Nam Khánh nhìn lên, ánh mắt đen thâm sâu trầm mặc. Xoay chiếc chén trong tay, ngài thong thả:

-Ta không thể hiểu hết chuyện của ngươi, hiểu hết những điều ngươi phải gánh trên vai. Và ngươi cũng không thể biết hết cuộc sống thực của ta và Nhất Chi Mai là như thế nào. Các cụ đã nói rồi, con cá mất là con cá to. Là ngươi tự nghĩ người khác sung sướng hơn mình thôi. Sự thật chưa chắc đã là như vậy.

Phải, lý trí luôn nói với Cảnh Nguyên điều ấy nhưng chàng không thể ngăn bản thân đôi lúc nảy sinh ý nghĩ muốn nổi giận, đập phá tất cả. Nhưng xét ra, đó chỉ là sự tuyệt vọng, không hơn. Vén tà áo ngồi xuống chiếc ghế đối diện Nam Khánh, chàng chậm rãi nói:

-Tôi biết chuyện này qua lời kể của Quách thái giám trước khi ông ấy qua đời.

-Quách thái giám? Là Quách Tần, nội quan thân cận nhất của tiên đế? – Nam Khánh ngạc nhiên.

Cảnh Nguyên gật đầu, áp tay lên bình trà đang nguội để hâm nóng lại nó, đưa tay khêu bấc đèn lên khỏi đĩa dầu.

-Ban đầu tôi thấy rất ngạc nhiên khi ông ấy đến tìm gặp tôi ở cung Long Đức. Chỉ thấy Quách Tần nói vội vàng rằng nhân có việc Hoàng hậu giao mà ra ngoài Long Phụng thành, dặn tôi khi cùng Hoàng thái tử nhập cung thỉnh an các bậc bề trên thì ghé qua chỗ ông ấy. Sau đó, sự việc như ngài đã biết. Mật chỉ ngoài chuyện ban thưởng đất đai, nhà cửa cho gia tộc họ Lý, nói cách khác là trả giá cho những tính mạng các bậc bề trên đã mua còn có một đoạn nữa nói về chuyện tiên đế ra lệnh cho quan gia đang tại vị lúc này thay ngài gỡ bỏ lời thề của gia đình tôi với Long Phụng thành; cho phép chúng tôi được lựa chọn chấp nhận hoặc từ chối cuộc mua bán để trở thành thế thân cho Hoàng thất.

Nam Khánh đứng dậy, chắp tay sau lưng đi đi lại lại trong thư phòng. Mãi một lúc sau chàng mới lên tiếng:

-Máu của gia đình họ Lý nói không ngoa rằng bao nhiêu đời nay đã tưới ướt ngai vàng tại điện Kính Thiên, giữ vững Đông cung*, chưa kể phải hy sinh không ít để bảo vệ các trọng thần của triều đình hay những nữ nhân được quan gia yêu thương hết mực. Rõ ràng dù gia đình ngươi có thành tâm trung thành hay vì lời thề trung hiếu của bậc bề tôi mà phải tuân lệnh, tiên đế vẫn luôn sợ sau khi đoạt mạng quá nhiều người để giữ Long Phụng thành không nghiêng ngả mà tạo nghiệp chướng về sau nên mới ra chỉ dụ như vậy. Quách Tần trung thành với tiên đế đến thế, bất chấp quan gia mà nói chuyện này cho ngươi chắc chắn bởi muốn tâm nguyện cuối cùng của tiên đế có thể thành hiện thực.

-Nhưng sự thật thì không phải vậy. Nếu Quách Tần không nói cho tôi biết thì đây sẽ chỉ là một chuyện hoang đường bởi dòng họ Lý ở Đường Lâm phải đời đời phụng sự người làm chủ điện Kính Thiên, không được phép hai lòng, không được phép từ nan. Sự việc đã đến thế này, muốn lật lại cũng rất khó.

Cảnh Nguyên nghiêng đầu nhìn đóa hoa đang tàn úa trên cành. Đúng là rời khỏi xứ hoa đào, nó không thể sống được, không thể mãi mãi xanh tươi. Những cánh hoa mỏng như tờ giấy ướt nước lúc khô đi, nhăn nheo lại, chuyển sắc nâu vàng. Sắc đỏ hồng phai nhạt chuyển sang màu đỏ tím thẫm.

-Là… quan gia đã ra tay sửa đổi di chiếu sao? – Nam Khánh đè giọng mình xuống nhẹ như một tiếng gió.

Nam nhân thản nhiên gật đầu, đôi môi lại thoáng nở nụ cười:

-Theo như tôi suy đoán thì là như vậy. Quan gia không tin ai, những chuyện hệ trọng đều đích thân ra tay để không có sơ hở. Sự thay đổi này của tiên đế, có lẽ người không chấp nhận được. Trên đời chắc chỉ có một sự thật là gia tộc thế thân phải tồn tại song song với sự trường tồn của điện Kính Thiên và Long Phụng thành mà thôi. Chỉ cần chúng tôi còn sống thì các yếu nhân sẽ được toàn mạng cho đến khi Tử thần đích thân đến gặp họ. Dù sao thì…

Những ngón tay cứng rắn đặt lên cuộn giấy, để lại bên dưới những nếp nhăn rõ nét. Cảnh Nguyên cất vật đó vào hộp gỗ, vừa làm vừa lên tiếng vẻ tưng tửng, phớt đời:

-… so với tổ tiên mình, tôi xét trên một khía cạnh nào đó cũng đã thoát khỏi số phận này. Chỉ cần Cảnh Nguyên không kết hôn, không một đứa trẻ nào mang họ Lý được sinh ra nữa thì mối ràng buộc này cũng sẽ tự kết thúc.

-Sẽ thật như thế? Ngươi có thể thoát được?

Nam Khánh đặt chén trà xuống bàn, ánh mắt đăm đăm nhìn thẳng đầy ngờ vực. Chàng sống đến từng này tuổi chẳng nhẽ còn để một thằng ranh như Cảnh Nguyên qua mặt hay sao. Để thực hiện thuật hình nhân trên một cơ thể sống, bắt buộc phải trao đổi giờ giấc, ngày tháng năm sinh và cái tên thật của cả hai người tham gia vào thứ phép thuật này. Người đứng ra mua tính mạng là chính thân, kẻ bán tính mạng trở thành cái bóng. Không cần nói cũng biết ai là người nắm dao đằng chuôi. Bị người khác giữ trong tay ngần ấy điều thật về bản thân mình, liệu có thể tự do hay không?

-Không phải tôi đang ở bên ngoài, sống một cách rất bình thường sao? Dù sao quan gia cũng đã giữ lời hứa với ông nội tôi, năm mười tám tuổi trả lại cho tôi tự do.

Trên mặt nước của chén trà đã nguội lạnh trước mặt là hình bóng mờ ảo của một người khi cười chỉ có miệng cử động, còn ánh mắt muôn đời hờ hững, dửng dưng. Chàng thích cười đơn giản vì không khóc nổi, không biết khóc là gì, cũng chẳng biết phải khóc cho ai. Khóc cho bản thân mình thì không được bởi với chàng, số phận này là một sự nực cười.

-Ngươi thực sự không có nuối tiếc gì sao? – Nam Khánh nhìn cậu thanh niên trước mặt, trầm giọng hỏi. – Người như ngươi đáng nhẽ phải đứng ở quan trường, trở thành bậc đại quan giúp nước, giúp nhà mới đúng.

-Tiếc thì sao? Mà, không tiếc thì sao? Tôi liệu còn có một sự lựa chọn khác?

Câu hỏi này của Cảnh Nguyên quả nhiên đại quan Nam Khánh không trả lời nổi, chỉ biết lặng lẽ uống trà, lặng lẽ lật từng trang sách mà không một chữ nào lọt được vào đầu. Gió thổi qua làm những lá cờ nhỏ xíu trên chiếc sa bàn quân sự đặt giữa thư phòng lay động. Cảnh Nguyên sau một hồi đứng quay lưng về phía vị khách, chăm chú ngắm nhìn cái ao vuông dưới cửa sổ thư phòng mình từ từ quay lại. Ngón trỏ của chàng vẫy nhẹ một cái làm lá cờ cắm ngoài một hòn đảo xa ngoài khơi chuyển mình từ màu xanh viền đỏ thành sắc trắng – màu của Bắc Quốc. Đại quan nhìn cảnh tượng đó, cất giọng hỏi:

-Sao ngươi làm vậy? Sự việc còn chưa ngã ngũ mà?

-Ngã ngũ? Ngài còn mong đợi ngã ngũ điều gì nữa? Hay ngài đợi quan gia tự mình tuyên bố hòn đảo này thuộc Bắc Quốc chăng? Từ lúc động thái ngoại giao yếu ớt cuối cùng về vùng tranh chấp tính đến nay đã hơn một năm trời. Người của ta không thể ra đó, thủy quân càng không thể ra, cũng chẳng còn một tờ báo nào dám nhắc đến chuyện này, đó không phải là một câu trả lời quá rõ ràng rồi sao?

Đôi mắt đen lướt khắp lượt mặt sa bàn, quét đến đâu một loạt những lá cờ ngã rạp xuống.

-Đó là những điểm sẽ mất tiếp theo? – Nam Khánh đứng dựng, tiến lại gần.

-Chắc chắn là vậy. Dựa theo động thái của Bắc Quốc, hòn đảo Ngọc ở cực Bắc chỉ là thuốc thử phản ứng của Thăng Long. Một khi chúng ta không rõ ràng, chúng sẽ được đằng chân lân đằng đầu, quét xuống một loại những đảo ngoài khơi xa, đặc biệt là những đảo nằm ở vị trí thông thương với nước ngoài như Sư Tử, Thanh Long, Bạch Hổ. Chiếm được chúng tức là chiếm được thị trường. Xong xuôi, đương nhiên chúng sẽ nhắm thẳng vào thánh địa của tộc nhân ngư để đớp gọn toàn bộ vùng biển Đông. Chưa kể vùng biên giới trên đất liền phía cực Bắc… xem ra họ Thân ở xứ hoa đào và các tù trưởng bộ lạc liên minh lại sắp có dịp cưỡi ngựa xung trận rồi.

Cảnh Nguyên khoanh tay trước ngực, tựa người vào thành sa bàn nhìn xuống, môi chỉ khẽ cử động nhưng từng lời nói ra chắc chắn, vững vàng. Bàn tay Nam Khánh bám chặt vào thành gỗ đến mức trắng bệch, ngài hít thở rất chậm, mãi mới lên tiếng:

-Thế gọng kìm, gây sức ép từ cả biển lẫn đất liền sao? Chuyện này… những điều ngươi nói… Hôm nay thượng triều, Võ hiển điện đại học sĩ* Lý Bình Trọng cũng có bản tấu trình lên quan gia y như vậy.

-Ồ, vậy sao? – Nam nhân đáp một cách máy móc. Chàng đưa tay mở mặt đồng hồ Tây treo trên tường, chỉnh lại kim giờ của nó cho đúng – Đại nhân Bình Trọng, là cha của Lý tướng quân, Lý An – tả thân vệ điện tiền chỉ huy sứ?

-Chính thế. – Nam Khánh gật đầu – À, ta quên mất cả hai cha con nhà họ đều là thầy của ngươi, thẩm nào… Nếu đã đến nước này, chỉ cần đợi tin tình báo để xác minh lại, liệu quan gia có thay đổi sách lược hòa hoãn, thương lượng ban đầu?

-Đây không đơn giản là chuyện quan gia muốn dùng phương kế hòa bình thay vì muốn động binh. Phải nói quan gia để yên như vậy bởi việc này có liên quan mật thiết đến tôn thất và thể diện của Thăng Long.

-Ý ngươi là sao?

Vị đại quan nhìn vẻ mặt thản nhiên của Cảnh Nguyên, dò xét. Từng lời tên nhãi ranh nói ra đều rất cẩn trọng, không một từ nói thừa, không một chữ dùng sai. Bên trong vẻ lớt phớt vô định, hắn vẫn là hắn của trước đây, lặng lẽ quan sát mọi thứ và tự đưa ra chủ ý của riêng mình. Chỉ là ít lời hơn hồi còn nhỏ, không còn thoải mái nói ra những suy tư trong đầu, thay vào đó cân nhắc hơn, khép kín hơn. Nam Khánh tin nếu không phải chàng quá biết Cảnh Nguyên, có cạy răng thì hắn vẫn giả vờ làm thằng ngốc một cách toàn diện, chẳng quan tâm đến việc gì. Đặt một tay ra sau lưng, nam nhân bước đi trong thư phòng vừa nói, vừa nghĩ nên nhịp điệu giọng nói rất chậm:

-Sợ hãi, né tránh đối đầu với Bắc Quốc chỉ là một lý do. Tôi nghĩ phần nhiều là do quan gia biết giờ không thế thu phục toàn bộ nhân tâm, kết thành một khối trên dưới thống nhất như ngày trước. Giờ ra lời hiệu triệu dân chúng mà không được đáp lại như ý muốn, chẳng hóa tự làm bẽ mặt mình, chẳng hóa tự vạch áo cho người xem lưng, trông rõ sự thảm hại của xã tắc. Xưa nay nghệ thuật dụng binh của ta vốn không bao giờ chỉ dựa vào quân đội của triều đình. Không có được dân chúng, chắc chắn thảm bại ngay từ lúc chưa xuất quân. Vậy nên quan gia vẫn tự cho đất đã mất ở vùng biên viễn, chẳng phải ở ngay Thăng Long hay tại những thương cảng lớn như phố Hiến, Hội An hoặc các vịnh quân sự quan trọng nên không cần quá quan tâm. Mắt nhắm mắt mở cho qua cũng được.

-Cách giải quyết?

Nam Khánh đan hai bàn tay vào nhau, gác lên mặt bàn nước, cất giọng đưa đẩy câu chuyện. Chàng biết rõ người thanh niên đang ở trước mắt mình sau một hồi cân nhắc nguyên nhân nặng nhẹ, tình hình trên dưới, trong ngoài chắc chắn đã tự vạch ra đối sách chu toàn. Có điều, xưa nay tất cả chỉ là lời nói, chưa bao giờ được áp dụng với tư cách là kiến giải của Cảnh Nguyên. Quan gian từ trước luôn làm ngơ coi như không nghe thấy, chỉ khi một vị đại thần nào đó trong triều trình bản tấu y như những gì Cảnh Nguyên nói, ngài mới từ từ suy nghĩ, từ từ làm theo như sợ bên trong có ẩn tình gì hòng mưu hại triều đình. Điển hình như việc mở cửa thông thương, trao đổi hàng hóa, tư tưởng với phương Tây là điều thằng bé này nói ngay từ lúc nó tiếp xúc với những người trên những thuyền buôn đỗ tại cửa Hà Khẩu. Nhưng về sau, không biết phải qua bao nhiêu bản tấu, bao nhiêu kế sách chi tiết Đông các đại học sĩ Chu Ngọc chỉnh lý, biên tập lại từ những ý tưởng ban đầu của Cảnh Nguyên, quan gia mới chậm chạp cho thi hành, thi hành cũng rất hạn chế.

-Chỉ có mấy chữ “Dân dĩ thực vi thiên”*. Quan trọng là quan gia có muốn làm hay không vì quả tình muốn thực hiện năm chữ này, ngài phải ra tay chỉnh đốn triều cương, quan lại từ trên xuống dưới. Làm xong tự khắc có thể khởi binh dẹp loạn, đàng hoàng đối đầu Bắc Quốc.

Cảnh Nguyên gác bút, đưa tờ giấy dó với những con chữ vuông vắn còn tươi nguyên màu mực, nét nào cũng cứng cáp, rõ ràng nhưng để lại ấn tượng khoáng đạt cho Nam Khánh. Đại quan đón lấy tờ giấy, lẩm nhẩm đọc lại dòng chữ rồi mỉm cười. Nói năm chữ này dễ cũng đúng, khó cũng đúng bởi việc lo lắng cho những vấn đề thiết thân, cụ thể như cái ăn, cái mặc… của dân chúng không phải ai cũng làm được tròn trịa. Phần thường do lối nghĩ những chuyện này quá tủn mủn, quá thấp kém không thể sánh được với những ý tưởng vĩ mô bay bổng bên trên như chuyện chính trị, bang giao, thơ phú… Ai ngờ được đâu rằng chính những nỗi lo cơm áo nhỏ bé ấy, ai lo được cho thiên hạ tất sẽ có được thiên hạ, có thể dùng thiên hạ thực hiện những công trình kì vĩ của mình.

Cuộn tờ giấy lại, Nam Khánh đứng dậy, cười cười:

-Nữ nhân của ngươi đâu?

-Ai kia? – Chàng cau mày, lạnh nhạt.

-Cô gái ngươi giúp bên bờ sông, tự bảo đó là người của mình.

-Đi rồi.

-Là ngươi đắc tội với nàng ấy? Nói thế nào nhỉ… nhan sắc… cũng bình thường, cỡ như người có thể tìm được người khác hoành tráng hơn – Đại quan gật gù cái đầu ra vẻ ưu tư, quan tâm sâu sắc.

-Chẳng hay dạo này quan hệ của đại nhân với nữ nhân trong lòng thế nào?

Cảnh Nguyên đột ngột đổi chủ đề, ánh mắt đen ánh lên vẻ tinh tường, nửa như có ý trêu chọc.

-Đó không phải việc của ngươi.

-Vậy đây cũng không phải việc của ngài.

-Thôi được rồi, thôi được rồi. Ta về đây!

Lúc Nam Khánh rời đi, trời đã rất khuya nhưng dường như đến tảng sáng, đèn trong thư phòng mới tắt.

 

“Cảnh Nguyên, nghe cha nói này… từ bây giờ con sẽ sống trong cung, sẽ cùng cha thực hiện nghĩa vụ, công việc của gia đình mình với Hoàng thất. Con không được sợ, chỉ nhớ phải trung thành, tuyệt đối trung thành mà thôi!”.

 

“Chỉ cần cháu nói mình không muốn đi, ông nhất định sẽ nghĩ cách để bảo vệ cháu. Cảnh Nguyên, đây không phải chuyện lo hương hỏa tổ tiên để lại… Chỉ là… Cháu còn nhỏ, sau này giả như muốn chọn một con đường khác thì đến lối quay về cũng không có. Số phận này một khi đã chọn, chỉ có cái chết mới có thể chấm dứt. Cháu thực sự muốn làm sao?”

 

“Mẹ không cần biết, mẹ nhổ vào cái gọi là trung quân ái quốc. Nước nhà thì sao mà hoàng thất thì sao? Mẹ có thể mất cha con, mẹ cũng có thể đem đổi tính mạng này, chỉ cần con phải sống, nhất định phải sống. Đừng đứng trong bóng tối nữa, con chọn điều khác kia mà!”

 

Những kí ức bị cắt nát, trở thành những mẩu rời rạc nhưng bện xoắn vào nhau như sợi roi da quất xuống da thịt trần chớp nhoáng hiện về trong giấc ngủ đầy mộng mị. Cảnh Nguyên choàng thức dậy, thấy toàn thân ướt đẫm mồ hôi. Cơn đau đầu làm cảnh tượng trước mắt hiện ra chòng chành, khiến nhịp thở cũng không ổn định.

 

Từ bỏ? Có những điều đã thuộc về con người chàng ngay từ lúc mới sinh ra, từ bỏ nó tức là từ bỏ bản thân mình. Giả như không hiểu lý lẽ này, có lẽ Cảnh Nguyên đã không sống như vậy. Khổ nỗi đời lại chẳng có chữ “giả như” nên quả tình, chàng không biết phải thu xếp cuộc đời mình thế nào cho ra hồn một con người.

-Cậu chủ, cậu đã dậy chưa? Thục Nguyên mang nước rửa mặt cho cậu.

Giọng nói nhỏ nhẹ vang lên sau tiếng gõ cửa rất từ tốn. Chàng đưa mắt nhìn chiếc đồng hồ. Quả nhiên là Thục Nguyên, mọi việc đều rất tỉ mỉ, đều rất chính xác khiến người ta không thể không cảm thấy hài lòng, yên tâm. Đưa tay lên lau những giọt mồ hôi còn vương trên mặt, nam nhân bước xuống giường, chỉnh lại trang phục trên người, nói khẽ bằng chất giọng bình ổn thường ngày:

-Em vào đi!

 

————————————-

hồ Lục Thủy*: tên gọi khác của hồ Hoàn Kiếm

đào bích*: một giống đào với màu hồng đậm, thường được mua về trưng trong nhà trong dịp Tết

đền Đồng Cổ*: ngày nay nằm trên đường Thụy Khuê, thuộc phường Bưởi, quận Tây Hồ, Hà Nội, thờ thần Trống Đồng, được xây dựng từ đời vua Lý Thái Tông. Quy định rằng cứ đến ngày mồng 4, tháng 4 hàng năm, làm lễ “Minh thệ” (ăn thề) tại đền này, cho lập đàn, cắm cờ xí tại đền. Các quan có mặt đều phải uống rượu có pha máu của các loài vật và đọc lời thề : “Làm con bất hiếu, làm tôi bất trung, xin thần minh giết chết”, những ai không có mặt trong buổi lễ ăn thề sẽ bị phạt đánh. Các vương triều Trần – Lê vẫn duy trì nghi lễ quốc gia này.

(*): trích từ truyện Kiều – Nguyễn Du

(**): dựa theo truyện “Chim bạch trĩ” trong Lĩnh Nam chích quái

Đông cung*: nơi ở của Thái tử

Võ hiển điện đại học sĩ*: một trong tứ trụ triều đình, giống Bộ trưởng Bộ quốc phòng.

“Dân dĩ thực vi thiên”*: dân lấy ăn làm trời

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s